vhnt_bnr.gif (16671 bytes)

 


 
                      VNI version | VIQR versionFont problem (VNI)   |
* Comments for this issue









Số 527
4 April 2001

MỘT CÕI ÐI VỀ (*)
Trịnh Công Sơn
(1939-2001)

tcs_by_chinh.jpg (30144 bytes)

 

(Trịnh Công Sơn, qua trí nhớ Ðinh Trường Chinh, phác họa 4.1.2001)



NỘI DUNG:

THƯ VHNT:
ÐINH TRƯỜNG CHINH: Cảm nhận Trịnh Công Sơn

THƯ TÍN:
Phạm Thiên Mạc & Thanh Thư phụ trách

PHẦN ÐẶC BIỆT TƯỞNG NIỆM TRỊNH CÔNG SƠN:
Trịnh-Công-Sơn-của-tôi: Ðằng kia góc phố, Bên kia đời / Nguyễn Phước Nguyên
Ngõ ve^`/ Nguyễn Tư Phương
Ephemeral - Phôi Pha, tưởng niệm TCS / ianbui
Cho một người vừa nằm xuống / Hoàng Tường Anh
Ôm lòng đêm / Thận Nhiên
Một lần gặp Trịnh Công Sơn / Phạm Thiên Mạc
Trịnh Công Sơn Như cánh vạc bay / Nam Dao
Những ngày Trịnh Công Sơn / Nguyễn Quốc Trụ

THƠ:
Tình Em, O Huế Trần Huy Sao w Những Bài Thơ Ngắn Trong Ngày Thận Nhiên w Moon Shines on Ocean's Waves / Trường Ðinh w Trăng Toả Sóng Ðại Dương  w Ðịa Chấn Trầm w Những Người Ðàn Bà / Viết Xuôi Nguyễn Văn Thọ w Ðêm, Góc Quán Nguyễn Tư Phương w Lục Bát Cho Người / Soi Gương Nhiên An w Thăm Chùa Bảo Lâm Hồ Ngạc Ngư /font>w Còn Gì Bùi Tĩnh w Người Kỵ Sĩ Nguyễn Cao Thăng w Mời Nhau Kỳ Thư w Phôi Pha Lê Vũ Thúy Ái w  Mỹ Tho Tưởng Nhơồng Hoang w Ngã Rẽ Nào Tôi Bước Phi Yên w Tuổi Mộng Mơ Y-Thy w Mùa Xuân Yêu Anh Giọt Mưa w Nắng Ve༯a> Minh Nhất w Giọt Ðêm Dị Khuê

TIN VĂN:
JENNIFER TRAN:
Ngọa Hổ Tàng Long: Giấc mơ Trung Hoa;
                     Phỏng vấn Cynthia Ozick;
                     Hội thảo về Tự thuật, Tiểu sử, và Hồi ức
                     Tác phẩm "Ði về nơi hoang dã" của Nhật Tuấn ...

ÐIỂM SÁCH:
NGUYỄN QUỐC TRỤ:  Những Cây Cọ Dại (Ðọc Gió Ngược của Lâm Chương và Tình Ca Con Dúi của Nguyễn Thị Thảo An) (Phần 3)
LƯƠNG THƯ TRUNG: Ðọc truyện ngắn của Trần Thị NGH.
PHẠM VĂN TIÊN: Ðứng dưới trời đổ nát và một bản vịnh Kiều của Phan Xuân Sinh


DIỄN ÐÀN VĂN HỌC NGHỆ THUẬT:
RAINER MARIA RILKE: Thư Gửi Một Nhà Thơ Trẻ (thư  6)
(Phạm Thị Hoài dịch)


TRUYỆN NGẮN / TÙY BÚT / SÁNG TÁC:

NGUYỄN XUÂN THIỆP: Những cánh én
PHẠM THẾ ÐỊNH:
Gương khốn
THẢO TRẦN:
Heo thừa vú
LUNXIN'ER:
Trời chưa sáng
(Nguyệt Trinh
chuyển ngu+~)

LÊ MINH HÀ:
Ði le

NHỊ KHUÊ:
Khúc rẽ (truyện thật ngắn)
HẠC TÚ:
Ơn đền oán trả

 



 

tcstop.jpg (16088 bytes)

"Sống ở đời này chỉ có thân phận và tình yêu.
Thân phận thì hữu hạn. Tình yêu thì vô cùng.
Chúng ta làm cách nào nuôi dưỡng tình yêu
để렴ình yêu có thể cứu chuộc thân phn trên
cây thập giá Ðời.
" (Trịnh Công Sơn)

1939-2001

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từ trần vào lúc 12g45 sáng Chủ nhật, 1 tháng 4, 2001 tại Sài Gòn. Anh sinh ngày 28 tháng 2, 1939 tại Ðắc Lắc, quê quán Huế. Trịnh Công Sơn là tác giả hơn 500 bản nhạc, là nhạc sĩ làm thơ trong nhạc, là người viết "tình ca" đẹp nhất thế hệ VN hiện nay. Trịnh Công Sơn đã trở về "cõi trăm năm xa xăm cuối đời". "Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, rồi một mai tôi về làm cát bụi ..."
Xin thông báo cùng bạn đọc tin buồn, và xin thắp một nén hương tưởng niệm anh...

[VHNT sẽ làm một số phụ trương đặc biệt tưởng niệm nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, với nhiều bài vở phong phú hơn. Mời bạn đóng góp bài vở và đón xem trong tuần tới.
Xin gửi bài về vhnt@vanhocnghethuat.org
. ]

-o-

CẢM NHẬN TRỊNH CÔNG SƠN, 28.2.1939 - 1.4.2001


Vẫn nhớ mãi hình ảnh cuả người nhạc sĩ mong manh, gầy gò, nhắm mắt ôm đàn guitar hát về một chiếc lá thu phai . Về một thân phận , một cõi đời rồ dại và thiết tha . Xiêu vẹo quá đôi chân ông trên con hẻm say Duy Tân . Chiếc xe gắn máy màu cam đâu đó thoáng bóng dáng ông trên những con đường lá xanh Sài Gòn . "Ðường đến anh em, đường đến bạn bè" . Những ngày ông ngồi trên lầu cao nhìn xuống thấy phố mưa Sài Gòn như một dòng sông uốn quanh. Và làm sao không "nhớ vài lần những má môi xinh" ấy...

Cuộc sống thu nhỏ lại trong Trịnh công Sơn . Cuộc đời lớn rộng và mênh mông trong nhạc ông. Dù hôm nay ông đã thu mình bé lại, làm mưa tan giữa đất trời, hay làm một đốm lửa nhỏ nhoi nhóm trong vườn tược trần gian thoáng hiện thoáng mất này - nơi ông đã một lần xem như chốn "Trọ", nơi ông đã nhận chân ra được ý nghĩa của Vô Thường.

"Bước tới Hư Vô,
khoac áo Chân Như,
long lanh giọt lệ,
giọt lệ Thiên Thu."


Vô Thường đẹp như một đoá hoa .
Trần gian này chưa bao giờ là vô nghĩa với người nhạc sĩ du ca này cả.
Vì ở đó ông đã đập nhịp thở chung với Tình Yêu, Quê Hương, Hoà Bình, Chiến Tranh, Bè Bạn, Phố Phường, Cỏ Cây,... và những chữ viết hoa khác, cho đến khi nhịp thở đã tắt . Một tháng Tư năm Hai Ngàn Lẻ Một, trên quê hương Việt Nam.

Ðiệu kèn của người thổi saxo bên quan tài ông bây giờ thật sự đã nghe buốt trong tim bạn bè và người yêu mến Trịnh Công Sơn .

Khi ông ra đi, nhiều người dường như nhận ra ông thật lớn lao .
Tôi thì thấy ông như thu mình lại .
Giữa đám đông, cuộc chơi, môi xinh, tóc đẹp, tôi cảm thấy ông thật cô đơn . "Bỏ mặc tôi buồn giữa cuộc vui" . Chữ "bỏ mặc" nghe thật bạc lòng !

Mà người nghệ sĩ nào lại không cô đơn với trần gian, cho dù vẫn thiết tha yêu lấy nó như yêu lấy một điều gì còn đẹp đẽ - Cái đẹp được nhìn thấy bằng cặp mắt của con người sống bao dung, vì nghệ thuật.

Hạnh phúc và khổ đau của kẻ hát rong đi qua miền đất này, bây giờ đã thành máu mủ của những người đã được nuôi sống bằng những tác phẩm tuyệt đẹp Trịnh Công Sơn.
Xong rồi một kiếp rong chơi . Trong thiên thu ông lại lãng du đi qua một miền khác . Biết đâu có một thế giới nào đó bình yên hơn trần gian này ?

Ðinh Trường Chinh
2.4.2001

 

 

 

Trả lời thư tín và tham khảo y’ kiến bạn đọc
Thanh Thư và Phạm Thiên Mạc phụ trách

Hỏi:
Bạn co’ thể tìm giu’p tôi một cuốn sách tựa là "Người lữ hành cô đơn" ( truyện
dịch) bán ở đâu , tác giả , dịch giả là ai, kể cả bản tiếng Anh tên là gì. Cám ơn.
Bình

Ðáp:
Cuốn sách bạn hỏi có thể là cuốn "Người Lữ Hành Cô Ðộc" của Constantin Virgil
Gheorghiu; tác giả các cuốn "Giờ Thứ Hai Mươi Lăm"' "Lối Thoát Cuối Cùng", "Kẻ Ăn
Mày Phép Lạ" Chúng tôi không rõ dịch giả là ai. Bạn co’ thể tìm thử ở các thư viện
dươ’i đề mục tên ta’c giả, hoặc cá nhà sác Nam Cali như Nhà sa’ch Văn Khoa. Tél:
(714)892-0801 hay nhà xuất bản Văn Nghệ Tél : (714)934-8574
Có một cuốn sáh trùng tên với cuô’n bạn hỏi , nhưng của bên công giáo, bạn co’ thể
vào đây tìm đọc tại: http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/luhanh.htm


Thư của bạn Tranhuysao:
Kính gởi BBT VHNT,
Tôi đã đọc những sô’ qua, râ’t phong phú về nội dung. Sẽ cộng ta’c đều đặn với quý báo.
Kính.
tranhuysao

Chào bạn TranHuySao,
Cám ơn bạn đã cộng tác đều đặn với VHNT trong mấy số qua; mong bạn tiếp tục trong tương lai. thân.

Phạm Thiên MạcThanh Thư (BBT - VHNT)

 


tuongniemTCS.gif (17924 bytes)

TCSHUE.gif (53312 bytes)


Trịnh-Công-Sơn-của-tôi
Ðằng Kia Góc Phố, Bên Kia Ðời...




I.
tôi chưa hề quen ông, nhưng ông rất quen tôi,
đi đi về về với từng ngõ ngách tim tôi.
tôi chưa hề trò chuyện cùng ông, nhưng ông tâm sự cùng tôi,
rất nhiều, khi tôi một mình trong tĩnh lặng, như bây
giờ.



II.
hồn nhiên tôi, ông nâng niu.
băn khoăn tôi, ông thấu đáo.
phẫn nộ tôi, ông vỗ về.
chán nản tôi, ông rủ rê.
vô thường tôi, ông cảm thấy.
yếm thế tôi, ông nhận chân.
miệt mài tôi, ông tích tụ.



III
năm nào tôi dẫn vợ con đi nghỉ hè với thiên nhiên. một buổi sáng, tôi dẫn con ra chỉ cho cháu xem núi xanh có tuyết phủ đỉnh cao. tôi vừa chỉ, vừa cắt nghĩa. một lúc sau, tôi nhìn xuống, con tôi không màng đến cảnh thiên nhiên hùng vĩ, cũng chẳng nghe lời tôi nói. cháu đang nhìn chăm chú một con sâu đang bò trên thân mỏng một loài dã thảo, chầm chậm tiến về phía nụ hoa.

cái tôi yêu ở ông là thế. tài hoa, nhưng vẫn phải nhạy cảm để nhìn ra cái ngẫu nhiên giữa cái đương nhiên. triết lý, nhưng vẫn phải tinh tế để bắt được cái vô thường trong những tia chớp bình thường.

tôi yêu nhạc ông là vậy. trong cái thông hiểu của một người biết chiêm nghiệm để thu thập, ông vẫn, cùng một lúc, là đứa trẻ thơ với những ý nghĩ hồn nhiên và ngộ nghĩnh. và sống được hai tâm hồn ấy trong một lúc, hay ít ra trong nhạc của ông. chúng, những ca khúc đó, là hiện thân của cả hai, cùng một lúc.

cái hay, cái bén nhạy, cái tinh vi, ai cũng nghe ra.

riêng tôi, yêu lắm những câu hỏi, những ngôn từ, những y 鮧hĩ thiết tưởng chỉ có những đứa bé mới bật ra, và cũng chỉ những đứa bé chúng đặt ra với nhau:

em đi qua chuyến đò lắng nghe con sông nằm kể
trăng ơi, trăng rất tệ, mày đi nhớ chóng về

tôi vẫn nhìn thấy em giữa đám đông xa lạ
vì em như chim trắng giữa trống đồng bước ra

đời sẽ cho lộc và đời sẽ cho hoa
em suối kia rất ngọt và tôi đứng hai bờ
đời sẽ cho lộc và đời sẽ cho hoa
em líu lo bên đời dạy tôi biết xa gần

em là ai? em là ai?
tôi tìm hạt bụi bay trong cuộc đời
tuổi mười sáu, xanh cho mọi người


thằng bé xinh xinh ra đông giữa ngọ
mặt kia lồ lộ mang ý yêu tinh
yêu tinh cùng diều cùng diều bay quanh
vươn tay chào mừng từng loài chim quen
mê man trời hồng vượt đồi lên non
lên cao mịt mùng


tôi như trẻ nhỏ ngồi bên hiên nhà
chờ xem thế kỷ tàn phai



IV.
ông ra đi, có nhiều tiếc nuối.

nhưng tôi tin, ông không bận bịu, không vấn vương.

từ khi con người đó thôi không làm nhạc nữa, hoặc nếu có,
từ khi không phổ biến nhạc của mình nữa,
     con người đó đã chia tay cùng những gì mình tác tạo.
     không chối bỏ chúng, nhưng không quyến luyến chúng.

người đi, nhạc ở lại trong lòng người nghe. là điều hẳn nhiên.

nhưng trái tim âm nhạc đó, với tôi, đã một hành trình mới
về nơi
     nhạc không là âm thanh, mà là sự lặng thinh
     lời ca không là ý niệm, mà là cái vô ngôn của tri duy.

thường, không ai nghe được.
nhưng nếu cảm nhận được sự dứt khoát sáng tạo đó,
     thì ca khúc mới ấy vẫn miên trường.


V. KẾT
tôi viết những dòng chữ này lúc vào khuya bên châu Mỹ.
ngay bây giờ, bên kia, tiễn đưa bắt đầu, xót thương hồng thủy.

    (tôi vẫn nghe giọng hát ấy cất lên trong cõi thinh lặng,
     giữa những tiếng khóc đang níu kéo, hoài
             những nỗi buồn đau.)

riêng tôi, tôi vẫn nghe, vẫn thấy, vẫn tâm tình cùng trái tim
ấy -
trong giấc ngủ ngoan của con tôi trong vòng tay mẹ cháu,
       (giọt nước mắt thương con, con ngủ me mừng...)
trên vài chiếc lá vàng còn sót lại trong khu vườn bắt đầu
vào xuân,
       (đôi khi thấy trên lá khô một giòng suối...)
và ở mỗi tao ngộ,
mỗi góc phố,
mỗi con đường,
mỗi chia ly,
mỗi tang thương,
mỗi hạnh phúc,
mỗi...
      mỗi...
               và muôn vàn mỗi cái-mỗi khác
đã
đang
và sẽ đến với chúng ta...


này Chinh,
này Lan,
và này Tú...
có nghe chăng?...

         "hắn" vẫn đứng...
           đằng kia góc phố, bên kia đời -
              " ... tiếng ru mẹ hát những năm xưa
                     mãi là lời ca dao bốn mùa
                     tìm thấy nỗi nhớ từ mỗi chiếc lá
                     góc phố nào cũng thấy quê nhà...
"


hắn vẫn đứng.
đằng kia góc phố,
          bên kia đời.
vẫn hát
          cho từng nỗi-khốn-khó-an-thường
trong mỗi chúng ta.


Nguyễn Phước Nguyên
4 tháng 4, 2001
atnguyen@ev1.net


ngõ ve༯big>tcs_kly1.jpg (44762 bytes)

... những hẹn hò
từ nay khép lại
thân nhẹ nhàng như mây ...
TCS.

sông về
sóng gõ nhịp, khuya
đóa hoa chợt khép
nụ, chia ngõ
về
qua rồi,
... thôi
những cơn mê
tâm, thân
hạt bụi
trầm
lê cõi người

ra về
nhẹ
tựa cánh chim
chiều,
bay theo vạt
nắng nghiêng, vô thường !

Nguyễn Tư Phương
04/2001.

 


 

 



Ephemeral
- Phôi Pha, tưởng niệm TCS

Run away, away to the past -- and from your fears.
In a way, the love that you cast away was
The last defense for your tears.

Yoúre away, a song for a while -- farewell, sing Ị
In a way, the love that you hide away deep inside
Will conquer the years.

The curse that you wear,
The curtain you tear,
The cross that you bear!
No one dares to answer your prayers
(When no one believes, no one cares)

Come away, my love, come away and face your fears.
In a way, your battle is past --
Íll comfort and cast away all your tears.

4'2001
ianbui






Cho một người vừa nằm xuống



tcstop.jpg (16088 bytes)
Nhận tin anh mất vào sáng chủ nhật bên này bờ đại dương, ah hôm nay là ngày April fool, ngày nói dối, tin dối. cứ tin như vậy đi. nhưng vẫ lo ... phaỉ kiểm lại đã. thôi chết ! tin thật mất rồi. thẫn thờ cả buổi, tin trễ, đến đã quá 7 giờ đồng hồ để nghiệm như nhà Phật dậy rằng thân tứ trụ của con người đã rã, anh rời cõi tạm, trọ ở trần gian này một thời để bây giờ. về nơi không có . Chạy vào Net tìm Monologue #11: Inside a Psycho's Head của ÐT, nghe tiếng bom, đạn, trẻ thơ, giọng hát Khánh Ly . đi lùi vềquá khứ. cuộn phim quay ngược .. . nhớ .

Anh đi, xong vẫn còn ở lại, có lẽ sẽ trọ mãi trong lòng những người đã yêu mến anh. Cái dấu ấn sâu đậm của một thời đã qua, anh đã cho thế hệ trẻ rất nhiều trong quá khứ, trăn trở, khắc khoải trong chiến tranh, đam mê trong tình yêu màu nhiệm. Thế hệ cha ông thường mang câu Kiều ra ngâm nga trong lúc nhàn rỗi giải sầu, tự cảm. Thế hệ sau, những người trẻ lớn lên trong lúc chiến tranh khốc liệt thì nhạc anh lại là một tri âm, tri kỉ . chúng tôi đã bám víu vào ấy để sống, để nhận thức và ghê tởm sự tàn bạo của chiến tranh. để chia sẻ nỗi đau, bất hạnh của dân tộc, của thân phận con người và nhất là tìm được tình người trong muôn vàn nỗi lo âu, bất trắc .

Viết vài dòng cho anh thay như lời cám ơn của một thế hệ đã nợ anh quá nhiều ... thôi nhé .xin cho một người vừa nằm xuống ... thấy bóng thiên đường cuối trời . thênh thang .


Hoàng Tường Anh





ÔM LÒNG ÐÊM



tcs3.jpg (10829 bytes)Tôi khởi đầu ôm lòng đêm vào năm hai mươi tuổi. Mưa đã tạnh trên con sông trôi ngang thành phố. Vài con đò thấp thoáng ánh đèn hột vịt giữa dòng. Một chút trăng. Tiếng búa gõ sét từ vài con tàu đang được sửa chữa neo dọc theo bờ. Quán rượu nghèo mái lá, ly chén bề bộn, bàn ghế lỏng khỏng, chỏng chơ. Và tôi, hai mươi tuổi. Ôm lòng đêm! Thở rền, dội âm u lồng ngực. Dạo đó, mỗi khuya về chỗ ngủ nhờ qua đêm là một Phôi Pha. Bấy nhiêu năm mới vỡ ra rằng mình chỉ yêu một bài Phôi Pha của Trịnh Công Sơn đã là quá nhiều. Vỡ ra rằng mình bàng hoàng quá độ bởi ba chữ "Ôm lòng đêm..." - "Ôm" không là choàng tay, vòng tay, gói lại, ôm giữ lấy đối thể "lòng đêm". Mà là một mở tay ra. Vì đối thể "lòng đêm" lớn quá, hoang mang quá, huyễn hoặc quá và bất trắc quá.

Ðêm máu chảy ruỗng buồn tâm thất mơ hồ chạm tay vào một điều gì chẳng thể hiểu, chẳng bao giờ nhận biết. Tôi chạm mặt hư vô. Ðêm dậy hương con gái tóc người tình đẫm ướt nước mưa. Tôi run rẩy gà con mới nở. Ðêm lăn theo vòng xe dưới vòm cây tối. Ðêm tóc xanh mấy mùa (*) say khướt em ơi ai say đất lở. Ðêm biển Nha Trang, nhìn vầng trăng mới về (*) , cái hữu hạn con người mở tay, cách tuyệt vọng, ôm lấy vô cùng vũ trụ.

Cuộc đời có lẽ đã rẽ vào lối nào khác nếu những ngày mới lớn tôi không nghe, không đọc, không hít thở hô hấp mê muội lú lẫn vì những khát khao rồ dại xước lòng ấy. Không phải rằng chỉ lúc nào bất ưng với hiện tại con người mới quay tìm quá khứ. Quá khứ dẫu lắm lúc tối tăm nhưng vẫn chờ tôi ở mỗi chặng đường và tôi thấy mình luôn hào hứng tìm về. Có lẽ, vì ở đó có tuổi trẻ tôi, có tóc xanh mấy mùa tôi... Tôi mở cửa sổ. Dọc theo con đường ngoài khu chung cư đổ những giọt đèn vàng. Như lệ của đêm. Thôi về đi. (*)

Tôi nhìn lên đồng hồ. 12 giờ 5 phút. Chấm hết lá thư này vì bây giờ là lúc bước chân nào cũng về từ vườn khuya của mười bảy năm trôi xa khuất biệt.


THẬN NHIÊN


*trích nhạc TCS




Một lần gặp Trịnh Công Sơn


tcs65.jpg (40505 bytes)Tôi còn nhớ rất rõ đó là năm 1971, tôi 17 tuổi, đang "kinh sử" để sửa soạn cho đợt thi tú tài phần thứ nhất. Buổi tối vào khoảng cuối tháng 5 Dalat, một thằng bạn tìm đến nhà và hỏi: "Mày có muốn tí nữa đi nghe TCS hát bỏ túi không?". Tôi nghe mà vẫn chưa tin vì ở VN lúc bấy giờ, thật là vinh hạnh lớn cho 1 thiếu niên như tôi có dịp đi nghe tận mắt TCS hát [bây giờ nơi hải ngoại này thì khác, ta có thể gặp bất cứ 1 "thần tượng" nào khá dễ dàng].

Nghe kể rằng chủ nhân ngôi nhà vốn là 1 nhà nông "bất đắc dĩ" - chán Saigon, ổng bỏ lên Lạc Lâm, 1 quận lỵ cách Dalat khoảng 30 cây số, nơi đó ổng trồng trọt qua ngày - cũng kiểu như nhà văn Nhất Linh đã 1 thời lên Dalat để tìm hoa Lan. Vào lúc đó, TCS cũng "lang thang" lên DaLat và họ quen nhau nơi "đồn điền" ở Lạc Lâm.

Cũng nên nói một chút về cái "không khí" thời ấỵ.. Nhạc TCS lúc bấy giờ đã là một "hiện tượng" lớn trong vòng khoảng 5 năm trước đó, nhất là ở các đô thị trong giới sinh viên và học sinh. Ảnh hưởng nhạc TCS mạnh đến nỗi đã có lúc chính phủ ra sắc lệnh cấm hát nhạc (phản chiến) TCS nơi công cộng, nhất là ở các quán nước... Thời gian đó tôi thường "đóng đô" ở 1 quán bên hồ Xuân Hương Dalat, đối diện cái cầu có tên là "Ông Ðạo" - nơi TCS đã bất chợt nhìn dòng nước mà có cảm hứng để làm thành bài hát "Có 1 dòng sông đã qua đời"... Trong quán nước này, bạn có thể đến yêu cầu cô thâu ngân viên trẻ đẹp chơi băng nhạc theo bạn muốn - tôi và mấy thằng bạn quái thường hay đòi nghe nhạc TCS - lúc bấy giờ các bài hát trong 2 tập nhạc Kinh Việt Nam và Ca Khúc Da Vàng đang thịnh hành lắm... Lời hát "đại bác ru đêm" phải được nghe đúng vào trong thời điểm ấy, nếu không thì đã giảm mất 50% cái hay của nó...

Buổi chiều nắng tàn trên mặt hồ Xuân Hương với cái không khí của 1 mùa thi đầu đờị.. ngồi quán nước ngắm giai nhân mà nghe chiến tranh vọng về qua tiếng nhạc... cứ tưởng tượng như không khác gì lắm với cái không khí hậu phương của một thời Âu châu khói lửa trong truyện của Remarque.

Trở lại buổi tối tháng 5 năm 1971. Bọn nhóc đám tôi khoảng 7 thằng kéo đến nghe TCS hát bỏ túị Trong nhà đã có khoảng 10 "người lớn" [người lớn đây tức là TCS và số bạn của ông, họ hơn tôi khoảng 15 tuổi].

Ðám nhóc chỉ được ngồi xa xa nghe chứ không được phát biểu gì... Tôi còn nhớ rõ hôm đó TCS đi với 1 cô gái (partner) rất đẹp, rất đợt sống mới... tôi nghe đám nhóc xì xào cổ là 1 giáo sư Anh văn ở Saigon. Quả nhiên tí nữa tôi thấy có lúc TCS đi đến gần cổ, họ nói với nhau 1 câu ngắn bằng... tiếng Anh. Tôi thấy ngộ hết sức.

TCS đã bắt đầu hát mấy bài, bây giờ tôi không còn nhớ là những bài gì... đến 1 lúc tôi nghe TCS hỏi người chủ nhà "Anh Thọ, anh mơ uớc gì... hòa bình phải không nào" - rồi TCS hát 1 bài tiếp, bây giờ nghĩ lại chắc bài đó phải là 1 bài ước vọng hòa bình.

Tôi nhớ trong lần gặp mặt đó là TCS rất đẹp trai [cũng như những hình chụp trong các tập nhạc], hiền lành và ăn nói nhỏ nhẹ, tuy nhiên ổng cũng rất thích đấu hót chứ không phải là kiểu "hiền như bụt" mà không nói năng gì...

Tiếc rằng lúc đó tôi còn bé quá, không được tham dự vào đấu hót với người lớn, thành ra không nói được với TCS câu nàọ.. Nhưng cũng chả sao, những lời ca của TCS tôi thuộc đã 30 năm trước - chắc chắn tôi cũng sẽ vẫn còn nhớ tiếp thêm 30 năm sau; nh vậy thì "tâm giao" của tôi với TCS là không quá đủ hay sao ???

Cho dù đã bay đi một cánh hạc.

Phạm Thiên Mạc




TRỊNH CÔNG SƠN NHƯ CÁNH VẠC BAY


trinhcson.gif (45819 bytes)

1_
9.45 ngày 31-03-2001
Ðến Hiển, viết cho Sơn trên trang đầu cuốn sách mới in "...kéo thời gian về phía mình". Linh tính sục dậy. Viết thêm "...kéo thời gian về phía đời sống". Ngần ngừ, tái bút "...đợi mình sang năm về...". Tối hôm 30, cả bốn cô em Sơn vội vã bay về. Máy bay ngừng lại Alaska để sửa. Quái ! Hãng nào. Air Canada. Chợt nhớ cách đây trên mười lăm năm, Sơn viết "Về với nhau đi. Mình hết thời gian rồi !". Tự nhủ cho vững bụng " ...có sao đâu. Mụ già định mệnh chưa gọi đâu".
Nhớ Trần Dần, anh bảo không có gì chống nổi cái kim đồng hồ. Rồi lỡ hẹn với Dần, ông " cọp" ngày, gầm gừ suốt nửa thế kỷ những lạc quan đen, những hạt bụi xổ ra trong mưa phùn.

Bấy giờ, tôi ở góc Mentana và Duluth thành phố Montreal. Ðêm qua trời lại đổ tuyết, thứ tuyết trắng đến đầu Xuân không ai mong đợi. Nó thừa thãi. Nhưng vẫn trinh bạch. Như một tà áo trắng. Như một cánh vạc bay.

2_
9.30 ngày 01-04-2001.
Anh đấy à ? Anh Sơn đi rồi. Hồi 1.30 sáng. Hả ? Bốn cô em ở kẹt ở Hồng Kông chưa về kịp. Tim Sơn ngừng ba lần. Rồi lại đập. Lần thứ tư thì thôi. Nó mệt. Yêu quá cũng mệt. Thương quá cũng mệt. Yêu thương quả là mệt. Yêu thương rồi hát, dĩ nhiên mệt. Trong cô đơn, hát rồi uống. Lại càng mệt. Mệt đến độ không còn co thắt theo nhịp vũ trụ. Thôi nhé, bung ra. The big bang. Cho toang. Cho tan vào chất hư vô, thành tố cấu tạo yêu thương. Ôi cuộc đời ơi !

11.30h.
Gọi Vũ. Vũ ơi, anh Sơn đi rồi. Bây giờ em qua đường nhìn xe cẩn thận. Trời đất hỡi ! Hiển cứ mang sách anh tặng Sơn, viếng mộ rồi đốt. Ðó cũng là một cách hóa vàng. Gọi Trịnh Cung : mình biết rồi ! Thôi, Cung về. Nhớ nhé, sang năm moi sẽ gặp. Ờ, ờ... biết thế nào được. Thì đợi. Ðừng ai vội hóa vàng cho ai.

3-
13h.
Hôm nay sinh nhật con tôi. Bạn bè cháu đến mừng. Tiếng đàn trẻ thơ. Bài folklore của người Pháp " dưới ánh trăng", hỡi bạn Perrault. Hỡi Sơn ! Cho tôi mượn cây bút. Tôi xin viết thêm một chữ. Ngọn nến tôi cầm đã tắt. Lửa nhóm cũng tàn. Hãy mở cửa, bằng tình nhân ái của mọi đấng thần linh. Hãy mở cửa, hãy mở cửa. Có phải cửa thiên đường ? Lại văng vẳng lời Cung : Sơn nó sống có nhiều nỗi khổ. Thôi, mong nó đi an nhiên. Ừ thì thế vậy. Gọi Ðinh Cường. Vẫn không có ai đầu dây nói. A, những lúc cần an ủi lẫn nhau !

4_
13h30.
Ðóng cửa phòng. Tiếng động đời sống xa dần, mất hút. Bỗng thèm nghe Khánh Ly hát Người con gái da vàng. Băng nhạc cũ rè rè tiếng xưa về một thời xa xưa, thời hát yêu quê hương những yêu đồng lúa chín. Nhớ về một đêm mưa, trú với Sơn, nhìn con đường Phạm Ngũ Lão góc chợ Thái Bình ( xưa ). Dưới hàng hiên độ lượng, mưa trên trút rào rào. Con đường sủi tăm dưới tầm mắt. Nước dâng lên, rồi tràn ứ, xuôi vào đục ngầu những lỗ cống không đủ lưu lượng rút nước đi. Sơn hồn nhiên " ...đấy, phố bỗng nhiên thành dòng sông uốn quanh".

Anh hồn nhiên như thế. Phải nói được như thế vì sự hồn nhiên đó đồng thời tồn tại với độ sâu những nỗi nghĩ suy lắng đọng về kiếp người và cuộc sống. Nhưng luôn thấp thoáng trong hôm nay là bóng ngày mai. Và anh nhắc " em hồn nhiên, rồi em sẽ bình minh". Vì thế, không phải chỉ có Sơn - hát rong. Sơn - thi sĩ, Sơn - cầm cọ. Còn một Sơn khác, Sơn - hiền giả. Nhưng chẳng bao giờ có một hiền triết nào nguyên vẹn. Họ đầy thương tích, trên thân thể, trong hồn. Sơn viết "... Những vết thương khi đã được đánh thức... là một vết thương tỉnh thức. Vết thương tỉnh thức là một con mắt sáng ngời. Nó nhìn ngược về quá khứ và ngó thẳng tương lai. Nó mách bảo cho chủ nhân của nó là không có một vết thương nào vô tư mà được sinh thành cả. Nó là một nỗi đớn đau như khi trời đất trở dạ làm thành một cơn giông bão".
Sơn ơi, còn vết thương cuối cùng. Nó ra sao, hở ?

5_
15h45.
Cách đây đâu trên hai mươi năm, tôi gặp nhưng tránh, cứ có Sơn là tôi lảng, vì loáng thoáng nghe kiểu tin " đồn" không rượu mời thì khỏi có " dính" được vào cái tiếng tăm một tài danh thứ " xịn". Một bữa, Sơn vào nhà Nguyễn Duy và tôi đứng dậy. Sơn nói thẳng " moi làm gì mà toa không thích moi ? Thôi, để moa hát tặng, rồi toa hãy đi ! ". Ðó là bài Ở trọ, thú nhất là hai câu " trăm năm ở đậu nghìn năm, đêm tối ở trọ chung quanh nỗi buồn". Hai hôm sau là giao thừa năm Nhâm Tuất, Sơn rượu vào, nửa đêm đến réo tôi nhà Duy, leo cổng sắt ngã trặc chân. Tôi nghe chuyện, đến thăm Sơn lần đầu. Tết năm đó, mang cho Sơn quà của cụ Nguyễn Tuân, đâu hai trăm gam đường trắng vừa nhờ người chuyển đến tay. Sơn cảm động, nói " làm sao nói ông ấy, moa đâu có thiếu đường. Chỉ Hà Nội thiếu mới quí, giữ lại mà dùng...".

Thế rồi chúng tôi có dăm bảy dịp lãng đãng với nhau. Sài Gòn, Paris. Rồi Montréal, Québec.
Sài Gòn - Studio của Ðinh Cường, gần chợ Tân Ðịnh : 30 độ C, nóng và nắng. Có cái gì uống không ? Mở cửa cho đỡ ngộp. Vách và bài thơ của Tô Thùy Yên viết chữ đại tự. Ðọc thơ toi cho anh em nghe.
"Tôi chịu !
Tôi không thể an tâm hô khẩu hiệu
Khi áo cơm không đủ, ai đành ?"

Không, Sơn nói. Tội chịu chứ không tôi chịu. Bài thơ Ung thư Me của tôi nợ Sơn một dấu nặng. Rất nặng.

Paris - Lang thang. Cứ thấy hiệu giày là Sơn đứng lại. Thôi, mê giày như mê gái, đi đi. Cười, xuất khẩu thành " giang hồ phố đã nghìn chân", lại nhắc Bùi Giáng, và... Marilyn monroe.
Montréal - Trầm trồ khoe ( không có mặt Khánh Ly ), nàng là Edith Piaf của moa. Vào công viên. Này, tượng là tượng ai? Một văn sĩ. Thành phố này không công viên đường phố mang tên anh hùng, may thật. Nước mình có nhiều anh hùng quá, thế mới mệt... Cười buồn.

Québec - Trồng cái cây trước nhà toa, khi thấy cây là phải nhớ tới moa. Ngẫm nghĩ, Sơn bảo tìm cái loài chống được mùa đông. Sơn ạ, cây vẫn đấy. Cứ tháng năm nó lại ra lá. Loại táo Nhật lá đỏ, xuân về là hoa táo màu hồng rừng rực một góc vườn...
Bây giờ, tới mùa hoa ta sẽ nhắc ai ?

6-
20h15.
Ðộc ẩm. Nào mời. Bạn cứ nâng ly, bây giờ kiêng khem chi nữa. Rượu ngon không có bạn hiền. Thế thì đợi gì. Bạn đây. Ta đây. Uống đến xơ gan ra với tuế nguyệt. Chẳng phải để quên mà để nhớ. Nhớ hết. Từ người yêu thuở học trò tóc xanh, rồi người bỏ ta đi thuở trường đời mắt trắng. Cho đến khi chập chờn lau trắng trong tay, lại tự mình thủ thỉ cho mình nghe " tôi ơi, đừng tuyệt vọng !".
Ðừng tuyệt vọng, tôi ơi !

Này, biển sóng đừng xô ta. " Ta xô biển lại sóng về đâu".
Có phải về hư vô. Không chắc. Nhưng mà đau, bởi cái bám víu vào như mảnh ván mỏng bập bềnh giữa vô bờ sương khói.

Tôi ơi hỡi, tôi ơi ! Bạn đâu rồi ?

Có phải bạn vẫn đấy, nhìn vào vạt nắng mái tường bên, ngậm ngùi " ...bây giờ mình chỉ viết về nắng...". Nghe tâm sự, khung rêu tươi lên vàng óng một nụ cười thơ. Có phải bạn nhẹ nhàng " ... hạnh phúc là lúc chờ, êm ắng như buổi trưa, lặng đi rửa mình để rước vào phần hồn những nụ hôn của cuộc đời sửa soạn bước chân vào lễ hội". Nghe tâm sự, văng vẳng đâu đây tiếng chuông nhà thờ bay từ đầu dốc Phú Cam xuống bến Ngự, mang theo tiếng thì thầm của những thiên thần cứ còn quyến luyến chốn trần ai.

Ðừng, đừng tuyệt vọng ! Vạt nắng vẫn đó. Khung rêu vẫn óng ả. Và tiếng chuông nhà thờ sẽ còn ngân nga ít ra là vài trăm năm nữa.

7_
22h55.    
Thỉnh quân thí vấn đông lưu thủy Biệt ý dữ chi thùy đoạn trường...
Này, thêm một bôi. Hỏi bạn về đâu dòng nước chảy. Xứ của Thái Bạch ? Lý quân đang khề khà, quay nhắn, ngắn dài này nỗi biệt ly ơi !

8-
8h40 ngày 02-04-2001
Chịu. Giấc ngủ đêm qua chập chờ. Thức dậy, thấy hững đi. Tự nhủ, mơ, phải mơ. Những giấc mơ mắt mở khó dần với tháng năm. Thôi thì nhắm lại.

16h40
Nhớ những buổi " ngồi đồng" với Sơn. Mỗi người một góc, loay hoay với mình. Hứng thì ngưng, đọc cho nhau một đôi câu :
Nhan sắc = vẽ vời
Lý tưởng = viển vông
Chợt rụng rời giữa có và không
Mày xanh
Mi biếc
Môi hồng
Tỉnh ra sóng đã bềnh bồng cuộn trôi
Tôi ơi hỡi,
tôi ơi !


Sơn kêu, tôi ơi là " tới". Ta thì muôn đời "đáng ghét". Rồi thì có " tôi ơi đừng tuyệt vọng !". Sơn lại dụ, moi dậy toa viết nhạc, đánh đàn. Có thế mới chở thơ đi được. Tôi chịu (lần này không phải tội chịu).

Dịch xong hai trăm bài thơ Ðường, tôi có dịp bảo " thơ Sơn có những hình ảnh Ðường thi không có...". Bạn vui mồm hỏi, thí dụ đi. Này nhé " Tóc em, từng sợi nhỏ. Rớt xuống đời làm sóng lênh đênh". Rồi, " Ôi áo xưa lồng lộng, đã xô dạt trời chiều". Còn nữa, muốn biết không ? Thôi. Uống. Chuyện xong rồi, uống đã. Con chữ đã ở đấy. Nó là cỏ mỏng manh, lá mong manh, sống mong manh, tay gối mong manh, chết mong manh, tình mong manh. Nó là đời bềnh bồng, môi rồ dại, là một vòng tiều tụy, là phố xá thênh thang, là hạ trắng, nắng thủy tinh. Là nhiều đêm thấy ta là thác đổ . Là phôi pha.

Sơn ngậm ngùi, moa qua Canada kiếm một chỗ vắng người, ngồi viết về cuộc đời chính mình, nghệ thuật của mình. Sẽ có những chương sách chỉ một dòng chữ. Thậm chí, những chương sách bỏ cho giấy trắng tinh thì mới truyền đạt được ý thật của mình... Lần cuối gặp nhau, tôi hỏi, viết chưa ? Anh lắc đầu. Tôi gặng, bao giờ ? Sơn mím môi không đáp. Tôi nghĩ anh chưa viết. Bởi vì , ôi hệ lụy của tài danh, nó cướp của anh những phút anh cần chỉ có một mình anh. Ðêm tân niên 1999, khi những người kiều nữ môi hồng má đỏ đã thôi í a hát ca khúc Trịnh Công Sơn, khi những nhà tư sản mới vừa kiếm ra tiền đang co tay quệt miệng sau lúc cạn ly XO và chúc anh vạn sự như ý, anh ngồi với tôi, cau có "... moa khổ quá ! Thôi, thây kệ...".

Thây kệ, thây kệ.
Phải chăng bạn tôi đang kiệt sức trong vòng vây bủa phù hoa. Anh biết nó quá rõ, đã từng viết " Từ buổi con người sống quá rẻ rúng tôi biết rằng vinh quang chỉ là điều dối tra馱uot;.

9-
18h10
Bờ cỏ xuyên tuyết nhú ra mầm xanh báo Xuân đang về, chậm nhưng chắc, và không thể khác đi được. Mở điện thư, từ khắp nơi bạn bè anh báo cái tin anh đã khép lại những hẹn hò. Mai mốt, anh sẽ lên Gò Dừa nằm cạnh mạ anh, như đứa con ngoan quay về ngủ yên trong vòng tay mẹ.
Sơn ơi, hãy yên nghỉ. Thực sự yên nghỉ. Sống thế là trọn vẹn với mình với người lắm rồi. Thây kệ, những kẻ còn lại nếu chỉ thấy có thiếu vắng khi bạn ra đi thì thây kệ. Họ chẳng muốn hiểu vì...." không ai muốn làm một tên tuyệt vọng. Nhưng tôi (Sơn) nguyện làm tên tuyệt vọng. Bởi nhiều sớm mai khi tôi thức dậy không thấy được hoa quả khai sinh trong trái tim người...Nỗi vinh nhục đã mang ta ra khỏi đời sống để đưa đến những đấu trường. Tôi đang bắt đầu những ngày học tập mới. Tôi là đứa bé. Tôi là người bạn. Ðôi khi tôi là người tình. Chúng tôi cùng vẽ lại chân dung của nhân loại. Vẽ lại con tim khối óc. Trên những trang giấy tinh khôi chúng tôi không bao giờ thấy bóng dáng những đường kiếm mưu đồ, những vết dao khắc nghiệt. Chúng tôi vẽ lại những đất đai, trên một đời sống không còn bạo lực..."

Sơn viết thêm..." Tin vào niềm tuyệt vọng có nghĩa là tin vào chính mình. Tin vào cuộc đời vốn không thể khác. Và như thế, tôi đang yêu thương cuộc đời bằng nỗi lòng của tên tuyệt vọng.".

Tôi đã đến vơi Sơn lần cuối như một tên nòi tình tuyệt vọng đi tìm một kẻ tuyệt vọng khác. Thời gian đó, tôi đang thai nghén vở kịch Treo đầu dây Quan Họ, lời hạ màn viết dành cho Sơn. Cuối cùng, rồi một lúc cũng sẽ phải hạ màn, cho rằng hài hay bi kịch.

Anh ghi dăm chữ, có lẽ chẳng phải cho riêng tôi mà là cho tất cả những người bạn anh. Tôi xin phép chép lại, lời cuối gửi đến những tên tuyệt vọng nhưng cứ còn yêu thương cuộc sống : "... May thay trong đời người vừa có tình yêu vừa có tình bạn. Tình bạn thường có khuôn mặt thật hơn tình yêu. Sự bội bạc trong tình bạn cũng có, nhưng không nhiều.
Tôi thấy tình bạn quí hơn tình yêu vì tình bạn có khả năng làm hồi sinh một cơn hôn mê và làm phục sinh một cuộc đời tưởng rằng không còn tái tạo được nữa.
"

Cuối cùng, không có gì khác hơn là sống và chết. Sống làm thế nào cho tràn đầy sự có mặt và chết cho ngập tràn cõi hư không. Phải đi đến tận cùng hai cõi sống chết để làm tan biến tất cả những giấc mộng đời không thực".

Cám ơn Sơn, bạn quí. Ngày mai này bạn lên đường vào cõi thênh thang không hẹn hò trói buộc. Ơ kìa, cỏ sáng mới nhú ra khỏi tuyết đã xanh mơn mởn. Còn cây táo bạn trồng cách dây mười năm, chỉ ba tuần nữa sẽ cũng đâm hoa. Bạn ơi, may thay, như không thể khác được.

NAM DAO
2-04-2001



Những ngày Trịnh Công Sơn

Tôi biết Trịnh Công Sơn khi anh chưa nổi tiếng, và qua Nguyễn Ðình Toàn, tại một bàn cà phê ở quán Cái Chùa, đường Tự Do, Sài Gòn. Nói chưa nổi tiếáng, là đối với đa số công chúng thưởng ngoạn. Cùng với đà cuộc chiến leo thang, người dân miền nam ngày càng thấm nhạc của anh.
Anh ngồi chung bàn với Toàn và tôi, nhưng cứ chốc chốc lại có một anh bạn trẻ nào đó, từ một bàn nào đó, tạt qua bàn, chỉ để nói chuyện hoặc hỏi thăm anh, và thường là về Huế, và cứ mỗi lần như vậy, anh đổi giọng nói. Khi nói với hai đứa chúng tôi, anh dùng giọng bắc.
Toàn lúc đó phụ trách chương trình nhạc chủ đề trên đài phát thanh Sài Gòn, và hai người hình như có hẹn gặp nhau tại quán, ấy là tôi suy đoán ra như vậy. Thời gian này, tôi chưa để ý đến nhạc TCS. Nói rõ hơn, nó chưa thấm vào tôi.
Phải tới khi đứa em trai mất, tới lượt tôi vào Trung Tâm Ba Quang Trung, trong những đêm cận Tết, nằm trên chiếc giường sắt lạnh lẽo, một anh chàng nào đó, chắc là quá nhớ bồ, cứ thế huýt sáo bài Tình Nhớ gần như suốt đêm, thế là tiếng nhạc bám riết lấy tôi, rứt không raẨ Lúc này, tiếng nhạc của anh, đối với riêng tôi, qua lần gặp gỡ trên, như trút hết những âm tiết địa phương, và trở thành tiếng nói chung của cả miền nam, tức là của cả thế giới, vào thời điểm đó, khi cùng nói: hãy yêu nhau thay vì giết nhau. Bởi vì chưa bao giờ, và chẳng bao giờ miền nam chấp nhận cuộc chiến đó. Chính vì vậy, họ lãnh đạm với chính quyền, ưu ái với miền bắc, vì họ đều tin một điều, miền bắc sẽ kết thúc cuộc chiến, và người Mỹ sẽ ra đi. Như cả nhân loại tiến bộ, họ chỉ có thể tiên đoán đến đó. Nhạc Trịnh Công Sơn nói lên tiếng nói đó. Tính phản chiến của nhạc của anh, chính là tính phản chiến của cả một miền đất.
Và cũng như cả nhân loại tiến bộ, chỉ tới sau vòng tay lớn rã ra, Trịnh Công Sơn mới hiểu. Một bạn văn của người viết, còn ở lại Sài Gòn, nhân lần gặp gỡ tại xứ người, đã kể chuyện, sau "giải phóng", có thời gian TCS bị CS địa phương làm khó dễ, anh phải vô Sài Gòn, và có than thở với anh bạn văn kể trên. Anh nói, thì cứ dzô đây, gì thì gì, chắc cũng dễ thở hơn.
Sài Gòn cưu mang TCS không phải chỉ lần đó. Theo như tôi được biết, những ngày cuộc chiến dữ dội, trong khi chúng tôi cứ thế theo nhau lên Trung Tâm Ba, TCS may mắn đã được tướng Lưu Kim Cương che chở. Trong số những quân cảnh tại thành phố, có người chỉ mong cơ hội "chộp" được TCS! Tướng Lưu Kim Cương tử trận trong biến cố Mậu Thân, khi bảo vệ vòng đai phi trường Tân Sơn Nhất.

Riêng tôi, tôi mong được như anh: được chết tại Sài Gòn.
Xin vĩnh biệt.

Nguyễn Quốc Trụ

 




tình em, o huế


nì, O có nhớ đường vô Nội
dắt tui đi cho đặng tỏ tường
thay đổi quá nên chi bối rối
lâu hung rồi về lại quê hương

ngày xưa O nhỏ như hột mít
khóc nhè nì ! Làm nũng phát kinh !
mặt mũi tèm nhem, ôi chao, dị
lắm lúc mần tui phát bực mình

O ở đầu Thôn, tui ở giữa
cách nhau hàng giậu chớ bao nhiêu !
vô ra gặp mặt ngày hai bữa
kỷ niệm chia nhau kể cũng nhiều

ngày O dợm bước vô Ðại học
tui bỏ quê dấn bước giang hồ
hình O, tui giữ, là mái tóc
đôi mắt buồn che nón-bài-thơ

tui nhủ lòng mơi mốt trở về
rứa mà biền biệt tháng, năm qua
ba lô mang nặng đời trai trẻ
giày saut mòn vẹt khắp miền xa !

đôi khi nhớ Huế, buồn chi lạ
thiệt lòng mà nói, nhớ O, xưa !
nhớ đôi con mắt sầu thăm thẳm
giọt lệ che mờ buổi tiễn đưa

tui nhớ, củ khoai sùng mót được
bẻ đôi, O giựt lấy phần to
tui nhớ, tóc thề thơm hương Bưởi
bắt tội tim tôi đập vỡ bờ !

tui nhớ, ôi chao ơi, là nhớ
chỉ là nỗi nhớ để. thương thôi !
bể dâu vùi lấp, đời trôi nổi
mình tui lưu lạc, lạ phương trời

bây chừ, tui trở về thăm Huế
thiệt lòng mà nói, để thăm O
mấy mươi năm hỉ ? Nhiều vô kể.
những đổi thay đau thắt cả lòng !

đôi mắt ngày xưa nhăn nếp khổ
tóc thề bới gọn, tuyết sương pha
ngó nhau, lặng nén lòng thương nhớ
O nắm tay tui, mắt lệ nhòa

tui hiểu tình em rồi, O Huế !
mấy chục năm, chừ có phút ni
mặt mũi tèm nhem, ôi chao dị
vẫn khóc nhè. Làm nũng rứa, răng ?!.

trần huy sao
tranhuysao@yahoo.com




NHỮNG BÀI THƠ NGẮN TRONG NGÀY

MỘT CHẤM NÂU

Buổi sáng lái xe trên đường
Quay quắt nhớ
Một chấm nâu trên thân ai
Rồi làm thơ suốt ngày còn lại

-----------------------------

(T)RỐN*

Ðêm lạnh và sâu
Mỗi linh hồn cần một chỗ trú
Nàng bảo:
-Hãy ngụ lại đây.

* Tựa do Lê Tạo đặt


ƯỚC CHI,

Chiều hôm đó tận thế
Khi anh trào
Tan
Trong sâu em



GIỮA NHỮNG VÁCH TƯỜNG

Úp tai lên bầu ngực em
Trái tim chiều thoi thóp
Cả loài người đã quên
Riêng anh chờ từng nhịp đập



TRÊN BÃI TRƯA

Trước mặt là biển sau lưng là thành phố
Trên cao
Là mặt trời
Anh từ tốn hôn em

THẬN NHIÊN, 28.3.01
Tuedan7@cs.com




Moon Shines on Ocean's Waves

far scenes
in the night
moon sings
onto love
top of glinting dreams

lights tingle
stars of peace calmly awake
time seeing time
hopes of true love
ever found beyond

light of skýs candles
glowing rays newly seen
awaiting chirping
from deep sleep
calling to wake upon

serene surface
banishes dark shadows
of chilly seás life
to torch
in hopeful dimensions
of its green growth

Trường Ðinh



Trăng Toả Sóng Ðại Dương

từ viễn cảnh
trong đêm
trăng ngợi ca
tình yêu
đỉnh cao của mộng mơ lấp lánh

ánh sáng rộn náo
những vì sao an bình tỉnh thức
thời gian gặp gở thời gian
hy vọng cho tình yêu chân nghĩa
đã tìm thấy

ánh sáng của đèn trời
tia chớp ngời
mới rực
được ghi nhận
đợi chờ chiêm chiếp
từ giấc ngủ say
để gọi lại tỉnh thức trên cùng

mặt bề tĩnh lặng
đuổi xua bóng tối
của đời sống biển lạnh
đuốc soi
từ những chiều kích thước đầy triển vọng
sự tăng trưởng xanh tươi

Trường ÐDinh
t.dinh@ntlworld.com




Ðiạ chấn

Cơn điạ chấn rùng mình
Vách linh hồn ngã đổ
Ðè lên
lồng ngực oan khiên
Trái tim thủy tinh
vụn vỡ
Tắt ngấm hơi thở
Ánh mắt kinh hoàng
Thần tượng cuộc đời tan hoang
sụp xuống
Ðê thịnh nộ vỡ toang
cuốn trôi cả muà thương dĩ vãng
Nuí mộng
Ðồi mơ
Lâu đài lãng mạn
Phút chốc hoá bình nguyên bất ngờ
Bàn tay nào cố bấu víu
Rồi cũng rơi xuống
Như chiếc lá lià cành
chơi vơi .
Chẳng còn gì nguyên vẹn
giữa hoang tàn .
ngoài nỗi nhớ
bơ vơ .

Cơn điạ chấn qua rồi
Người giờ xa tít chân trời
Còn mỗi mình ta
ngẩn ngơ đứng lại
Lòng tự mình câu hỏi :
"tại vì sao ?"
"vì sao ?."

Trầm
tram1402@yahoọcom




Những Người Ðàn Bà

Nơi xa tôi gặp lại người
từng hát chung cánh rừng
giữa hai đợt bom soi gương chải tóc
mắt em trong và tóc bay
mây trọng điểm

Hơn hai mươi năm từ dạo ấy
Không chỉ người đàn bà tình cờ gặp lại
Cánh rừng thay rụng hết màu

Suốt đêm tôi
nhìn vào đâu tự hỏi
có nơi nào như nơi đây
Người đàn bà - Cây xương rồng đầy gai lang bạt
Bao em gái thay áo lià chồng
Những móng son
đâu cũng giăng tơ
bầy trẻ không chứng thú, nhiều như lá.

Có nơi nào như nơi đây
Mẹ Âu Cơ
Con một thuở
tát ánh trăng vàng (*)

Nguyễn Văn Thọ 10-2000

(*) Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

-----------------------------

Viết Xuôi

Chúng ta nói chuyện với nhau
câu chuyện bên kia trái đất
Ngược hơn bảy ba ngàn vòng quay

Tôi cài lên tóc úa
màu lược trắng Ðuya Ra
Mất ngủ
nét khắc hằn: Nhớ Em
Người đàn bà để nguyên chiếc lược xưa lên
trời
ngắt một vì sao soi Ðêm Tôi
ánh sáng nào phát lửa khô đi nỗi niềm riêng

Ðêm xứ người mềm như nhung
đâu chỉ trắng trời màu tuyết không trọng lượng
Người đàn bà mơ gì sau hai mươi năm
Tôi mơ gì sau những nhận biết mong manh
đời người?
Lược Ðuya Ra không bao giờ rỉ
nhưng chỉ chúng tôi biết câu chuyện riêng của nó.

Thế giới,
những con sên bò trên mảnh vải có hai từ Lương Tri
để lại bụi ác trên cánh đồng cầy chìa vôi

Tôi nghĩ về sự thay đổi kỳ quặc của thời gian
trong khi cô gái thanh tân hơn năm mươi tuổi cố ngủ
vì một giờ nữa phải tới nơi rửa bát.

Nguyễn Văn Thọ

(Ian Bùi giới thiệu)




đêm, góc quán

đêm có tiếng saxophone
khản đục
nhiểu xuống từng âm dày
rên xiết, mời gọi
em kéo tôi về
chia một nửa chỗ ngồi quen cũ
sóng sánh hương xưa

đêm, nụ hôn mưa ngoài hiên
ướ't dầm môi
ướt dầm tiếng hát tìm nhau
khắc khoải

đêm, hoang dại
những ngón tay nhảy nhót
trên phím dương cầm
những ngón tay
ấn sâu vào hạnh phúc
đàn trũng xuống
em trũng xuống
âm buông,
buông
về hướng gió
giây rung lên
tắt nghẹn

đêm ghì nhau
môi tưởng chạm rõ
ngàỵ

Nguyễn Tư Phương 02/2001.
phuong_nguyen@hp.com




lục bát cho người


"môi thâm khô từ thuở định hôn người"
(du tử lê)

yêu người tóc rối môi khô
mùi hương thấm đượm hư vô
ngọt ngào, ôm người
gom trọn trời sao, tim ngân
như tiếng chuông
vào
cõi duyên

sông đời chảy giữa ưu phiền, môi em tan giữa vô biên
môi người, nhân gian say chén rượu mời
em say ngày tháng
chơi vơi
yêu người .

Nhiên An.

---

soi gương

soi gương thấy nhớ bạc đầu
thấy thương chùng mắt,
thấy sầu
trĩu môi

soi gương, nhìn
thấy bóng côi
thấy tôi
đứng ngắm tình tôi
chập, rời .

Nhiên An
(Nguyễn Tư Phương giới thiệu)




Thăm chùa Bảo Lâm
kính tặng Ni Sư Hải Ngọc


Rừng xưa vẫy gọi tôi về
Bất ngờ bỗng gặp bóng quê hương mình
Một viên ngọc sáng trời xanh
Ðóa hoa thường trụ trên cành bể dâu
Qua bao nắng dãi mưa dầu
Vẫn không phai nhạt sắc mầu bản lai.

Hồ Ngạc Ngữ
(Nguyễn Tư Phương giới thiệu)




Còn gì

Ta còn gì tặng em
Bài tình ca cũ kỹ
Tận đáy rương thời gian
Lời yêu thương đã nhạt

Ta còn gì tặng em
Nụ hoa quỳnh tàn tạ
đêm hái trộm nhớ thương
Ngày nắng vàng rất vội

Không còn gì tặng em
không còn gì tặng ta
Ngày hôm qua đánh mất
Ngày mai rất mịt mờ
Ngày hôm nay lặng lẽ
Trôi dần vào hư vô .

Bùi Tĩnh
bui_hh@hotmail.com




NGỪƠI KỴ SĨ

Ðồng hoang .
Cỏ cháy .

Ngựa phi như điên cuồng
Trong cát bụi
Mắt dại trợn trừng
Mồ hôi trộn máu

Tay xiết chặt giây cương
Tay vung gươm vũ lộng
Máu đỏ tuôn trào
Người kỵ sĩ không đầu
Vị nước

Ngựa vị chủ
Ðiên cuồng . phi trong cát bụi

Văng vẳng xa .
Trận chiến vẫn chưa tàn .

Nguyen Cao Thang - VA, 1/2001
nncctt@yahoọcom




Mời nhau

Mời ta nhập cuộc vui người
Giết nhau nham hiểm nét cười khoé môi
Mời người vào mộ sầu tôi
Huyệt đen áo trắng tinh khôi cuộc tình

Mời nhau chung gót hành trình
Một mai rơi lại bóng mình hoang vu
Mời người đi mãi mùa thu
Ta về ngõ Hạ sương mù đêm ngâu

Mời thương yêu vị buồn đau
Nụ hôn kỷ niệm bể dâu chưa mòn
Mời người phụ một vòng ôm
Xem ta cười khóc gọi hồn nhân duyên

Mời nhau vĩnh biệt hồn nhiên
Ái ân chết giữa ngoan hiền đêm qua
Ta mời nhau giọt lệ ngà
Trăm năm hoài bóng mưa sa tội tình

Kỳ Thư
ky_thu_2000@yahoọcom




Phôi Pha (*)

Này anh chậm lắng giọt trầm
thênh thang đôi gót duỗi hoài nhịp thơ
Này anh rưng rức cuộc chờ
nợ tình trăn trở ngón hằn nốt đau
nhẹ nhàng trau chuốt tay nhau
Vút say phím gió chở buồn rong xa

Lê Vũ Thúy Ái, Canada
Ellenle@globalservẹnet

* Cảm Elegy trong Enchanted Autumn,
CD đầu tay của Trụ Vũ và Ðăng Long Hồ




Mỹ Tho Tưởng Nhớ

Ðã quá lâu rồi,
Không về lại Mỹ Tho.
Ai đem nỗi nhớ
Treo đòng đưa tiềm thức?

Ðôi khi tỉnh giấc,
Nửa đêm,
Thèm miếng chuối ép phơi khô.
Chỉ muốn được hối hả,
Chạy về,
Qua chuyến phà Rạch Miễu,
Ngắm Cồn Rồng,
Nhai bánh lá dừa Bến Tre.

Vancouver, tôi sống,
Cũng có những chuyến phà.
Ðưa, đón khách - qua, lại.
Tôi, người khách lơ đãng,
Nhắm mắt.
Thấy rổ mận Trung Lương,
Ai đang rao bán.
Chép miệng, tưởng như.
Vừa cắn miếng bánh ích Cầu Ðúc.

.

Cảnh cũ bây giờ, ai ngóng trông ?
Tiền Giang, con nước, có theo dòng ?
Ðò xuôi, từng chuyến, còn chở khẳm ?
Lòng người xa xứ, vẫn nhớ mong.

Hồng Hoang
honghoang99@hotmail.com




NGÃ RẼ NÀO TÔI BƯỚC?

xin đừng lặng yên
giữa những gót giầy nện trên mặt đường
hãy như những ngày thường
vui cười huyên thuyên với tuyết rơi

xin đừng cúi mặt
nhìn những sỏi đá dưới bàn chân lạnh
hãy ngẩng mặt nhìn thoáng mây say
quay cuồng với gió tạt mưa bay

xin đừng thở dài quay đi
rời xa tôi một mình ngẩn ngơ cuối đường
ngã rẽ nào tôi bước
khi người vẫy cánh lên cao?

Phi Yên - tặng T.
yphi@gmx.ch




Tuổi Mộng Mơ

Hồn nhiên tuổi mười sáu
Em áo trắng đến trường
Ta vội làm quen nhau
Tập biết nhớ, biết thương

Em tương tư con gái
Anh cầm bút làm thơ
Ngó đi và ngắm lại
Tim anh bỗng dại khờ

Thơ anh thơ . con cóc
Em đọc cười vu vơ
Bảo rằng anh chàng ngốc
Cứ đứng ngắm thẫn thờ.

Rồi chép thơ gởi tặng
Em nhận được làm thinh
Ðể anh chờ trong nắng
Ðứng đợi em một mình.

Xuân qua, hạ lại đến
Em rời mái trường xưa
Chỉ mình anh ở đấy
Hoa phượng giờ đơm hoa.

Những đóa hoa phượng đỏ
Chứng nhân cho tình yêu
Nhưng em đâu còn đó
Mà nói được những điều.

Y-Thy
phuvo@hotmail.com




Mùa Xuân Yêu Anh

Chàng là hơi thở cuả mùa Xuân
Ấm cả lòng em đã một lần
Rền vang pháo nổ, mai vàng nở
Say đắm tình Xuân đẹp vô ngần

Em vẫn chờ đây, quân tử ơi
Khi Xuân tuơi thắm ngát huơng trời
Rộn ràng Xuân mới say giấc mộng
Ôm lòng mộng uớc sắc hoa tuơi

Em vẫn chờ anh, vẫn đợi anh
Vẫn áo tím bay, liễu buông mành
"Hữu duyên thiên lý, năng tương ngộ"
Vui buổi tuơng phùng em với anh

Anh về vuơng bụi áo phong suơng
Yêu anh mưa hắt đẫm phố phường
Xuân về tô điểm hàng mi ngọc
Thả thơ lòng vơi nỗi nhớ thuơng

Ta hẹn hò nhau trong giấc mơ
Bên nhau thôi hát khúc mong chờ
Xuân tình e ấp trong đôi mắt
Sưởi ấm đời thắm đượm tình thơ

Ngây ngất hương tình mộng thanh tao
Kề vai sánh buớc tựa hôm nào
Dẫu mai Xuân đi sầu bóng nguyệt
Tình ta vẫn đẹp tựa trăng sao

Anh hãy cùng em cất tiếng ca
Vui Xuân ta hát duới trăng ngà
Mưa tình theo gió vuơng trên lá
Vuơng vấn tơ lòng giọt mưa sa

Chàng là huơng sắc cuả mùa Xuân
Thắm đượm tình em đã một lần
Và khi én luợn, anh đào nở
Say đắm hồn em trong ý Xuân

Giọt Mưa
qnguyen@msp.sc.tịcom




NẮNG VỀ

Nắng đã trở về sáng hôm nay,
Rắc lên xuân sắc thế gian này.
Từng cụm hoa vàng xen cỏ biếc,
Nắng dệt mây trời theo gió bay.

Tuyết đã rời xa không một lời,
Không còn buốt giá khắp mọi nơi.
Tôi đi thơ thẩn lòng phơi phới,
Ðón nắng mùa xuân của mặt trời.

Tôi gởi hồn theo hướng gió bay,
Tới nơi hoa tuyết vẫn rơi đầy.
Vẫn làm lạnh giá lòng cô phụ,
Trắng cả phương trời ai có hay.

Cả một năm dài sáu tháng qua,
Tình như giấc ngủ thiếu lời hoa.
Măt. trời lịm tắt trong màu xám,
Sức nóng tinh cầu cũng phôi pha.

Vang vọng lời ai với khát khao,
Âm ba nỗi nhớ lòng rạt rào.
Quanh ta hơi ấm mùa xuân đến,
Mặt trời tỉnh giấc hết chiêm bao.

Giọt lệ đài trang đã hết sầu,
Nắng vàng như lụa ấm lòng nhau.
Mây xanh đan nắng trong trời biếc,
Cho thấy tình mình vẫn nhớ nhau.

MINHNHAT
minhnhat_us@yahoọcom




Giọt Ðêm

Nhấp giọt buồn rơi đêm nguyệt tận
Mềm môi ấm một thoáng bâng khuâng
Cô đơn ta với màn đêm vắng
Tiếc nửa bài thơ trót lạc vần

Ai pha nhung nhớ buổi tàn đông
Thiếu chút đường nên đắng cõi lòng
Khuấy nhẹ nỗi niềm ta xao động
Thoảng làn hương cũ gợi hoài mong

Ai pha quá khứ dung vị tình
Nhạt nhoà cả ký ức mong manh
Từng giọt trầm tư rơi thành lệ
Tan hoà trong huyết mạch buồn tênh

Ðậm đặc long lanh chất lỏng đêm
Bờ môi đắng ngắt hớp ảo huyền
Hồn trôi lơ lửng từng sợi khói
Lòng lắng chìm vào dư vị đen

Lỡ tay đánh rớt cả muà thương
Vào tách cà phê của đoạn trường
Lơ đãng bỏ quên lời ước hẹn
Bên lề quá khứ để hoài vương

Ai pha vụn về tách cà phê
Rót xuống lòng ta những não nề
Giọt nào đọng lại bao dư anh?
Ðáy hồn, đáy cốc . cặn tình mê

Dị Khuê
tnm181@yahoọcom





1. Ngọa Hổ Tàng Long: Giấc Mơ Trung Hoa

Phim võ hiệp Ngọa Hổ Tàng Long được đề nghị 10 Oscars, được 4, qua tin tức báo chí. Theo Joan Acocella, tác giả bài viết trên báo Nguời Nữu Ước số tháng Ba 26, 2001, nếu có thêm một giải thưởng đạo diễn chuyển động (mouvement direction), thì phải là 11, bởi vì những màn đánh kiếm trong phim thật tuyệt vời và là cốt lõi của phim và Yuen Wo Ping là người sáng tạo ra "cuộc khiêu vũ của cái đẹp trong lúc chuyển động" này.
Ông người Hongkong, thuộc một gia đình chuyên về phim võ hiệp. Bốn người con trai theo nghề của bố (một, là đạo diễn những màn đấm đá trong cuốn phim mới "Những thiên thần của Charlie"). Yuen khởi nghiệp bằng vai đóng thế tài tử chính ở những màn nguy hiểm, trong phim của bố. Ông luôn luôn đóng vai kẻ [phải] chết. Ông nói với tờ Guardian (London): "Về chuyện té xuống chết, tôi là số một."
Năm nay 55 tuổi, đạo diễn những màn đấm đá trong khi bay nhẩy (fight choregrapher) trên 50 phim. Ông đã biến Jackie Chan thành một tay quyền cước tiếu lâm, để đối lại với một Lý Tiểu Long lúc nào cũng đăm chiêu. Hai năm trước đây, làm choregrapher cho phim The Matrix, ông đưa xảo thuật dây (wirework) vào trong phim này. Những diễn viên có thể bay nhẩy nhào lộn trên không, nhờ buộc vào những sợi dây (khi in phim, họ xóa những sợi dây đi). Ðây là một xảo thuật mà Jennifer Tran tôi, khi còn là con nít đã từng say mê những nhân vật như Phàn Lê Huê đằng vân giá vũ, di sơn đảo hải… trong các tuồng Tầu, hoặc cải lương hồ quảng…
Nhưng cho dù xóa những sợi dây, thì hiệu quả của chúng vẫn còn. Khán giả tinh ý vẫn có thể nhận ra: khi diễn viên đột nhiên bị giật lên cao, theo nguyên lý quán tính, cơ thể của họ cưỡng lại; cũng vậy, khi họ đặt chân xuống đất. Theo tác giả bài viết trên Người Nữu Ước, xảo thuật dây đối nghịch với nghệ thuật khiêu vũ: một nghệ thuật của sự dung hoà (negociation) với sức hút của trái đất tạo nên sức nặng của cơ thể, trong khi với xảo thuật, chỉ cần xóa bỏ hình ảnh những sợi dây. Trong môn vũ ba lê, cú nhẩy của diễn viên làm cho khán giả ngỡ ngàng, lý do là diễn viên nhẩy lên cứ như không, như thể không phải vận dụng một sức lực nào hết, giống như thường nhân chúng ta thảnh thơi dạo chơi trên mặt đất; trong khi bất cứ một chuyển động nhẩy vọt nào, đều bị ảnh hưởng nặng nề bởi nguyên lý quán tính. Nói nôm na, trái đất trì kéo người diễn viên, trong khi người đó phải giải tỏa sức trì kéo này, mà vẫn bay nhẩy một cách thật tự nhiên.
Người Trung Hoa chia ra nhiều thứ tình. Tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung gần như bao gồm đủ loại tình "truyền thống" đó: tình si, tình hận, tình hiệp… Ngọa Hổ Tàng Long, một phim võ hiệp, chắc chắn rồi, nhưng chắc chắc hơn nữa, đây là một phim tình hiệp. Cái màn "long tranh hổ đấu" giữa vị sư muội của đại hiệp Mu Bai là Shu Lien với Jen, nữ đệ tử của Hồ Ly, theo thiển ý của người viết, là do ghen tuông mà ra. Và sở dĩ, tới phút hấp hối vị đại hiệp mới tỏ tình với sư muội, là cũng do hối hận, vì đã để lòng mình ngả nghiêng, trước "tài sắc vẹn toàn" của Jen, qua những màn đấu "giao hữu" trên những ngọn cây xanh, giữa ông và người nữ đệ tử xinh đẹp của Hồ Ly (nên nhớ, cuộc tình giữa hai người đã không thể thực hiện, vì người yêu trước của Shu Liên là bạn của Mu Bai).
Như đạo diễn Ang Lee của Ngọa Hổ Tàng Long nói, "điều tôi muốn, là một giấc mơ về Trung Hoa", và ông đã đạt được. Nhưng nếu Ngọa Hổ Tàng Long là giấc mơ Trung Hoa, thì màn "khiêu vũ bằng võ nghệ" những ngọn tre, chính là giấc mơ của võ hiệp (kung-fu): Mu Bai, vị đại hiệp, trong lòng thì như dông như bão, nhưng dáng đứng trên ngọn tre lại "trầm mặc" như dáng đứng của một ông Phật; còn Jen, nữ đệ tử của Hồ Ly, bay lui về phía sau, trong cái dáng tần ngần ngơ ngẩn thật ướt át (erotic trance). Joan Acocella, tác giả bài viết "(Dancing): Jump, Fly, and Wail", trên tờ Người Nữu Ước, xem phim, nhận ra chất Ðạo (Tao) ở trong đó. Nhưng với độc giả say mê Kim Dung, họ nhận ra điều này liền, vì đây đúng là màn đấu giữa hai đệ tử của môn phái Tiêu Dao.
Joan Acocella cho rằng trong những phim Hongkong, nam hoặc nữ đều "nghiêm túc" như nhau, khi nói tới "kiếm đạo". Theo Kim Dung, kiếm đứng đầu trong mọi thứ võ khí (độc giả Kim Dung chắc khó có thể quên, lần đầu tiên Viên Thừa Chí được quỳ trước bức tượng vị tổ sư của môn phái, và sau đó, chứng kiến sư phụ Bách Thủ Tiên Vượn Mục Nhân Thanh, dùng hỗn nguyên công phóng kiếm vào thân cây ngập tới tận chuôi, trên đỉnh Hoa Sơn, trong Bích Huyết Kiếm. Trong Ngọa Hổ Tàng Long, khi Jen hỏi nhan sắc sầu muộn Shu Lien, 'Chị cũng là một kiếm sĩ", nàng trả lời, "Ðúng vậy, nhưng tôi thích đao hơn kiếm"; người xem phim tự hỏi tại sao, và sẽ thấy câu trả lời sau đó: vì kiếm cũng như trái tim vị đại hiệp đã thuộc về cô em rồi! Nói rõ hơn, Jen khi đánh cắp thanh kiếm là đã đánh cắp luôn trái tim người cầm kiếm!
Mu Bai trao tặng thanh kiếm, là để làm mồi nhử Hồ Ly, nhưng Hồ Ly không mắc bẫy, đệ tử của bà đánh cắp thanh kiếm chỉ vì "nghịch tinh"; theo tôi, điều này cho thấy, bố cục của phim Ngọa Hổ Tàng Long rất lỏng lẻo. Ang Lee chưa học được Kim Dung ở những tình tiết lắt léo, tính nghẹt thở, và kỹ thuật "rắn nằm trong cỏ" của Ðông Phương. Tôi lấy thí dụ: Trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, khi Nhạc Linh San giả làm cô gái bán rượu, và là nguyên nhân khiến Lâm Bình Chi giết người, gây họa cho toàn gia đình… phải mãi sau đó, chúng ta mới hiểu được, từ chính miệng Lâm Bình Chi, khi biết rõ bộ mặt thật của quân tử kiếm Nhạc Bất Quần: tất cả là do Tịch Tà Kiếm Phổ mà ra. Cái chết của Nhạc Linh San, ở tay người chồng hờ, mang tính tình nghiệt, củ론Ðông Phương. Do đó, trước khi chết Nhạc Linh San năn nỉ Lệnh Hồ Xung chiếu cố tới Lâm Bình Chi, và tiễn nàng ra đi, là âm thanh của những bài hát của những cô gái hái chè vùng Phúc Kiến, quê hương nhà chồng trong trí tưởng của nàng.
Joan Acocella cũng bị quyến rũ bởi tiếng nhạc trong phim Ngọa Hổ Tàng Long. Nó làm ông nhớ tới những phim âm nhạc tuyệt vời của Tây phương thập niên 1930. Vẫn theo tác giả, phim âm nhạc tuyệt vời sau cùng của Tây phương là "West Side Story", làm năm 1961. Nhưng những độc giả của Kim Dung chắc chắc một điều, Ngọa Hổ Tàng Long chưa đạt tới tinh thần của bản đàn do hai cao thủ chính tà hợp soạn, ở trong Tiếu Ngạo Giang Hồ. Ang Lee, nhà đạo diễn phim Ngọa Hổ Tàng Long, làm sao không đọc Kim Dung, và làm sao quên được cái cảnh tượng Phí Bân truy đuổi tận sát hai cao thủ chính tà là Lưu Chính Phong và Khúc Dương trưởng lão, đồng tác giả bản Tiếu Ngạo Giang Hồ, và rồi chết dưới lưỡi kiếm của Tiêu Tương Dạ Vũ. Kiếm từ hồ cầm theo tiếng đàn bật ra, kiếm tới đâu, tiếng đàn theo tới đó, khi kiếm trở lại với đàn, cũng là lúc Phí Bân biết mình trúng tử thương, nhẩy lên cao, dồn hết nội lực theo tia máu vọt ra theo vết kiếm, trông thật ghê rợn, kỳ bí! Joan Acocella đã cảm nhận được điều này, qua tiếng trống ở trong phim Ngọa Hổ Tàng Long (Drums sound, adding to the mystery). Tác giả cũng chú ý tới mầu tre xanh: một mầu xanh bạn chẳng thể nào tưởng tượng ra nổi, mềm như nhung, dầy như nêm; trong cõi siêu thực như thế đó nổi lên hai cánh chim trắng là Jen và Mu Bai…

Ðao hơn kiếm hay kiếm hơn đao? Ðây cũng là một bài toán hắc búa, theo tôi, một "đệ tử" của Kim Dung. Trong Lãnh Nguyệt Bảo Ðao, thì đao lại đứng đầu, với Hồ Gia Ðao Pháp. Ðây là một tuyệt tác của Kim Dung, nhưng là một tuyệt tác "hỏng", theo nghĩa còn nhiều sơ hở, cho nên nó là một tuyệt tác. Chính tác giả cũng đã nhận ra những sơ hở này, và đã tìm cách viết lại tác phẩm (lần đầu xuất hiện với cái tên Thần Ðao Hồ Ðại Ðởm). Kim Dung là bậc thầy, trong quan niệm "cái đẹp thì tuyệt hảo, do bất toàn". Lục Mạch Thần Kiếm: tuyệt hảo, nhưng lúc sử dụng được, lúc không. Dịch Cân Kinh: tuyệt hảo, nhưng "cố tình học" là không được, nếu chối đây đẩy, nó lại bám chặt lấy bạn, gỡ không ra! Bẩy mươi hai tuyệt kỹ Thiếu Lâm, chỉ Ðạt Ma tổ sư là kiêm đủ…
Nhìn theo quan niệm trên, Ngọa Hổ Tàng Long đúng là một giấc mơ Trung Hoa đã trở thành hiện thực.


2. Phỏng vấn Cynthia Ozick nhân dịp bà đoạt giải thưởng National Book Critics Circle Awards về phê bình (Best Criticism).

Kể từ khi cuốn tiểu luận "Art & Ardor" lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1983, nữ văn sĩ Cynthia Ozick đã được coi như là một trong những tiểu luận gia sáng giá nhất ở Mỹ. Cuốn tiểu luận thứ tư "Quarrel & Quandary" chẳng thua gì những cuốn trước đó, và là những khai phá của bà về những vùng đất còn nhiều mầu mỡ, thí dụ như liên hệ giữa nghệ thuật và chính trị. Ðộc giả VHNT đã biết tới Cynthia Ozick, qua bài viết "Thông Ðiệp của Anne Frank", dựa theo bài viết của bà, trên tờ Người Nữu Ước, nhan đề là "Who Owns Anne Frank?" (Ai sở hữu Anne Frank?)
Nhân dịp bà được giải thưởng về phê bình, trang nhà Amazon.com đã thực hiện một cuộc phỏng vấn bỏ túi; người phỏng vấn là James Marcus. Cuộc phỏng vấn nhắm vào một số dề tài như: văn chương dấn thân, [trường hợp] Kafka, vấn đề dịch thuật, và về tình trạng lãng phí: "thơ bốc hơi" (tạm dịch cụm từ "the unhappy profusion of poetic vapor").
Sau đây là trích dịch một số câu hỏi, và trả lời của bà.
Amazon.com: Trong bài tựa cuốn tiểu luận "Quarrel & Quandary" ("Cãi Cọ & Khó Xử"), bà ứng xử thật tài tình với câu hỏi [thế nào là] dấn thân chính trị, và còn chiếm được thượng phong. Liệu có thể coi chính trị rốt cục cũng chỉ là trò tầm phào so với nghệ thuật, hay đây chính là thức ăn của nghệ thuật?
Cynthia Ozick: Dấn thân, theo với tuổi đời, là một vấn đề sinh tử, chứ không phải chuyện chơi. Tôi không muốn nói theo kiểu những chiến dịch tranh cử hiện giờ. Tôi chẳng quan tâm đến những gì Gore nói ngày hôm qua và Bush nói ngày hôm nay. Ðiều tôi đang nghĩ tới là [tác giả] E.M. Forster, người đã dấn thân hết mình với vấn đề chủ nghĩa thực dân của Anh ở thuộc địa Ấn, và đã viết một cuốn tiểu thuyết đáng kể về vấn đề này.
Amazon.com: Nhưng bà có tha ông ta đâu, trong một tiểu luận nhan đề là "Những trí thức công cộng" (Public intellectuals)?
Ozick: Ðúng như vậy. Vào năm 1941, trong khi Ðức Quốc Xã đang tính nuốt chửng Âu Châu, ông ta vẫn thản nhiên bàn về nghệ thuật và chỉ nghệ thuật mà thôi. Ông thẳng thừng thú nhận: nếu là một nạn nhân, chắc là ông ta sẽ quan tâm tới vấn đề đó. Ðây là trước khi xẩy ra [vụ] Blitz ở London, có lẽ vậy.
Amazon.com: Ðiều này chứng tỏ cuốn "Ðường tới Ấn" ("Passage to India") sẽ vẫn còn hoài, so với những tác phẩm khác của ông ta. Và điều này khiến tôi đặt ra câu hỏi tiếp theo: Trong tiểu luận trên tờ Người Nữu Ước, về Lionel Trilling, bà viết: "Thời gian biến tiểu thuyết thành cổ điển, [biến] tiểu luận phê bình thành những tài liệu mang tính triệu chứng (symptomatic documents), về một thời đại." Liệu có chung một phân biệt như vậy, giữa những giả tưởng và tiểu luận của chính bà?
Ozick: Ô, tuyệt đối là như vậy! Chẳng có gì để mà bàn cãi. Bất hạnh thay, cũng có cả lố những giả tưởng [chỉ] là triệu chứng của một thời. Không phải bạn viết một cuốn tiểu thuyết là bạn sản xuất ra một tác phẩm cổ điển.


3. Hội thảo về Tự thuật, Tiểu sử và Hồi ức.

Tờ điểm sách Partisan Review, số mùa Xuân 2001 là một hội thảo đặc biệt dành cho ba thể loại nói trên, với sự tham dự của những người viết, những học giả hiện đang giảng dậy tại những đại học lớn trên thế giới. Trong bài giới thiệu, Jon Westing, Khoa Trưởng Ðại học Boston đã coi đây là một trao đổi hành lý qua những cuộc lữ của những người tham dự cuộc hội thảo, và những cố gắng nhằm vẽ lại những dặm trường của những người khác. Những đề tài chính của số báo: Mức độ tin cậy của thể loại tiểu sử (Tiểu sử thực tới mức độ nào, so với đời sống?): Trường hợp viết tiểu sử Orwell, tiểu sử Do thái, thời tính trong tiểu sử. Những phương thức viết về mình: Quá khứ như là giả tưởng. Cá nhân và cá thể (The Personal and the Individual). Ðiệu ru xanh cho châu Mỹ (Blues for Amarica). Làm sao nắm bắt những hồi ức chọn lọc? [Vấn đề] sự kiện và giả tưởng trong ba thể loại kể trên.
Norman Mannea, người Romania (bạn đọc VHNT đã làm quen với ông, qua bài viết "Số phận một nhà văn lưu vong", trên Tin Văn), qua đề tài "Quá khứ như là Giả tưởng", đã nhắm vào điều mà ông gọi là "Tiểu sử như là Ngôn ngữ". Ông viết, "Tôi là một nhà văn lưu vong, một nhà văn mất ngôn ngữ của mình, và theo một cách nào đó, mất tiểu sử của mình [đi theo cùng] với ngôn ngữ đó. Tuy nhiên, giống như một con sên, tôi đeo theo với tôi cái nhà của mình. Nhà của Sên…. chắc là bạn nhận ra điều tôi muốn nói: đây là viễn tượng về một con sên trong căn nhà của nó, thò ra khỏi nhà, chơi trò người xa lạ ở Mỹ."
Ông cho rằng, "không phải ngẫu nhiên mà tờ Partisan Review chọn những chủ đề trên. Ngày nay chúng ta đối diện với đủ thứ hồi ức, tiểu sử, tự thuật, chúng tràn ngập thị trường văn hóa. Tôi không nói tới những tiểu sử được viết bởi dân nhà nghề - trong số này, có những cuốn rất tốt, rất có ích, tạo thách đố - nhưng về một hiện tượng phổ thông: những cuốn thuộc thể loại trên, được sản xuất bởi chính công chúng, chứ không phải do dân trong nghề viết ra. Có thể điều này cho thấy sự thể hiện của dân chủ: mọi người ngày càng cảm thấy, chúng ta không phải chỉ có quyền đi bầu, và những quyền hạn khác ở nơi công chúng, cộng đồng, mà còn có quyền phơi bầy cái con người riêng tư là mình ra trước mọi người."
Là một nhà văn lưu vong "muộn", ông tự bầy tỏ về mình, "tôi rời Rominia khi đời mình đã xế chiều, thành thử quê hương không ở với tôi, như là một miền thơ ấu xa vời chỉ có ở trong trí tưởng tượng, mà là một ám ảnh trần thuật bực bội, căng thẳng. Nếu nói về những cội nguồn Ðông Âu, tôi không thấy mình có quyền đòi hỏi một chút di sản nào, từ cái gia tài Do Thái, hoặc một nối kết nào với lịch sử Do Thái, về những mặt như là quí tộc, tông giáo. Tôi đúng làmột thứ phó hậu duệ (second-rate heir), một phó sản phẩm loại nhì, loại ba gì đó, của một vài thế hệ… sống ở Romania sau chiến tranh, tôi phải chọn lựa giữa chủ nghĩa cộng sản và tính Do Thái (Jewishness). Gần như ngay từ mới khi mới mười mấy tuổi, tôi đã chọn lựa một giải pháp hàm hồ hơn nhiều: một thứ giải pháp không giải pháp: văn chương. Bạn có thể nhớ, Freud đã từng hỏi chính ông ta, cái còn lại, ở một người Do Thái, khi người đó không theo một tông giáo, không có tinh thần quốc gia và không biết, ngay cả ngôn ngữ của Thánh kinh. Và người Áo gốc Do Thái rất ư là hội nhập đó đã trả lời: "Còn cả lố". Nhưng ông chẳng hề giải thích ông muốn nói gì. Có lẽ chúng ta đành chấp nhận một khẳng định rất ư là mơ hồ như trên. Còn cả lố!"
"Chắc chắn một điều, bây giờ tôi biết nhiều về viết tự thuật, điều mà tôi đã cố tránh, trong những năm Romania của tôi. Sau cùng, Mỹ đã đẩy tôi vào. Do đó, tôi quyết định tới đây, tham gia vào cuộc hội thảo này".

***

4.Tác phẩm "Ði về nơi hoang dã" của Nhật Tuấn được tái bản.

"Ði về nơi hoang dã" là một tiểu thuyết của Nhật Tuấn ra đời từ năm 1990 ở trong nước vào giai đoạn mà cựu Tổng Bí Thư Ðảng CSVN Nguyễn Văn Linh ra lệnh "cởi trói" cho các văn nghệ sĩ. Vào thời điểm này, hàng loạt tác phẩm có giá trị được ra đời như Những Thiên Ðường Mù của Dương Thu Hương, Mùa Lá Rụng Trong Vườn của Ma Văn Kháng, Ly Thân của Trần Mạnh Hảo, Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh, Thời Xa Vắng của Lê Lựu, Chuyện Tử Tế (tác phẩm điện ảnh) của Trần Văn Thủy v.v...
Tuy nhiên số phận của ngay chính những tác phẩm này cũng mang nhiều sắc thái khác nhau. Có những cuốn được nhắc nhở ồn ào nhưng cũng có cuốn bị rơi vào im lặng tùy theo Ban Văn hóa Tư tưởng Trung ương của ÐCSVN đánh giá mức độ "nguy hại" của mỗi cuốn. Ði Về Nơi Hoang Dã là cuốn được coi là tệ hại nhất đến nỗ nguyên Cục trưởng Cục An ninh Văn hóa hồi đó đã phải đập bàn khi đọc xong: "Nếu phải đánh thì đánh cuốn Ði Về Nơi Hoang Dã của Nhật Tuấn chứ không phải Những Thiên Ðường Mù của Dương Thu Hương, Ly Thân của Trần Mạnh Hảo"! Ừ thì đánh, nhưng đánh về cái tội gì khi mà nội dung cuốn sách không "chống Ðảng", không "nói xấu lãnh tụ", không có tính cách "gây hận thù hay chia rẽ dân tộc"? Phân tích ra thì nó chẳng có tội gì mà đánh, nhưng càng đọc, người ta càng thấy tức anh ách, đọc xong rồi chỉ muốn giam cuốn sách vô tù. Tại sao thế nhỉ? Ở những cuốn tiểu thuyết mang màu sắc phản kháng khác (Những Thiên Ðường Mù, Thời Xa Vắng, Ly Thân...) các tác giả còn muốn tranh cãi, muốn triết luận với chủ nghĩa xã hội quanh các vấn đề cải cách ruộng đất, hợp tác hóa nông nghiệp, hòa bình và chiến tranh... Nhưng cuốn Ði Về Nơi Hoang Dã thì không - nó không đối diện, không hội luận, không trao đổi gì hết, nó cũng chẳng buồn nhắc tới cái chủ nghĩa ấy tới một lời. Nó chỉ mô tả cuộc đời của những con người tiêu biểu ở trong cái xã hội đi theo mô hình đó và chỉ miệt mài mô tả mà thôi. Hại thay, khi càng mô tả con người với tấm lòng yêu thương chan chứa của mình thì tác giả lại càng chứng tỏ ra khinh miệt, không muốn tranh cãi, không có gì đáng để nói tới đối với những thế lực đã gây nên sự đầy ải con người một cách kinh khiếp đến thế như đã được phơi bày trong tác phẩm. Thế thì chủ trương để cho cuốn sách rơi vào hố thẳm của im lặng là một lẽ đương nhiên.
Năm 1990, nhà xuất bản Việt Nam ở California đã cho tái bản cuốn này lần đầu tiên ở hải ngoại. Tuy nhiên, do tình hình thời cuộc chưa đủ chín mùi, do tâm lý nhìn bất cứ cái gì xuất thân từ phía bên kia cũng đều nằm trong sách lược của nhà nước CS vốn còn là tâm lý chung của đám đông, cho nên mới có tình trạng cuốn sách biên soạn công phu mang tên Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương in năm 1990 do 27 tác giả ngoài nước viết về 79 tác giả trong nước trong cao trào văn chương phản kháng đã bị vài nhóm biểu tình chống đối và bản thân cuốn sách Trăm Hoa Vẫn Nở Trên Quê Hương thì bị kéo lê trên đường phố Bolsa một cách cực kỳ thô bạo và tăm tối. Trong hoàn cảnh ấy, một lần nữa cuốn Ði Về Nơi Hoang Dã lại rơi vào hố thẳm của im lặng.
Những tháng gần đây, thuộc đầu năm 2001, một Web site của một nhóm trí thức trẻ ở hải ngoại, Web site Hội Nghị, đã tự ý đưa lên mạng lưới toàn cầu một vài chương đầu của tác phẩm này. Nó bỗng nhiên được hưởng ứng nồng nhiệt và có nhiều ý kiến đề nghị nên cho tái bản một lần nữa. Ðó là nguyên do tác phẩm Ði Về Nơi Hoang Dã được mang trở lại ánh sáng mặt trời với sự hỗ trợ và quan tâm nhiều hơn của giới viết lách và truyền thông ở hải ngoại.
Một buổi ra mắt sách sẽ được tổ chức ở Nam California vào ngày 7-4-2001 dưới sự bảo trợ của nhật báo Người Việt, nhật báo Việt Báo, tạp chí Thế Kỷ 21, Công ty Truyền thông Kicon.com, Ðài phát thanh VNCR, Ðài truyền hình Little Saigon Televison, Ðài phát thanh Little Saigon Radio, cùng một số thân hữu.

Ðộc giả có thể tìm đọc tác phẩm Ði Về Nơi Hoang Dã của Nhật Tuấn đã được bày bán ở các tiệm sách, hoặc:
Website: http://caydabooks.vinamall.com
hoặgửi thư về địa chỉ :
Nhà xuất bản Huyền Trân
PO Box 1670
Garden Grove, CA 92842 - USA
Email address: Nxbhuyentran@aol.com

Giá sách 12.00 USD - ngoài Hoa Kỳ 15.00 USD - kể cả cước phí
(Ngân phiếu xin đề tên: THUAN DO)
[Chú thích: Thông báo gửi báo chí]

 

Những Cây Cọ Dại
(Ðọc Gió Ngược của Lâm Chương và
Tình Ca Con Dúi của Nguyễn Thị Thảo An
)

Nguyễn Quốc Trụ

Phần (3)


Những Cây Cọ Dại
(Ðọc "Gió Ngược" của Lâm Chương và "Tình Ca Con Dúi" của Nguyễn Thị Thảo An)
Phần 3
"Lịch sử tan rã ra bằng hình ảnh, không phải bằng tự sự." ("History decomposes into images, not into narratives." Walter Benjamin, trích dẫn bởi Coetzee). Hình ảnh cái đầu khổng lồ rã ra từ một bức tượng khổng lồ của Lênin. Hình ảnh một con người chặn cả đoàn xe tăng ở quảng trường Thiên An Môn. Cái bóng (có thực, hoặc tưởng tượng) của một người đàn ông lỡ độ đường, lom khom với bọc quần áo, in lên nền trời, mỗi lần hoả châu rực sáng, trong truyện ngắn "Dọc Ðường" của Thanh Tâm Tuyền. Ðộc giả "Gió Ngược" sẽ tự hỏi, tại sao hình ảnh một con mèo lại ghi đậm trong trí một người tù, thay vì những hình ảnh khác?
Miêu Nữ (tại sao Miêu Nữ?), là tên con mèo của người tù Biên Khùng. Khi anh đi tù, vợ anh bỏ anh, theo một cán bộ tiếp quản. Anh cay đắng, hận thù đàn bà… nhưng như trên đã nói, nếu bám chặt dữ kiện, là không hiểu được Biên Khùng. Chúng ta, những độc giả của Lâm Chương, không phải ai cũng (đều) có những kinh nghiệm trại tù; và dù có, cũng không phải là những kinh nghiệm như nhau. Hơn nữa, bất cứ một bản văn đều là chuyển dịch (translation) một kinh nghiệm (có thực, hoặc tưởng tượng) vào trong những con chữ. Mỗi chuyển dịch một mất mát. Và mỗi mất mát một thu nhập, vòng luân hồi cứ như thế mà sinh sinh hoá hóa. Người tù dồn hết tình thương cho con mèo; khi nó động đực, cố tìm cách cho con vật được thoả mãn: chi tiết này giải thích lòng tha thứ cho người vợ, của Biên Khùng. Những chi tiết "tràn lan" ở trong truyện, "nói lên" sự ghen tuông, căm hận… của người tù, đối với người vợ, đối với những ngày cay đắng ở trong tù… cho dù có thực, chỉ là thứ yếu, so với chi tiết "ngầm" này. Khi người tù được tha, anh bỏ mặc con mèo ở lại, chỉ mang theo cái nhau khô; con mèo không thể nào quên được "tri kỷ" của nó và cứ quanh quẩn nơi trại tù, hỏi con người, hỏi cảnh vật: bố nuôi tôi đâu? Lời trách móc, nếu có thể gọi như vậy, lại nhắm vào người tù, không phải vào người vợ ở "nhà mà không phải là nhà"謠tức là một miền nam đã đổi chủ.
Một người quen đã "thực tình" hỏi người viết: liệu những gì xẩy ra ở trong trại tù, như Lâm Chương miêu tả, có 'thực sự" xẩy ra không?
Tại sao, câu hỏi?
Ðâu phải Lâm Chương là người đầu tiên viết về trại tù?
Từ đó, câu trả lời: lần đầu tiên, hình ảnh trại tù "đi vào văn chương", như là một "vụ án", khi nó đối đầu với một "vụ án" khác, thí dụ như vụ án liên quan tới cái chân cả quỷnh của một đứa trẻ. Lần đầu tiên lịch sử (trại tù) rã ra qua hình ảnh một con mèo và những cơn rạo rực của nó, dưới cái nhìn của những người tù xa vợ con, hoặc chẳng bao giờ gặp lại vợ, cho dù có ngày ra khỏi trại tù.
Theo tôi, trả lời được câu hỏi, làm sao sống sót trại tù, là trả lời câu hỏi, làm sao (sống sót) hội nhập.

Ðiểm và Diện là vấn đề "sinh tử" của văn chương, nếu quan niệm văn chương chỉ là một cõi giả tưởng, và nó chỉ khả hữu, khi bám vào một "điểm" hiện thực. Cõi Thiên Thai của Lưu Nguyễn chỉ có ý nghĩa, khi hai chàng trở về trần, và không thể quay lại. Có lần người viết đã dùng hình ảnh Tôn Ngộ Không - đằng vân du ngoạn khắp mọi cõi ta bà, rồi "tè" một phát mà vẫn chưa ra khỏi miếng đất của quê hương - để nhấn mạnh đến tính hiện thực ở trong văn chương. Georg Lukacs coi tiểu thuyết là dạng văn học chủ yếu của một thế giới mà con người không cảm thấy ở nhà và cũng không cảm thấy hoàn toàn xa lạ với nó, và cái việc trở về trần, hành động "tè" một phát, là bắt buộc phải có, bởi vì đây là lúc ý thức tiểu thuyết gia vượt ý thức nhân vật để trở về đời sống thực. Trong "Kẻ Xa Lạ" của Camus, khi nhân vật Meursault bắt buộc phải giải thích, tại sao tiếp tục xả hết băng đạn vào người Ả Rập ở trên bãi biển - bởi vì nắng làm chói mắt - thì đó là "diện" (tiểu thuyết), nhưng khi anh "mở lòng mình ra lần đầu tiên trước vẻ xa lạ dịu dàng của cõi đời", thì đó là "điểm" (hiện thực). Như vậy, nếu coi đoạn mở truyện là "giả", ở cả "Tình Ca", và "Gió Ngược", thì chính thân chuyện mới là "thực".

Với Kim Dung, hiện thực là điểm mở ra cuốn tiểu thuyết. Những độc giả say mê Kim Dung chắc đều nhận ra một vài món tủ của ông: mở truyện thường bằng một chi tiết, hay một sự kiện lịch sử. "Cô Gái Ðồ Long" mở ra bằng một một sự kiện "bịa đặt" cách "Cô Gái Ðồ Long chính truyện" là 300 năm, chi tiết bịa đặt này liên quan tới lịch sử: thành Tương Dương bị phá, Quách Tĩnh, Hoàng Dung tuẫn tiết theo thành, sau khi giấu võ công và binh thư vào Ỷ Thiên Kiếm, Ðồ Long Ðao; Quách Tường lang thang góc bể chân trời cố tìm dấu vết của người tình vô vọng là Dương Qua. Nàng tới Thiếu Lâm, gặp Côn Luân Tam Thánh, rồi sau đó nàng, Trương Tam Phong mỗi người học được một số mẩu đoạn của Cửu Dương Chân Kinh, mở ra những môn phái lớn trong thiên hạ là Nga My, và Võ Ðang… Những mẩu đoạn của Cửu Dương Chân Công tan rã ra, làm thành những môn phái này nọ, rồi tụ lại qua nhân vật Vô Kỵ. Kim Dung được coi là thuộc chính thống, nếu nói về cách dựng truyện võ hiệp theo kiểu cổ điển: hai dòng chính phái đối đầu, một nhân vật tượng trưng cho chính phái, qua bao gian truân rồi chính ắt thắng tà. Nhân vật chính phái nổi đình nổi đám nhất của ông là Kiều Phong, ngay đến giòng giống, tên họ của mình cũng không hay, không có miếng đất cắm dùi, cuối cùng chết ở biên giới hai nước… Cái chết của Kiều Phong, tự tử, là coi như chấm dứt nhân vật tượng trưng cho chính phái "một trăm phần trăm", "72 phần dầu". Những nhân vật sau đó, ngả dần sang tà, như Lệnh Hồ Xung, rồi Vi Tiểu Bảo… Cách viết truyện "chính thống" chấm dứt, với Kim Dung. Muốn tiếp tục, phải đổi khác nó đi, từ đó, nẩy ra nhân vật Lục Tiểu Phụng, và cách viết theo kiểu "truyền kỳ", của Cổ Long…

Giả dụ có một cuốn bí kíp võ công gọi là "văn chương Việt Nam", và những mẩu đoạn của nó ở hai bên bờ một đại dương… Giả dụ, có một "chi tiết" lịch sử: cuộc chiến chưa chịu.. thôi; giả dụ, có một mảnh đất, mà Quách Tường đã khuyên bảo Côn Luân Tam Thánh: tại sao không bỏ Trung Nguyên, giữ lấy Tây Vực (hải ngoại?); giả dụ, có một chính phái (quốc gia, tự do, Tây phương dân chủ), và một tà ngụy( chủ nghĩa toàn trị)…

"Vừa bước xuống phi trường, tôi quên phứt chuyện này [mật gấu]. Niềm vui đoàn t chen lẫn nỗi xót xa khi điểm lại những người thân còn, mất. Mười tám năm, thời gian đủ biến tôi thành kẻ lạ. Cái quê hương tôi hoài niệm bấy lâu, giờ chỉ là ảo ảnh. Dù ở trong ngôi nhà cũ, hay lang thang trên hè phố, tôi vẫn như một cánh chuồn chuồn la đà, không chỗ đậu."
("Tình Ca Con Dúi")

Chuyến về thăm quê hương là thực, nhưng quê hương là giả, bởi vì quê hương thực chỉ có ở trong quá khứ mười tám năm về trước. Khác với "Gió Ngược", người tù trở lại trại tù, dù trong trí tưởng, vì đây chính là nhà của anh, theo nghĩa, ở đó, anh có tất cả: bạn bè, trong đó có Biên Khùng và "Miêu Nữ".

Chuyến đi cao nguyên bất ngờ, do bão lụt miền Trung làm hụt chuyến du ngoạn theo dự trù. "Vừa bước xuống phi trường, tôi quên khuấy…", câu văn thật "thực tế" nhưng chỉ người nào "dám" toan tính chuyện trở về mới hiểu được. Chuyến đi Tây Nguyên ngoài chương trình lại như đầy chủ ý: trong cuộc chiến Việt Nam, ai chiếm được cao nguyên là làm chiếm được… Trung Nguyên.
Tất cả là giả. Mật gấu, giả, cho dù do chính người Thượng bán. ("xưa nay chỉ thấy người Kinh gạt người Thượng, chưa từng có người Thượng gạt người Kinh. Ðây là mật con gì, có trời mới biết."). Rồi tới ông Già Làng, cũng đồ giả.
Thực, là những chi tiết thật tỉ mỉ về chuyến đi bất ngờ. Về người bạn trai bất ngờ. "Tôi ngạc nhiên, nhà Rông có nhiều kiểu. Anh tài xế bảo, huyện có nhiều làng, mỗi làng là một sắc tộc… loại sàn nứa, vách dài, mái dốc đứng như hai bàn tay chắp lạy, của người Tơ Drá; loại… của người Cơ Tu; người Bà Na…"… "Anh tài chỉ, trông cách ăn mặc địu con thì biết. Người Gia Rai mặc váy chàm, tua trắng; váy người Cơ Ho viền đỏ; dân Hré quấn váy hai tầng… Ðàn bà Chu Ru địu con đằng trước, trong khi Bà Na lại địu đằng sau…".
Vượt lên tất cả, là Người Ðẹp: Y Sao.
Ở đoạn mở, người đọc chỉ biết, đứa con trai thất tình vì cái chân cả quỷnh. Sự tò mò của độc giả, về tên truyện, về "con bạn học hàng ngày thân thiết như đôi tình nhân từ chối một cách thẳng thừng… nó không oán con bạn, cứ hận đôi chân tật nguyền"… đến đây mới được thoả mãn. Nhưng thoả mãn rồi, vẫn chưa hết tò mò. Về Người Ðẹp. Và về… chính nhân vật xưng "tôi", người kể chuyện. Ở đây có ba nhân vật, tạo thành một thế tam giác xoay quanh con thú và cái mật gấu của nó: Y Sao, người đẹp. A Mang, người Thượng, người đẫn đường, và cô gái Việt Kiều. Bất thình lình, Con Thú xuất hiện, không phải con thú có mật gấu quí báu, mà là "người chủ" thực sự của cái mật gấu. Nguời đọc tự hỏi, liệu có sự ghen tuông, khi cô gái Việt Kiều "thản nhiên" chứng kiến cảnh Y Sao bắt buộc phải hiến thân cho người cán bộ (để cứu bản làng, cứu A Mang?), và khi cô đồng tình, khi nhận cái mật gấu từ người cán bộ.
"Qua một đêm, A Mang hồi phục hẳn. Hắn hăng hái vác hành lý đưa tôi qua trại. Dọc đường, A Mang bảo, từ nay sẽ ở lại làng. Tục Thượng, con gái chưa chồng thất tiết bị coi là tội loạn luân, làng phạt rất nặng. Tôi hỏi, phạt thế nào? Hắn nói, có thể bị đền trâu….. Ðó là nỗi nhục lớn. Không rửa được. Nói tới đây, A Mang đanh giọng, phải ở lại để giúp Y Sao. Thì ra, hắn biết hết mọi chuyện. Gần tới nơi, A Mang đứng lại, trao hành lý rồi ù té chạy. Tôi ngó theo. Sức hắn dai như con thú, mang vết thương mà sống giữa đời?"
Người đọc thử đổi khác câu chót: "Gần tới nơi, A Mang trao hành lý, rồi ù té chạy. Tôi ngó theo… làm sao mang vết thương mà sống, ở nơi xứ người?"

Giả thật, còn nằm ở trong cách viết của Thảo An. "Khi nhà văn xuất hiện, là mở ra một vụ án văn chương" (Roland Barthes). Những cây viết như Miêng, Thảo An, Mai Ninh, Lê Minh Hà… bạn đọc có thể ưa người này, không ưa người kia, nhưng chắc chắn phải đồng ý: họ không để lẫn mình vào với nhau, hay với những cây viết khác. Nếu có gì giống nhau ở những cây viết kể trên: họ rất quí trọng văn chương, và không hề có ý định làm nhục văn chương, làm cho nó trở thành điếm đàng, thành đồ giả. Ở Miêng, bà hình như còn muốn một điều chi khác, vượt lên trên cõi ngôn ngữ. Với Thảo An, điều bà muốn, qua một văn phong trầm tĩnh, gạt hẳn tình cảm hận thù, gạt hẳn tình cảm sướt mướt, bù lu bù loa… chỉ giữ lại, điều này: nhà văn, như là một người mô tả những sự kiện.
Bởi vì, "Tất cả tính sự kiện, thì đã là lý thuyết" ("All factuality is already theory". Goethe).


Nguyễn Quốc Trụ


ÐỌC TRUYỆN NGẮN CỦA TRẦN THỊ NGH.

Lương Thư Trung



Vào những ngày mùa Ðông giá buốt, tôi thường ngồi một mình, đọc lại vài tác phẩm được các nhà văn sáng tác vào những năm cuối thập niên 60 hoặc đầu thập niên 70 như một cái thú tìm về những bến bờ kỹ niệm lúc mình còn trẻ . Chẳng hạn Những Nhánh Rong Phiêu Bạt, Trầm Mặc Cây Rừng, Bên Kia Ðường của Võ Hồng, Bất Cứ Lúc Nào, Bất Cứ Ở Ðâu của Nguyễn Xuân Hoàng, Ngày Qua Bóng Tối của Nguyễn Thị Hoàng, một vài truyện ngắn của Trần Hoài Thư trên tạp chí Bách Khoa được tác giả trích đăng lại trong các tập truyện Về Hướng Mặt Trời Lặn, Mặc Niệm Chiến Tranh, và tập truyện Chiếc Xương Lá Mục, tác phẩm cuối cùng của nhà văn Y Uyên, một nhà văn rất trẻ vào thời điểm ấy, và khi từ giả cõi đời, vào ngày 8 tháng Giêng năm 1969, mới hai mươi sáu tuổi .
Bất chợt, tôi lại tò mò đọc tác phẩm đầu tay của nhà văn Trần Thị NgH có cùng tên với tác giả, "Tập truyện ngắn Trần Thị NgH", do nhà Văn Nghệ (Hoa Kỳ) vừa mới xuất bản, gồm cả thảy mười một truyện ngắn . Trong tất cả các truyện ngắn, tác giả có ghi chú ngày tháng viết xong ở cuối truyện, đã cho người đọc làm một phép tính trừ là tập truyện ngắn này được tác giả trải dài thời gian sáng tác gần ba mươi năm, với truyện mở đầu Nghĩ Mát Ở Bãi Biễn viết năm 1969 và truyện cuối, Mộ Chí, được viết xong vào tháng 10 năm 1998.

Mặc dù là một tập truyện gồm nhiều truyện ngắn nhưng qua nhân vật chính trong mỗi truyện là một người con gái, rồi trở thành đàn bà, xưng "tôi", có cùng một cung cách ứng xử, cùng một cá tính đặc thù, cùng những biến đổi, những dùi dập, những chịu đựng các hoàn cảnh bên ngoài cũng như về nội tâm trong cuộc sống trong vòng ba mươi năm qua, tác giả đã cho người đọc nhận ra cái nhất quán của tập truyện là cái khởi đầu và cái chung cuộc của tác phẩm giống như thân phận của nhân vật chính là một cô gái xưng "tôi" trong một truyện dài . Chỉ trừ một truyện duy nhất là Ðường Về (trang 23) dường như biệt lập, không dính dáng gì đến các truyện khác, còn lại là một mạch chảy xuôi theo thời gian với nhiều dằn vật, đớn đau của một người con gái sanh ra trong hoàn cảnh xã hội có nhiều xao động về mọi mặt, con người luôn luôn chạy theo đời sống lấy vật chất làm lẽ sống, lấy hiện sinh làm niềm vui, coi nhẹ mọi giá trị khác của đời sống.
Bắt đầu với Nghĩ Mát Ở Bãi Biển, nhân vật chính là Nguyệt, xưng "tôi", đã nói về mình:
" Tôi nói tôi vẫn mở cái đời sống tôi tanh banh đó chớ, nếu không tôi đã tự tử, tôi nói từ thuở nhỏ tôi đã phải tập sống một mình, chị Tàm đã bỏ đi Mỹ, ngày đầu tiên tôi ra đời bằng xe lam mặc áo cổ hở, tôi mười tám tuổi, bữa đó, tôi uống rượu với ngươi ngoại quốc, tôi về nhà nửa đêm nghe ba say sưa, nghe ba ca hát nói tục, tôi một mình chịu đựng hết những cái đó, tôi mở ra đón lấy hết." (trang 15) Tiếp theo đó là truyện Trưa Mát Mẻ, như một gạch nối làm cho các truyện lại liên tục :"Tôi về nhà chúc chị Tàm hạnh phúc, gặp đủ hết trơn, chỉ thiếu chị Ba bận bịu con nhỏ không bỏ nhà lên Sài Gòn được ."(trang 33).
Rồi nào là những nhân vật phụ như Tấn, như Dự, như Trường có mặt ở truyện trước cũng dự phần vào trong truyện này . Ðến truyện Nhà Có Cửa Khóa Trái (trang 47) chỉ có hai nhân vật chính là "tôi" và "chàng" nhưng người đọc cũng nhận ra một bước chân hoang khác của nhân vật xưng "tôi" ở các truyện ở đầu tập sách. Ðến truyện Hè Tiếp Tục, nhân vật xưng "tôi" đã nhắc một chút về mình như một minh chứng thêm diễn tiến của các tình tiết của một mảnh đời duy nhất :"Mười một tuổi tôi học lớp Ðệ Thất. Khoảng giữa niên học, một buổi chiều ra chơi tôi ngồi lại lớp nuốt trộng hết tám viên thuốc trong cái ống Optalidon lẻ mang theo từ nhà . Không hề gì ... Tôi tiếp tục đi học, lớn, bị ám ảnh bởi ống thuốc rỗng đã ném ra đường cho xe cán bẹp dí, móp méo . Mười sáu tuổi tôi viết nhật ký, bắt đầu yêu, thù gia đình. Sinh nhật thứ mười bảy tôi uống Tranquanil và ngủ một mình trong phòng hai ngày không ai hay biết. Tỉnh dậy thấy mình còn sống tôi bắt đầu trang điểm, ra phố sắm những chiếc áo dài hoa hòe đầu tiên . Hai mươi mốt tuổi tôi thành đàn bà sau một đêm đi biển với người bạn không thân. Tôi thất vọng nhưng vui thích với sự đau khổ . Năm nay tôi hai mươi bốn tuổi, yêu lang bang."(trang 59)
Và rồi, đến truyện Người Thuận Tai Trái, tác giả cho nhân vật xưng "tôi" kể tiếp :" Sau khi tự tử vài lần vì tò mò, tôi quyết định không chơi nữa, lấy chồng."(trang 77). Và những truyện tiếp sau đó, dù với nhiều đổi thay của tuổi đời, của hoàn cảnh sống, của thời gian không gian có khác đi nhiều vì đã qua đi ba mươi năm rồi còn gì, nhưng với truyện sau cùng là Mộ Chí, một kết thúc của toàn tập hay một dấu chấm hết của thân phận nhân vật xưng "tôi" từ đầu chí cuối trong toàn tập truyện của Trần Thị NgH. Ðó là cái nét liên tục, nối kết của nhiều truyện ngắn với nhau quả là nét đặc thù của Trần Thị NgH khá hiếm hoi trong các tuyển tập truyện ngắn có mặt trên văn đàn từ trước đến nay .

Nhưng có lẽ cái nét nổi bật trong truyện của Trần Thị NgH là tác giả đã đưa ra được một nhân vật nữ với đời sống nội tâm của một người thanh niên có mặt trong giai đoạn xã hội đang chịu ảnh hưởng của nền văn minh tây phương về vật chất, về sách vở, về nếp sống nơi thành thị . Trong tâm thức của nhân vật chính này luôn luôn bị dằn xé, bị chi phối bởi những hoàn cảnh chung quanh trong khi chính mình lại muốn sống một đời sống tự lập, muốn thoát ra một mình để không bị ràng buộc vào cái gia đình luôn luôn có những cơn say của cha mình như một nổi ám ảnh. Bằng chứng là nhân vật chính xưng "tôi" đã nhiều lần muốn tự tử như muốn lánh thoát khỏi đời sống trần tục chán chường mà mình đang sống. Rải rác trong truyện của Trần Thị ngH, tác giả đã cho người đọc nhn ra điều đó . Trong truyện Hè Tiếp Tục, tác giả có lược kể lại trường hợp nuốt trộng tám viên thuốc trong cái ống Optalidon khi cô bé học trò lớp Ðệ Thất mới mười một tuổi như muốn thử đùa với cái chết . Từ đó, nhân vật nữ xưng "tôi" dường như bị ám ảnh hoài cái lần chết hụt này và sau đó thêm vài lần tự tử nữa :"Tôi còn mớ thuốn ngũ của ông P., chỉ cần thêm một lượng Valium gấp năm lần hay hơn thế . Tôi sẽ tự tử ."(trang 65); hoặc :"Những điều tôi xếp đặt, lần lựa, giữ lại một mình. Còn những buổi gặp nhau khác. Còn mớ trụ sinh của ông P. Còn chị Lựu . Tôi muốn tự tử ."(trang 69). Và "Tôi khom lưng mở ngăn kéo tìm hộp dao cạo ... Tôi cứa thử nhẹ nhẹ lên cổ tay trái có sợi gân xanh nhỏ . Tĩnh mạch hay động mạch ? Mặt da bị tách đôi một rãnh mỏng, máu tươm ra đỏ, nhỏ giọt. Cườm tay kê úp trên miếng bông dày, giật tê lẩy bẩy, máu thắm sũng. "(trang 72). Nhưng rồi người con gái ấy không thoát ra được vì "không có quyết định nào là quyết định của người đàn bà cả "(trang 61).
Thế nên, cuộc đời của nhân vật xưng "tôi" như một viên đá lăn trên triền dốc và cứ thế vận tốc lao vào vực sâu càng lúc càng nhanh hơn. Tác giả Trần Thị NgH đã lần lượt vẽ ra cho người đọc thấy cái dốc nghiêng với độ rơi vun vút của hòn đá đến chóng mặt . Với những bắt chước, tập tành một đời sống mới như những mốt thời thượng của đa số thanh niên mới lớn ở thành thị miền Nam vào những năm cuối thập niên 60, nào là "Tôi đi xi nê một mình, viết thư cho bạn trai với giọng đắm đuối sướt mướt, tôi ngồi tiệm cà phê với vẻ mặt củ ngườiđdẹp-sầu-mộng, hút thuốc lá giữa đám đông như một phụ nữ cải tiếng vụng về, tôi làm quen với các nghẹ sĩ hẹn đi nghe nhạc ở phòng trà hay ngồi nói chuyện văn nghệ ở các quán mù mịt khói thuốc, tôi bỏ tóc xõa dài che lấp hai bên má, vẽ mắt đen kịt cho có vẻ gây cấn nội tâm."(trang9). Xin mở ở đây một dấu ngoặc, về trường hợp này, làm chúng tôi nhớ đến Hà, một nhân vật nữ trong truyện ngắn Dưới Tàn Cây Trứng Cá cũng được sáng tác vào năm 1968 và được in trong tập truyện "Bất Cứ Lúc Nào, Bất Cứ Ở Ðâu", tác phẩm đầu tay của Nguyễn Xuân Hoàng, vừa mới tái bản vào năm 1998, cũng thích hút thuốc, cũng thích uống cà phê, cũng thích uống rượu ... nhưng Hà của Nguyễn Xuân Hoàng là một người sành sỏi hơn so với nhân vật xưng "tôi" của Trần Thị NgH thì lại mới tập sự cái đời sống lạ lẵm ấy .
Trở lại truyện Ðường Về của Trần Thị NgH, mặc dù đây không phải là truyện có nhân vật chính là "tôi" mà là chị Nhiệm, tác giả cũng đã cho nhân vật của mình trong cơn mưa thừa lúc mọi người đang loay hoay ở giữa hai lằn ranh trần tục và tu hành, chị Nhiệm đã tìm về một "cái lỗ", một cõi bình yên nơi hướng biển xa xăm dưới làn mưa mù như thoát ly được cảnh đời trần tục nhiều hệ lụy này .
Và đến hai truyện Dặm Trường, Mộ Chí, dù không thể chết được như những lần tự tử hồi cách đây gần ba mươi năm, nhân vật nữ xưng "tôi" của Trần Thị NgH đã thử chết trong mộng tưởng để tìm hiểu xem trong đời sống phía dưới kia có điều gì mới mẻ không? Và qua đó, người đọc đã nghe được tiếng than oán của những linh hồn của người nằm dưới huyệt lạnh sao thế nhân còn sống trên dương gian lại quá đổi vô tình, bạc bẽo đối với những người khuất mặt mà lúc còn trên dương trần chính họ đã nhiều phen thi ân . Ðồng thời, qua Dặm Trường, tác giả cũng muốn mượn nhân vật của mình qua "hồn ma bóng quế" để nói về một hoạt cảnh xã hội Việt Nam đương đại, về cách cư xử giữa con người với con người, về cái sướng với cái cực :"Nghe nói hồn ma bóng quế cứ bay là đà từ chỗ này sang chỗ kia khỏi tốn tiền xe cộ, khách sạn"(trang 120) hoặc "Từ hồi chết đến giờ mới thấy sướng là không phải chi tiêu một đồng xu teng."(trang 121). Và khi người chết ngồi xem một chương trình truyền hình rồi tự hỏi :"Người dẫn chương trình cái miệng dẻo quẹo đang mời khán thính giả xem qua 3000 đôi giày của bà Marcos. Vơ vét của nhân dân để tiêu pha như vậy mà khi về nước vẫn được nghênh tiếp như một bậc mẫu nghi . Chả hiểu ra làm sao .Nhân dân nhiều khi dễ thương quá trời; có lãnh đạo nào thỉnh thoảng nghĩ vậy không ta ."(trang 119). Một câu hỏi được thốt ra như để giỡn chơi cho vui nhưng nó thâm thúy lắm. Nhân vật của Trần Thị NgH chết giả để tìm hiểu thế giới chết thật chẳng khác nào trong văn chương bình dân người chết thật muốn sống lại để xem tấm lòng của những kẻ sống nơi dương gian dối xử với mình :"Chết ba năm, sống một giờ, Ðể xem người cũ phụng thờ ra sao !" Cách nào đó giữa dương thế và cõi âm ti dường như có những gắn bó với nhau không rời :"Một bọn trong veo thấy tôi ngồi lì gần lỗ cống từ ngày này qua ngày kia bu lại coi . Lúc đó mới sực nhớ ra mình chết mà còn nuối cõi người ta dến quên mất cộng đồng riêng"(trang 130).

Không thoát ra được, nhân vật nữ xưng "tôi" của Trần Thị NgH lại lao vào cái vũng lầy của đời sống cười ra nước mắt với mọi đam mê của mình. Trở thành "đàn bà" với Dự trong Nghĩ Mát Ở Bãi Biển, rồi với Tấn, với Trường để đi đến kết luận :"Tôi chối biến hết, lấp liếm hết thảy bằng cái đời sống tôi cho là mới mẻ, lành mạnh, yên ổn. Tôi đã đến với Dự tò mò nhưng tôi cần Trường như một người đàn ông, tôi hiểu lầm Tấn như một người bạn tốt."(trang 39). Không dừng lại ở đó, với Thắm trong Trưa Mát Mẻ như một tội lỗi bị nguyền rũa, với Khai trong Hè Tiếp Tục là một cuộc hò hẹn đầy tội lỗi khác ở Ðà Lạt vì Khai chính là anh rễ của mình, chồng chị Lựu . Rồi với Nhà Có Cửa Khoá Trái lại thêm một lần buông thả đời mình cho mặc sức cái vận tốc rơi đến cùng cực . Con dốc nghiêng đang trên đà cứ nghiêng và viên đá lăn chừng như cũng mệt mỏi sau nhiều va vấp thấm mệt. Và "tôi" lại quyết định lấy chồng trong Người Thuận Tai Trái . Nhưng cuộc sống ở nhà quê nơi miền Trung cùng bản chất cù lần của ông chồng lại thêm một lần dang dở . Trần Thị NgH đã cho người đọc nhận ra một thảm cảnh khác trong gia đình về sự xung khắc giữa mẹ chồng với nàng dâu, giữa hai nếp sống của người nhà quê và kẻ thành thị đến đổi không thể chung sống. Ðiều này không có gì mới mẻ, nhưng nó lại được ghi lại trên văn chương dưới ngòi bút dí dỏm của Trần Thị NgH đến chua chát, nên chắc chắn cái xung khắc ấy sẽ còn hoài trong nhiều năm tháng sau này . Nhưng có lẽ cái chất bi hài trong chữ nghĩa của Trần Thị NgH đã diễn tả đến tột cùng cái đạo lý gia đình ở vào những năm tháng ấy dường như suy đồi đến không ngờ nổi . Trong đời này, có bao giờ một nàng dâu trong gia đình Việt Nam đã gọi chồng và cả mẹ chồng bằng "đứa" như giữa chợ trời :" Bà cụ bảo lấy con dao cho bà đoạn chi tình mẫu tử . Không dám chém đâu . Nhưng không, bà hươi dao lên. Tôi nhảy bổ vào giữa, sau đó thấy mình bị xô ngược . Không biết đứa nào xô ..."(trang 84)

Ngoài các truyện vừa kể, các truyện Phòng Mạch Trong Vườn Cây, Kẻ Ðào Tẩu, Dặm Trường, Người Ðàn Bà Ngồi, tác giả đã cho người đọc nhận ra cái hiện trạng của xã hội Việt Nam luôn luôn bị chạy theo thời đại . Ðọc truyện của Trần Thị NgH, người đọc dường như không lạ với những lăn xã vào mối tình, những hò hẹn, những phóng túng đến liều lĩnh của nhân vật nữ xưng "tôi" đã nhiều lần toan tự tử . Nhưng có lẽ cách dựng truyện của tác giả quá tự nhiên cùng bút pháp của Trần Thị NgH nhẹ nhàng, không cầu kỳ, chữ dùng bình dị, đối thoại dí dõm mà chua chát, thâm thúy đã tạo được sức hấp dẫn đối với người đọc . Ðặc biệt, trong những câu đối thoại, mặc dù Trần Thị NgH viết liền vào nhau như một đoạn văn hoặc tác giả ngắt câu xuống dòng như bình thường, tất cả đều giữ được cái nét riêng trong cách đối thoại của tác giả như vậy, một nét riêng rất gọn và dí dỏm, chua chát, bi hài . Trong Ðường Về, xin ghi lại một mẫu đối thoại viết liền nhau rất tự nhiên giữa Thầy Chân Vị và chị Nhiệm:" Hồi ở Sài Gòn chị đi chơi đâu những ngày nghỉ ? Thường tôi ít đi đâu . Ði suốt tuần lễ Chủ Nhật chỉ muốn nằm ở nhà . Cũng có Vũng Tàu, Long Hải hoặc bờ sông nhưng đâu cũng thấy vướng víu ít khoáng đãng. Vậy thì chị giải trí cách nào ? Tôi nằm nhà . Chắc buồn. "(trang 24). Hoặc một mẫu đối thoại khác cũng giữa Thầy Chân Vị và chị Nhiệm :"Ngụy bất yểm chân . Thầy nói sao ? Cái giả dối không che lấp được cái thật. Ðâu có cái giả dối nào đâu ... Thường thường thầy buồn hay vui ? Không vui thì buồn, khi nào tôi cũng thấy tình trạng báo động thường xuyên. Cứ đào một cái lỗ an toàn rồi núp trong đó đừng ra ngoài ." hoặc " Tôi vẫn thích một cái lỗ nhưng luôn luôn thấy mình chính là cái lỗ của người khác. Tôi chẳng cần cái lỗ nào cả . Chị ngon. Có bao giờ chị nghe chuyện Ông Vua Có Lỗ Tai Lừa chưa ? Tôi quên rồi ." (trang 24)
Như thế đó, những câu đối thoại vừa dí dỏm vừa thâm thúy, rất có duyên cứ kéo dài liên tục như vậy trong nhiều truyện của Trần Thị NgH. Sau đây là một hình thức đối thoại thông thường nhưng rất sắc gọn, tự nhiên như những lời đối đáp ở đời thường :
"- Thôi tụi này không bán nhà nữa vì đã lỡ dịp mua chiếc xe rồi . Chị cứ việc ở lại .
- Giỡn ông? Rồi tôi ăn nói làm sao với người ta đây ?
- Chị xin lỗi họ một tiếng chứ gì .
- Ðâu có đơn giản như vậy . Chỗ quen biết khó lật qua lật lại lắm. Hơn nữa tôi xếp đặt mọi thứ cả rồi .
- Chị làm ơn ở lại, tụi này sẽ trừ dần tiền nhà trong số năm triệu tiền cọc, chị chỉ cần đóng thêm bảy triệu tiên nhà cho đến khi trả lại nhà trong vòng tám tháng nữa như chị định.
- Tôi định gi ?
- Thì chị định ở đến tháng 5 năm sau .
- Ông này giễu vui ghe ta ! Tôi đào đâu ra bảy triệu để trả một lần? Nhà của ông thuộc khu giải tỏa, bày đạt bán chi cho thêm rộn chuyện vậy ?
- Chị thông cảm. Bây giờ không bán được, cũng không có tiền hoàn lại chị . Ðang cần tiền quá, cho người khác mướn kiếm đâu ra người như chị ?
- Người như tôi, sao ? Dễ bùi tai ư ?"(trang 146).
Và còn nhiều lắm những mẫu đối thoại tương tự như vậy trong suốt tập truyện, điều đó cho thấy nhân vật của Trần Thị NgH luôn luôn hóm hỉnh mà tĩnh táo, âu lo đó nhưng không thiếu nụ cười cho dù nụ cười chứa nhiều chua xót, đắng cay . Chất bi hài, dí dỏm trong văn đối thoại của Trần Thị NgH là cái cốt tủy trong văn phong của tác giả, nó làm thành cái nét rất riêng, không lẫn lộn được giữa Trần Thị NgH với các nhà văn khác .
Nhắc đến truyện ngắn của Trần Thị NgH, người đọc không khỏi nghĩ ngợi đến tình dục trong văn chương của bà . Ðiều đó không lấy gì làm lạ vì qua mười một truyện ngắn vừa đọc, tác giả muốn đưa ra các nhân vật đang lao vào đời sống hiện tại với tất cả nỗi đam mê mù quáng, thì tình dục nếu có trong một vài đoạn, đó chỉ là một cách viết truyện thật tự nhiên, thật bình thường của bất cứ một tác giả nào, không riêng gì Trần Thị NgH. Có điều đáng ghi nhận, theo thiển ý của chúng tôi, đây không phải là cái cốt yếu mà tác giả muốn tả thật chi li, thật tỉ mỉ để lôi cuốn người đọc . Trái lại, là sau mỗi lần chìm vào cõi mê dắm nhục dục, qua ngòi bút của Trần Thị NgH, lần nào cũng như lần nào, các nhân vật nữ của bà luôn luôn ân hận về mỗi lần ngụp lặn trong thú vui xác thịt ... Truyện của Trần Thị NgH có hậu là nhờ vậy . Ở đó nó phản ảnh được cái nét đạo lý rất Việt Nam dù các nhân vật đã chịu ảnh hưởng nhiều của nếp sống tân thời . Và người Mẹ bao giờ cũng là nơi nương tựa ấm êm nhất của những đứa con sau mỗi lần hư hỏng biết ăn năn, biết hối hận ...mặc dù mọi sự như Nguyễn Du mấy trăm năm trước đã viết :"Ăn năn thì sự đã rồi ". Sau đây là một vài thí dụ về điều này :" Cho em về Sài gòn với má em ... Em đau quá anh, cho em về nằm ở nhà, em sẽ nói với má em em đau quá . Má, má yêu dấu của con..."(Nghỉ mát ở bải biển, trang 20). Hoặc một lời ăn năn khác :"Tôi không muốn lúc nào tôi cũng làm chuyện bậy bạ dù với ý nghĩa gì hay bởi sự giun rủi nào của hoàn cảnh."(Trưa mát mẻ, trang 40).
Và rồi, "những cơn mưa nửa đêm nhiều khi làm rả ruột . Nghe nước trên mái nhà thấy nhớ vườn nhà ở Tân Duyệt, (những đêm nằm thu người sát ngực vú má nghe tiếng bà nội gõ nhịp hát ô ê trong mùi rượu hăng của ba )."(Trưa mát mẻ, trang 42), cũng là lúc nhớ về một mái ấm thân thương khi dòng đời đẩy đưa người con gái trong truyện đến những trạng thái dằn xé cùng cực ...
Về cách viết, tưởng cũng nên nhắc qua cách giải thích một từ nào đó hay một sự kiện nào đó, Trần Thị NgH thường dùng dấu ngoặc đơn (...), không biết đây có phải là cách tốt nhất không so với cách nào đó đễ diễn đạt cái ý của mình bằng chính những chữ nghĩa thường . Nhưng dù sao, đối với người đọc, cách giải nghĩa trong ngoặc đơn như vậy đã làm cho những cảm nhận trong lúc đọc truyện dường như bị khựng lại . Xin được trích ra đây một vài trong số các trường hợp một số chữ được tác giả cho vào ngoặc đơn :"Tôi rình qua tấm màn (cũng màu xanh da trời mắc lửng lơ trên khung cửa màu vàng chanh)." (trang 84), hoặc "Một D'Artagnan thứ thiệt sau khi đã được "tút" lại (chỉ thiếu ngựa và thanh kiếm) và chê tôi ốm đói suy kiệt như Cosette của Những Kẻ Khốn Khổ ...."(trang 79). Trường hợp dùng dấu ngoặc đơn này, thỉnh thoảng trong vài tác phẩm mà chúng tôi có dịp đọc gần đây cũng thấy các tác giả hay dùng, nhưng có lẽ chưa phổ cập nhiều lắm .

Trong truyện ngắn của Trần Thị NgH phần kết cũng được tác giả khoác cho nó cái nét dí dỏm, chua chát mà gợi ra bao điều nghĩ ngợi, bồi hồi khi gấp tập truyện lại . Chẳng hạn với Ðường Về :"Chị Nhiệm, đừng khùng. Ðừng. Thầy Chân Vị ngó ngoái thấy người bạn đi cùng đã lạc xa phía sau, qua lớp mưa tuôn xối chỉ thấy cái bóng nhòe co ro giữa cảnh mênh mông."(trang 31). Những chữ "đừng khùng", "đừng" như một nỗi bất lực của tha nhân trước một người đang muốn đi tìm "đường về" của mình. Hoặc cái kết của truyện Nhà Có Cửa Khóa Trái :" Tôi nhìn lần cuối và nghĩ thầm, không hề gì, đâu sẽ lại vào đấy khi tôi đi, chàng sẽ tiếp tục những thói quen cũ, sẽ chờ đợi nàng. Phải không anh ? Cái ly bôi mình nhấp cạn rồi mà, còn một chút cặn chứ mấy ? Thôi để dành."Trang 58), nghe nó tê tái trong lòng biết bao về thân phận và sự hứng chịu của một người đàn bà đã chấp nhận lăn xã vào cuộc chơi nguy hiểm của tình trường. Với truyện Người Thuận Tai Trái, được chấm dứt bằng hai chữ "Quá đã", tác giả muốn để cho người đọc nghĩ sao cũng được, hoặc "quá đã" vì "Tôi khoái hết biết. Nó bắt đầu học đàn khi chưa biết chữ . Dù chỉ còn tai trái, tôi nghe được hết trong đầu những bài nhạc nó chơi . Mozart nằm trên giường bệnh gần chầu trời vẫn nghe ra tiếng rầm rập của một đạo binh ma . Beethoven điếc đặc còn nghe được tiếng gõ cửa của định mệnh trong Hòa Tấu Khúc số 5. Păm.pằm.pằm."(trang 85), hay "qúa đã" vì đã thoát ra rồi cái cảnh đời mà nàng cứ nghĩ lấy chồng là đã yên thân sau những tháng ngày thấm mệt, nào ai biết chắc chắn về điều này ngoài tác giả . Một câu kết khác nghe quá thảm não, chua cay biết bao với truyện Mộ Chí, như cái dấu chấm hết của một đời sống mà ai ai cũng phải một lần :"Tôi nghĩ, lần này tiêu rồi . Bây giờ mình cô đơn, bởi sau lưng đâu còn ai ."(trang 161)

Thông thường, các nhà văn đều cho rằng truyện của mình là hoàn toàn hư cấu . Hư cấu từ cốt truyện cho đến các nhân vật . Nhưng có lẽ, trong truyện của Trần Thị NgH từ cốt truyện đến các nhân vật, tác giả đã hư cấu thật khéo léo và nhờ tác giả sở trường trong cách dùng chữ , mà nhất là trong cách đối thoại, vừa dí dỏm, vừa tự nhiên nên người đọc tưởng truyện của tác giả rất gần với các nhân vật thật ở đời thường ... Ðọc truyện của Trần Thị NgH xong không chỉ để giải trí mà còn đễ suy gẫm nữa, suy gẫm ngay cái cốt truyện vừa đọc, suy gẫm về cuộc đời chung quanh và suy gẫm với chính mình...

Lương Thư Trung
Mùa Ðông 1999.



ÐỨNG DƯỚI TRỜI ÐỔ NÁT và
Một Bản Vịnh Kiều Của Phan Xuân Sinh

Phạm Văn Tiên


I
ÐỨNG DƯỚI TRỜI ÐỔ NÁT (VĂN, 2000), thi tập gồm 50 bài thơ của Phan Xuân Sinh, trải dài ngót ba mươi năm kể từ đầu thập niên 70's cho đến cơn lụt lớn cuối năm Kỷ Mão (1999) tại quê nhà. Qua trên 150 trang sách ta có thể thấy được những mốc điểm đánh dấu thời gian trong đời mà tác giả đã ghi lại qua những kỷ niệm, những địa danh mang tính cách địa phương như dốc Cầu Vồng, giếng Bộng, bãi Nam Ô, Cồn Dầu, Chợ Hàn, bến đò Hà Thân, xứ Quảng-nơi ông sinh trưởng; và ở hải ngoại như phố cổ Boston, phố đêm Bourbon (New Orleans), v.v. Thơ Phan Xuân Sinh, ở thể lục bát, đã có những bước nhẩy (enjambment) của thơ tự do. Người đọc tinh ý sẽ thấy lối ngắt nhịp lẻ ba chữ của ông rất thường xuyên và tài tình. Chủ đề thơ có khi xưa như truyện Tam Quốc, có lúc hiện tại như bản tin thời sự vừa mới loan ra. Ngoài ÐỨNG DƯỚI TRỜI ÐỔ NÁT, Phan Xuân Sinh còn có thi tập CHÉN RƯỢU MỜI NGƯỜI (1996), xuất bản chung với Dư Mỹ. Thơ, văn của ông xuất hiện trên các tạp chí văn học hải ngoại như VĂN, VĂN HỌC, KHỞI HÀNH, LÀNG VĂN, CHỦ ÐỀ, SÓNG VĂN, và VĂN TUYỂN, etc.
 
II
Nàng Kiều Ðáng Giá Bao Nhiêu?
Một bản vịnh Kiều của Phan Xuân Sinh có in trong thi tập ÐỨNG DƯỚI TRỜI ÐỔ NÁT (tr. 33), có câu "bán mình không nổi chuộc cha" ("Một Ðoạn Cho Kiều," hg. 5) mà ta có thể xem đây như là một ví dụ của thuật dùng đảo ngữ để nhấn mạnh. "Bán mình không nổi chuộc cha" hay "không chuộc nổi cha"? Có ba lý do để người làm thơ chọn lựa mệnh đề thứ nhất:

1) Ở mệnh đề thứ nhất, chữ "nổi" (able, theo nghiã tiếng Anh) nguyên là một tính từ, ở thể phủ định nó được chia theo công thức "not + to be + adjective" để làm động từ (to be able to) đóng vai trò chính trong câu. Ở mệnh đề thứ hai nó làm trạng từ bổ nghiã cho động từ "chuộc" đứng trước nó, nghiã là, nó chỉ là vai phụ.

2) Chữ "nổi" vần trắc. Trong câu lục chia theo nhịp chẵn 2/2/2 nó là chữ cuối của nhịp vế thứ hai (the last word of the second meter) mà khi đọc nhịp điệu thường được kéo dài thêm ra bởi âm láy của chữ có mang dấu hỏi và độ nghỉ sau mỗi nhịp vế. Giả sử tác giả đã dùng câu "Bán mình không chuộc nổi cha" thì mỗi chữ chỉ có thể đếm được một nhịp (beat) đều đặn trong câu thơ này, trong khi chữ "nổi" trong câu nguyên bản "Bán mình không nổi chuộc cha" có đến ít là
một nhịp rưỡi, dùng để nhấn mạnh ở chữ thứ tư trong câu lục thường là vần trắc rằng thì là dù Kiều có bán mình thì nàng vẫn không có khả năng chuộc được cha.

3) Ở đây, câu hỏi được đặt ra là để lượng tính xem với cái tài ấy, sắc ấy, thì nàng Kiều đáng giá là bao nhiêu khi tự quyết định bán mình để lấy tiền chuộc cha và em. Cứ theo như lời mối nhận định ở hàng 645, Truyện Kiều của Nguyễn Du, thì nàng phải "đáng giá nghìn vàng." Như ta thường nói trong câu, "Cơ hội nghìn năm một thuở," hai chữ "nghìn vàng" không giới hạn ở con số 1000. Ðây là lối nói phỏng chừng để chỉ một cái gì vô giá (trường hợp của Kiều) hay một cơ hội hiếm có (trường hợp của câu nói đã trích dẫn). Thế nhưng, thử đảo ngược hai chữ "đáng giá" trong câu hỏi để luận xem nàng Kiều "giá đáng" bao nhiêu. Phần trên, "đáng giá" ám chỉ phẩm chất của nàng Kiều qua cái nhìn của người đưa mối; phần dưới, "giá đáng" chỉ việc Kiều chịu bán mình làm vợ lẽ cho họ Mã qua cái nhìn kiếm lợi của con buôn. Theo lời mách của một người họ Chung trong nha dịch thì việc lo lót cho cha con viên ngoại họ Vương phải mất có đến ba trăm lạng vàng mới xuôi (Kiều, hg. 607-612) mà sau một thôi thương lượng thì hai bên người chịu bán kẻ chịu mua đồng ý với cái giá ngoài bốn trăm lạng (Kiều, hg. 648). Như thế, với số tiền hơn bốn trăm lạng vàng ấy thì Kiều đã dư tiền "chuộc nổi cha" mới phải, chứ sao lại "Bán mình không nổi chuộc cha" (Phan Xuân Sinh, "Một Ðoạn Cho Kiều," hg. 5)? Không lẽ, nha dịch vào thời bấy giờ cũng giống như nghề hành luật ở thời nay, đóng tiền bail thế chân tại ngoại là mọi chuyện đều xuôi (cf. Kiều, hg. 612), mà "xuôi" không có nghiã là "xong." Chả thế mà Kim Trọng nửa năm sau từ đất Liêu Dương trở về tìm Kiều, hỏi ra thì Vương Ông vẫn còn đang mắc tụng đình (Kiều, hg. 2757) và gia đình viên ngoại cũng đã sa sút đến độ phải "May thuê, viết mướn kiếm ăn lần hồi" (Kiều, hg. 2762). Nếu quả như thế thì tiền Kiều bán mình chỉ tạm đủ để đóng tiền bail chứ nào đã trắng án được cho cha già khỏi vòng thưa kiện. Xét ra thì câu nói "Bán mình không nổi chuộc cha" (Phan Xuân Sinh, "Một Ðoạn Cho Kiều," hg. 5) nghe cũng chí lý.


Phạm Văn Tiên
pvtien@hotmail.com

 

 

 

 

Thư Gửi Một Nhà Thơ Trẻ
Rainer Maria Rilke

'Rainer Maria Rilke (4.12.1875 - 29.12.1926), nhà thơ Áo, là một trong những nhà thơ hàng đầu của thế kỷ XX. Ông đi khắp Châu Âu (từng là thư ký của điêu khắc gia Auguste Rodin) và Bắc Phi, vừa sống giữa những tên tuổi lớn đương thời vừa ẩn dật, sớm nổi tiếng, sớm qua đời, để lại một cuốn tiểu thuyết duy nhất 'Những Ghi Chép Của Malte Laurids Brigge', gần hai chục tập thơ và khoảng 10,000 bức thư. Mười bức thư gửi Franz Xaver Kappus trong tập này được công bố vài năm sau khi Rilke qua đời, và từ đó đến nay không ngừng được tái bản và dịch ra hầu hết mọi ngôn ngữ trên toàn thế giới.'

Phạm Thị Hoài dịch
(ianbui giới thiệu)

----

Rome, ngày 23 tháng mười hai 1903

Ông Kappus thân mến,

Tôi không muốn để ông phải mong thư khi lễ Giáng Sinh đã tới, và khi ông phải gánh chịu nỗi cô đơn của mình giữa ngày lễ nặng nề hơn lúc thường. Nhưng nếu nó quả là lớn thì ông hãy vui lên; bởi lẽ, cô đơn thiếu tầm vóc thì còn ra làm sao (ông tự hỏi như vậy); cô đơn chỉ có một, đấy là nỗi cô đơn lớn và không dễ gánh chịu, và hầu như ai rồi cũng có những giờ phút muốn đánh đổi nó lấy một sự đàn đúm nào đó dù tầm thường và rẻ rúng, lấy một cái vỏ của giao tiếp với bất kỳ ai, với kẻ thiếu tư cách nhất... Nhưng có lẽ đấy chính là những giờ phút cho cô đơn trưởng thành; bởi lẽ sự trưởng thành của nó đau như sự trưởng thành của các cậu bé và buồn như tiết lập xuân. Nhưng ông không nên rối trí vì lẽ đó. Ðiều thiết yếu vẫn chỉ là: cô đơn, nỗi cô đơn lớn lao tự bên trong. Ði vào chính mình và không gặp bất kỳ ai nhiều giờ đằng đẵng, - phải làm được như vậy. Cô đơn, như lúc ta còn là đứa trẻ cô đơn khi người lớn đi đi lại lại, vướng víu trong những chuyện có vẻ lớn lao và trọng đại, vì người lớn trông bận rộn lắm và ta chẳng hiểu họ làm gì. Và một ngày kia ta bỗng thấy công việc của họ nghèo nàn, nghề nghiệp của họ cứng nhắc và không còn gắn liền với đời sống nữa, vậy cớ sao ta không tiếp tục làm như đứa trẻ nhìn vào đó như nhìn thứ gì xa lạ, từ chiều sâu của thế giới riêng mình, từ chiều rộng của nỗi cô đơn riêng mình, mà nỗi cô đơn tự nó đã là công việc, là chức vụ, là nghề nghiệp? Cớ sao phải đánh đổi cái vô tri hiền triết của đứa trẻ lấy chống đỡ và khinh bỉ, trong khi vô tri là riêng một cõi, còn chống đỡ và khinh bỉ chính là tham dự vào chỗ mà mình muốn thoát ra bằng cách dùng chúng làm phương tiện.

Ông thân mến, hãy nghĩ đến thế giới mà ông mang trong mình, và tùy ông muốn gọi việc đó là gì cũng được: là hồi ức về tuổi thơ, hay là khát vọng về tương lai, - chỉ có điều hãy để ý xem trong mình có gì trỗi dậy, và đặt nó trên mọi thứ mình ghi nhận được ở xung quanh. Ðời sống nội tâm nơi ông đáng cho ông dành trọn tình yêu, ông phải bỏ công ra với nó như thế nào đó và đừng mất quá nhiều thời gian và dũng cảm để lý giải chỗ đứng của ông giữa người đời. Mà ai bảo rằng ông có một chỗ đứng? - Tôi biết, nghề nghiệp của ông vất vả và đầy mâu thuẫn với ông, tôi đã thấy trước và biết rằng ông sẽ ai oán. Bây giờ đã như vậy, tôi không thể an ủi mà chỉ biết khuyên ông hãy ngẫm xem, phải chăng mọi nghề nghiệp đều như thế, đầy đòi hỏi, đầy thù địch với mỗi người, như thể thấm đẫm lòng căm ghét của những kẻ đã đành câm lặng và bực bội mà nhận lấy cái phận sự tẻ nhạt. Hoàn cảnh của ông bây giờ không bị những khuôn mẫu, định kiến và sai lầm đè nặng hơn mọi hoàn cảnh khác, và có thể có những hòan cảnh nào đó ra vẻ tự do hơn, nhưng không một hoàn cảnh nào nội tại là rộng lớn và gắn bó với những điều lớn lao chứa đựng đời sống đích thực. Chỉ riêng gã cô đơn là như một vật thể tuân theo những quy luật sâu xa, và khi gã bước vào một sớm mai mới hé, hay phóng mắt vào buổi tối đầy sự kiện, và gã cảm nhận điều gì đang diễn ra, khi ấy mọi hoàn cảnh rời khỏi gã như rời khỏi một người đã chết, mặc dầu gã còn đó sờ sờ giữa đời sống. Ông Kappus thân mến, những điều bây giờ ông, một sĩ quan, phải trải qua chắc cũng tương tự như trong bất cứ nghề nghiệp nào hiện hành, thậm chí nếu bỏ qua mọi vị trí nghề nghiệp, chỉ cần tiếp xúc riêng và nhẹ nhàng với xã hội mà thôi cũng chẳng đỡ được cái cảm giác bó buộc đó. - Chỗ nào cũng vậy; nhưng đấy đâu phải là lý do để sợ hãi hay buồn rầu; nếu không chung được với người thì ông hãy thử gần với vật, chúng sẽ không bỏ rơi ông; vẫn còn đó những đêm và gió lướt trên cây và trên nhiều vùng đất; vẫn tràn đầy sự kiện nơi muông thú và trong vạn vật cho ông tham dự; và trẻ nhỏ vẫn như thế, như ông thuở bé, buồn rầu và hạnh phúc, - và mỗi khi nhớ về tuổi thơ là ông lại được sống giữa chúng, bầy trẻ cô đơn, và đám người lớn chẳng là gì hết, tư cách nọ hòan toàn không đánh giá.

Và nếu ông sợ hãi và khổ sở khi nhớ về tuổi thơ cùng những thứ liên quan đến nó là cái giản dị và yên tĩnh, vì ông không thể tin vào Thượng Ðế hiển hiện khắp trong đó nữa, khi ấy, ông Kappus thân mến, ông tự hỏi, mình đã đánh mất Thượng Ðế thật chăng? Ðúng ra, phải chăng ông chưa bao giờ có Người? Vì có lúc nào kia chứ? Ông cho rằng một đứa trẻ có thể chứa nổi Người, trong khi những đấng nam nhi vất vả lắm mới gánh được Người và sức nặng của Người làm oằn lưng phụ lão ư? Ông cho rằng ai đã thật sự có Người lại có thể đánh mất Người như đánh mất một viên đá nhỏ ư, hay là ông không cho rằng ai đã có Người chỉ có thể bị lạc khỏi Người? - Nhưng nếu ông nhận ra rằng, Người không tồn tại nơi tuổi thơ của ông, và trước đó cũng không, nếu ông đoán ra rằng Christus bị lừa bởi khát vọng của chính mình và Muhammed bị gạt cũng bởi kiêu hãnh của chính mình, - và nếu ông kinh hòang thấy ngay lúc này đây, giờ phút này, khi chúng ta đang nói về Người thì Người cũng không tồn tại, - thì ông có quyền gì mà thấy thiếu Người, là đấng chưa bao giờ tồn tại, như thiếu một người đã thuộc về dĩ vãng, và tìm kiếm Người như thể Người đã mất?

Sao ông không cho rằng Người là đấng sẽ đến, là đấng tương lai, từ vĩnh cửu mà ra, là trái chín của cái cây mà chúng ta là lá? Ông ngần ngại gì mà không liệng ngày sinh của Ngừơi vào những thời sẽ đến và sống cuộc đời ông như một ngày đau và đẹp trong lịch sử một cuộc thai nghén vĩ đại? Ông không thấy đó sao, mọi thứ đang diễn ra đều là khởi đầu, và liệu đấy có phải là sự khởi đầu của Người chăng? vì sự khai mở tự nó luôn tuyệt đẹp như vậy? Nếu Người là đấng toàn thiện nhất thì phải chăng trước Người ắt là kém cỏi hơn, để Người có cái dồi dào và thừa thãi mà tuyển lựa cho mình? - Phải chăng Người phải là đấng sau chót để mà gom tất cả vào mình, và chúng ta liệu có nghiã gì nếu đấng mà chúng ta khao khát đã tồn tại trước rồi?

Như ong làm mật, chúng ta lấy cái ngọt ngào nhất từ mọi thứ và đắp nên Người. Chúng ta bắt đầu thậm chí từ cái nhỏ mọn, cái không đáng để ý (chỉ cần việc đó xuất phát từ tình yêu), chúng ta khởi công xây Người bằng việc làm và nghỉ ngơi sau đó, bằng một im lặng hay niềm vui nho nhỏ cô đơn, bằng mọi thứ do một mình ta làm, không có ai tham gia và cổ động. Người, là đấng mà chúng ta không có ngày chứng kiến, cũng như các bậc tiền bối đã không được chứng kiến chúng ta. Nhưng những người đã khuất từ lâu ấy vẫn còn đó trong ta, là món quà kèm theo, là gánh nặng chất lên số phận ta, là máu rạt rào, và là cử chỉ từ những tầng sâu của thời gian ngóc dậy.

Liệu có gì tước đi được cái hy vọng của ông mong hòa làm một với Người, đấng xa vời, đấng tột cùng không?

Ông Kappus thân mến, ông hãy mừng lễ Giáng Sinh với lòng thành kính ấy, rằng có lẽ Người cần chính nỗi sợ cuộc sống của ông để khai mở; có lẽ chính những ngày chuyển tiếp này là lúc tâm trí ông bận rộn với Người, như ông thuở còn là một đứa trẻ đã từng nín thở mà bận rộn với Người. Ông hãy kiên nhẫn, đừng miễn cưỡng và xin nhớ rằng, đất chẳng cản mùa xuân khi mùa xuân muốn đến, và ít nhất chúng ta có thể làm một điều là không gây khó cho sự trở thành của Người hơn mức ấy.

Mong ông vui và vững lòng.

Rainer Maria Rilke

Phạm Thị Hoài dịch
(ianbui giới thiệu)

 



 

những cánh én
NGUYỄN XUÂN THIỆP



Mùa xuân đã về trên thành phố. Trên dọc đường đi tới tòa báo, trong những khu vườn có tường cao chắn gió, anh thấy những cây redbud đã nở đỏ và hoa mận trắng cũng rộ lên như niềm vui của những ngày mới lớn. Và hoa tulip, primroses, hyacinth, bluebonnet cùng những loài dã hoa khác đã như cùng hẹn trở về trong ngày hội, cho đến nỗi báo địa phương đã gọi đây là mùa Dallas Blooms.
Hoa là niềm vui của mặt đất. Chim là niềm vui của bầu trời. Và anh đã thấy những cánh chim nhỏ, có cái đuôi dài, bay đầy, bay đầy, sà xuống mái ngói, chòm cây, những đường dây điện. Không biết có phải là chim én không, nhưng anh cứ cho là chim én. Bởi anh yêu chúng. Bởi người đã nói, ở nhà thờ mái đỏ, vùng biển San Juan Capistrano, mùa này là lễ hội mừng bầy chim én trở về. Chúng bay rộn ràng trong tiếng nhã nhạc vang lừng. Có những con chui lọt vào dưới vòm mái nhà thờ, đôi cánh đập loạn lên, tìm đường ra. Nhà văn Hà Thúc Sinh đã viết một truyện ngắn rất hay trong khung cảnh những bầy chim én trở về trên mái nhà thờ màu hoa giấy đỏ San Juan Capistrano. Nguyễn Mạnh Trinh, trong một bài tạp bút, cũng dành những dòng thật đẹpcho lũ chim nàyvà hẹn với anh cùng về xem chim én khi tháng ba bắt đầu. Tháng ba rồi đó, người ơi...
Có đôi khi anh ngẩn ngơ tự hỏi: trong những con chim én chao liệng dưới bầu trời San Juan Capistrano ấy, có con nào đến từ Sài Gòn, Ðà Lạt dấu yêu.... khóc đi Nguyễn/mùa này gió biển thổi điên vào lục địa/chim én vẫn bay đầy đàn trên bầu trời chiều đường phố ở Sài Gòn... Thanh Tâm Tuyền đã viết những câu như thế vào những năm cuối thập niên 60.Ở Sài Gòn, muốn nhìn thấy chim én bay đầy trời có lẽ phải ra chỗ công viên nhà thờ Ðức Bà hoặc bến Bạch Ðằng. Mà phải là buổi chiều mới có nhiều chim én bay. Ở đó, nhất là trên những kè đá ở Bến Bạch Ðằng, ta có được một không gian rộng rãi cho tầm nhìn. Hãy nhìn, kìa, những cột buồm nồng mùi muối biển xa nhô lên trên vàm sông, gió lồng lộng thổi về, làm chao đảo trong ráng chiều đỏ rợu. Khách sạn Majestic với vòm mái cao và những ngôi nhà của những năm đầu thế kỷ. Và những kè đá, vỉa hè, buổi chiều thả rơi từng bông sứ máu. Ô, những con chim én bay vun vút trong không, trên những cột buồm nhấp nhô theo triều lên, bên những mái nhà là nơi chúng làm tổ. Ở đó, có gã thi sĩ buổi chiều đi dạo chơi chuyện trò cùng chim én.
Và ở Ðà Lạt. Người mắt nâu ơi, còn nhớ...Ở đây chim én nhiều vô kể. Chúng bay, vòng lên lượn xuống, thật nhanh, và trẻ con tha hồ dùng cành trúc khua đập. Nóc mái đài phát thanh, nhà thờ con gà và tiệm sách Nhân Văn lời nơi trú ngụ của chúng. Không ở đâu chim én và người gần nhau như ở thành phố trên cao này. Gần như những mái nhà san sát. Gần như những con đuờng quanh co lên xuống, nồng hương cà phê và mùi nhựa thông trong nắng mới. Gần như những trái thông khô trên bàn viết của anh.

Như thế đó, những con chim én lại trở về hàng năm trên bầu trời, bên này và bên kia biển. Ðể cho chúng ta cùng vui trong một tín hiệu từ chân mây. Ðể chúng ta cùng kêu lên: mùa xuân về rồi đó/cho anh nắm lấy bàn tay...
Và xin chép tặng người mấy câu thơ trong bài Chim Én của nhà thơ Ba Lan Wislawa Szymborska:

    Trong lùm cây phỉ, họ yêu nhau
    dưới mặt trời của đám sương mù
    với lá nhầu trong mái tóc
    và mặt đất là căn nhà

    Hỡi trái tim én
    hãy ưu ái với họ

    Hình ảnh hàng cây bốc khói
    trên những lớp sóng sóng sánh
    én ơi, hãy làm thế nào để họ
    đừng bao giờ lãng quên

    Hỡi én, gai sắc của ngàn mây
    cái neo của thinh không
    Ikarus hoàn hảo
    bộ áo lễ dạo trời...
    ...vầng hào quang của những người yêu nhau
    hãy ưu ái với họ...



 

Gương Khốn

Phạm Thế Ðịnh

(Tưởng nhớ cụ LDM)

Cụ Vương mò mẫm trong cái bóng sáng lờ mờ của căn phòng chung cư tại Richmond, một trong ba khu "thủ phủ kinh tế" của người Việt tại Mebournẹ Căn phòng thật ra không chật cho một cuộc sống bình thường của một người quá cái tuổi thất thập cổ lai hy như cụ, nhưng, trong trường hợp của người mê sách và đồ cổ như cụ ấy thì căn phòng như sắp bể tường, nứt vách để tìm thêm không gian cho người sống trong đó.

Bốn vách tường không còn mấy chỗ nào trống để khách có thể nhìn thấy màu của chúng. Các kệ sách, tủ sách, bàn sách đã che lấp tất cả. Sách Pháp và Anh ngữ,, sách Tàu, sách Việt tràn ngập, bề bộn, ngổn ngang trong một trật tự riêng mà hình như chủ nhân đã sắp đặt cho chúng một cách vô tình. Phần nền, trên cái thảm cũ mèm, là lãnh thổ của những xấp dầy tạp chí, báo ngày, báo tuần, báo tháng... tiếng Việt, tiếng Tây và giấy tờ cùng đủ mọi thứ hồ sơ lỉnh kỉnh, tạp nhạp. Ở góc tường bên cạnh cái cửa ngỏ, mở vào phòng tắm gồm hai cái lu, một để đựng hàng chục món vũ khí cổ như gươm Nhật, gươm Việt, đoản đao của người Chàm, dao rừng của người Mường, lưỡi lê của lính Pháp...; cái lu thứ hai chứa nhiều bó tranh lụa, tranh vải, tranh giấỵ.. phần đông họa những phong cảnh, chùa chiền, làng mạc, núi non, chim chóc của Việt Nam.

Sáng ngày hôm đó cụ Vương cũng dậy như thường lệ cùng lượt với tiếng hụ của chiếc xe điện chở hàng khi băng qua nhà ga. Thời tiết đã vào hẳn thu, hơi lạnh đã len vào trong các khớp xương của cụ. Ở đây đã 10 năm, cụ biết bốn mùa sẽ cùng xuất hiện trong một ngày sắp tới. Sáng sớm như hiện giờ tương ứng với mùa cuối Ðông sương mù và hơi lạnh, chừng 4-5 tiếng nữa, khoảng 9-10 giờ sáng, mặt trời sẽ sưởi ấm không khí đủ để cho khu phố có một thoáng Xuân hồng rất chóng vào khoảng 1 tiếng, sau đó là cái nóng đến rất nhanh, cỡ vào giữa trưa thì đã là mùa của Hạ vàng, tuy thế, nóng nhưng không hầm như vào mùa hè thật, cứ vậy kéo dài cho đến khoảng 4-5 giờ chiều thì trời mát lại, thỉnh thoảng còn có vài cơn mưa, báo hiệu bởi những đám mây đen bay nhanh, đó là hơi Thu.

Cụ Vương bỗng chợt buồn và thầm nhớ lại những ngày mới qua Úc, thuở ấy cụ và cụ bà còn sống chung với gia đình hai con. Lúc đó chật vật thế mà vui, cuộc sống tranh dấu cho tương lai làm tươi mát hy vọng, sau này chúng kịp lấy lại sự nghiệp, mua nhà riêng mang các cháu của cụ đi, cụ từ chối không dọn về ở chung với ai cả, cụ bà thương con, thương cháu đi theo một dạo, rồi cũng phải dọn về ở với cụ cho gần chồng gần chợ. Vài năm trước cụ bà lại dọn đi, lần này là đi thật, vĩnh viễn bỏ con, bỏ cháu và bỏ cụ.

Sau cái chết của cụ bà, các con cụ Vương đề nghị với cơ quan quản lý chung cư đưa cụ Vương xuống một cái phòng đơn, lầu trệt. Và cụ ở đấy cho đến giờ.

Thỉnh thoảng các con của cụ cũng ghé qua thăm, còn các cháu của cụ thì nó xa cách với cụ quá, tiếng Việt của chúng quá nghèo và tình cảm của chúng thì lại như một căn nhà làm bằng kiếng và vật liệu bóng bẩy, thật hào nhoáng nhưng chỉ để dùng một thời, so với quan niệm ăn chắc mặc bền như cụvới gỗ lim, gỗ gụ nặng nề, thì thật là khác nhau một trời một vực. Thật ra, cụ cũng cố gắng thích ứng với lối nghĩ, lối sống của chúng để cho vui lòng mọi người, nhưng cách tốt nhất vẫn là để yên chúng sống và nhìn cụ như một quyển sách cũ trên kệ, kính trọng, quí mến nhưng chẳng bao giờ được giở ra.

Niềm vui của cụ bây giờ cũng vẫn là sách và các tape nhạc về hát chèo, cải lương, hát bộ... Hôm nào khoẻ khoắn, cụ đi bộ ra phố, trò chuyện với những chủ tiệm quen về sinh hoạt hằng ngày, tin tức cộng đồng, chính trị xa gần. Ddôi khi gặp người hiểu biết, cụ mừng rỡ kéo họ vào trong một quán ăn quen để uống cà phê và tán gẫu một lúc.

Nhưng những người loại đó càng ngày càng ít đi. Những người còn có đủ vốn liếng tiếng Hán để nói chuyện với cụ về Ddường Thi, Hán Văn, hay thậm chí để ngẫm cổ suy kim với Ddông Châu Liệt Quốc hoặc Tam Quốc Chí , Chiến Quốc Sách ở đây thật hiếm, họ dần dần biến mất như những con rùa thần quá nặng nề với nhịp sống tân thời. Ddám người trung niên thuộc hạng thích đọc sách thời còn mồ ma nền Ddệ Nhị Cộng Hòa miền Nam bây giờ cũng ít đọc sách hơn, và tuyệt đối dành thật nhiều thì giờ để kiếm tiền, nuôi con, và sửa sang vườn tược...

Cụ cũng đã ráng bớt dần cái "tuổi văn học" để cố tìm bạn, nhưng vẫn vô vọng, nói về thời Phạm Quỳnh, Phạm Duy Tốn, Trần Trọng Kim... mà còn chẳng có ai, đừng nói chi đến những thời xa lắc xa lơ như Tuệ Trung, Nguyễn Trãi... Nguyễn Khuyến, Dương Khuê....

Cụ cảm thấy già lạ lùng, cô đơn lạ lùng và vụng về lạ lùng, nhất là sáng ngày hôm nay, mò mẫm sao choảng một cái, cụ lại làm vỡ mất cái gương soi mặt. Thôi thì chờ sáng hẳn rồi cụ sẽ có dịp để ra phố mua cái khác.

Ðầu phố có hai cái tiệm bán đồ cũ mà cụ hay ghé, hai cái quán này là mặt hàng của cơ quan từ thiện bán những đồ đã dùng, chắc của gia đình những người đã khuất cho lại. Những cái quần, cái áo, những bức hình, khung ảnh, sách cũ, tượng trưng, búp bê, đồ chơi... đủ mọi thứ, hình ảnh của những ngày tháng và kinh nghiệm của những ngày đã qua.

Những người bán hàng thường là tự nguyện, làm công quả cho xã hội, họ là những bà già muốn những ngày còn lại trong đời còn để lại chút công ích cho cuộc đời, họ là những cô gái bị trời sinh hơi "dở hới" nhưng vẫn muốn nhảy vào rong lòng xã hội, từ chối bị bỏ rơi đứng ngơ ngác bên lề.

Sáng nay, cụ Vương tin chắc là mình sẽ tìm được một cái gương soi mặt, ngày thường cụ thấy bày đầy rẫy ở cái bàn giữa hai tiệm, nhưng sáng nay, chẳng hiệu làm sao mà không còn cái nào còn sót trong cả hai nơị Cụ than phiền với bà lão đứng quầy, bà này cũng đứng lên giúp cụ tìm mà không thấy. Cụ đành phải ra khỏi quán

Cụ đi khoảng độ nửa tiếng lòng vòng trong cái shopping center mà vẫn không tìm được cái gương nào vừa ý, cái nào cũng mới quá, tân thời quá, đem về đặt giữa cái phòng tắm cũ kỹ của cụ thì một phần tội cho nó, mà một phần tội cho những đồ vật đang có trong phòng.

Cụ quyết định đi về để chờ dịp khác mua sau.

Khi đi ngang qua một trong hai gian hàng bán đồ cũ , bà lão đứng quầy hình như đang có ý tìm cụ, bà mừng rỡ vẫy cụ Vương vào trong, rồi mở tủ dưới lấy ra một cái hộp trang điểm của phụ nữ có hình cùng những hàng chữ nhỏ Trung Hoa trên đó, bà cụ nói bằng một giọng tiếng Anh chậm rãi, cố tình để cho cụ hiểu kịp:

- Tôi tìm được cái hộp đã cũ này, chắc ông dùng tạm được, mở nắp ra đi...

Cụ Vương vừa hiểu lõm bõm, vừa nhìn điệu bộ của bà nên nhận cái hộp từ tay bà lão, rồi mở ra coi, quả nhiên mặt trong của cái nắp hộp có gắn một cái gương soi mặt. Thấy cái hộp cũ lắm, mà có vẻ không có một giá trị cổ nào, lại là đồ của phụ nữ, cụ có vẻ ngần ngại.

Bà lão nói tiếp:

- Cái này để biếu ông dùng tạm, mai mốt rảnh ông mua cái gương mới khác.

Rồi không chờ cụ Vương trả lời, bà lão gói cái hộp vào một tờ giấy báo, bỏ vào bao ny lông rồi đưa cho cụ Vương. Cụ Vương cảm ơn rồi móc hai đồng bạc để trên quầy, cười cám ơn bà lão, bà này tưởng cụ Vương không hiểu là bà ấy mua cho không, nên lắc cái tay nhăn nheo tỏ ý không nhận, nhưng cụ Vương vẫn gật đầu rồi nói Thank You; bà lão hiểu là cụ Vương không muốn nhận không, liền đưa trả lại một đồng. Ðến đây thì cụ Vương phải nhận lại, và cả hai đều hoan hỉ từ giã nhau.

Cái nắng đã lên đầy, cụ Vương ghé vào tiệm bán trái cây Á Châu mua một trái sầu riêng, nhờ người bán hàng bổ ra giùm lấy thịt, rồi lững thững đi qua cái công viên nho nhỏ đầy tiếng chim mà về phòng.

Căn phòng khép cửa sổ nên luôn tối, cụ Vương bật đèn rồi len lỏi qua những chỗ trống để vào phòng ăn, cụ để cái gương lên bàn rồi đi đặt nước nóng pha trà.

Khi nước đã sôi , cụ bỏ chút trà vào bình, đổ nước vào đó và mang ra ngoài bàn để uống. Những tiếng động vẳng đến từ ngoài cho cụ biết thời giờ đại khái mà không cần nhìn đồng hồ, tiếng xe của người giao thư, tiếng của lũ trẻ ra chơi đùa nghịch từ trường mẫu giáo, tiếng chân của anh thư ký người Việt của cơ quan phúc lợi xã hội khu phố đi ra ngoài hút thuốc hai giờ một lần . Thỉnh thoảng khi nghe thấy tiếng anh ấy ra ngoài, cụ lại mở cửa đi ra ngoài chào hỏi và nói chuyện qua lại. Chính anh ấy lo hồ sơ cho cụ và tổ chức kiếm người nấu ăn tháng cũng như nhắc cụ đi bác sỹ khi đến kỳ. Anh ta người Huế, hiền lành và nhỏ nhẹ, và là người duy nhất có kiên nhẫn nghe cụ nói mà không cắt ngang câu chuyện, dù rằng, cụ hiểu là nhiều khi anh ấy không thích thú gì v!

!

ề chủ đề của câu chuyện.

Hôm nay sau khi nghe tiếng trẻ con la hét đã im bặt, giờ ra chơi đã xong, cụ vừa uống trà vừa chờ bước chân của anh thư ký, nhưng không thấy, có lẽ hôm nay anh ấy phải đi họp. Cụ buồn như lỡ dịp gặp bạn đến thăm, bèn mở cái bọc ra để xem lại cái hộp mới có.

Nhìn kỹ thì cụ thấy cái hộp cũng không xấu xí gì, chỉ vì cái mầu đã cũ và những vết trầy sướt, nhìn thấy mấy hàng chữ Tàu li chi cái còn cái mất lẫn với hình vẽ núi sông trên nắp hộp, cụ đâm ra tò mò muốn biết chúng là gì.

Lấy cặp kính lão đeo lên, bật cái đèn bàn đọc sách, rồi lấy cái kì'nh lúp soi thì cụ nhận ra ngay đó là hàng chữ chú thích hào cửu tam của quẻ Khốn, mặc dầu nhiều chữ đã mờ nhạt nhưng cụ Vương tìm ra ngay:

Dịch viết: khổn vu thạch, cứ vu tật lê, nhập vu kỳ cung, bất kiến kỳ thê, hung. Tử viết: phi sở khổn nhi khổn yên, danh tất nhục. Phi sở cứ nhi cứ yên, thân tất nguy, ký nhục thả nguy, tử kỳ tương chí, thê kỳ khả đắc kiến dà?

Cụ Vương như sững người, hàng chữ này như được viết riêng cho cụ hay sao? "Kinh Dịch nói, như bị khốn ở hòn đá, lại dựa vào gai cây tật lê, vào nhà chẳng thấy vợ, xấụ Khổng Tử nói: không phải chỗ đáng bị khốn mà mình bị khốn thì danh chắc nhục. Không phải chỗ đáng dựa vào mà mình dựa vào thì thân ắt nguy. Ðã bị nhục mà lại bị nguy, ắt sắp chết tới nơi, còn thấy vợ được sao?

"Quẻ Khốn, trên Dđoài, dưới Khảm"..., vừa lẩm nhẩm cụ vừa mở nắp hộp ra soi mặt vào trong cái gương, lạ thay, thay vì nhìn thấy mặt mình nhăn nheo, cụ lại thấy khuôn mặt trẻ trung tươi mát của cụ thời còn mười tám, cụ thấy chợ lồng Rạch Giá, thấy cả nhà cụ đang chuẩn bị cho chàng trai trẻ đầy sức sống tên là Vương đi lên SàiGòn ăn học, cụ thấy rõ ràng như đang coi một cuốn phim. Không! còn rõ ràng hơn nữa, và thật hơn nữa, vì cụ như đang được đi trong cái thế giới ấy, ngửi được cả lại mùi đất, mùi trái cây...

Cụ thấy mình đang đứng trên đường Bonard, rồi đi qua bến Nghé, đứng trước mặt cột cờ Thủ Ngữ, ôi chao, biết bao hình ảnh thân thương, cụ thấy lại hết, sống lại hết, những buổi ngập ngừng sợ hãi đi thi, ngày đọc thấy tên mình được vào học trường, cãi nhau với tên thày thực dân người Pháp, khi lão này tỏ ý khinh miệt học sinh người Việt...

Cụ thấy cụ đi qua đò Thủ Thiêm, rồi cảnh khác cụ thấy mình đang đứng nhìn những hàng dừa bát ngát tại Mỹ Tho... Rồi nước mắt nhòe nhoẹt cụ thấy mình sung sướng về thăm nhà, được mẹ cho ăn những món ăn ngon...

Ðang mê man sống trong cõi ngày xưa đó, cụ bỗng nhìn thấy trên màn gương hiện ra hàng chữ Tự Quái Truyện: "Lên mãi không ngừng tất gặp Khốn...". Cụ toát mồ hôi, đúng lúc đó, có tiếng gõ cửa của anh chàng đem cơm tháng đến giaọ Cụ Vương khép vội cái hộp lại và ra mở cửa.

Anh chàng giao cơm cho cụ cũng là người Việt, trước đây làm công chức Bưu Ddiện ở Việt Nam, bây giờ qua đây cũng làm công chức Bưu Ddiện nhưng ca đêm, bên ngày anh ta giúp vợ giao cơm tháng. Hai vợ chồng lo làm ăn cầy cục, mua nhà cửa quá trời, mua rẻ bán đắt bây giờ đã có ba-bốn căn trả đứt, nhưng làm quá không chú trọng con cái, bây giờ hình như đứa con gái lớn vừa bỏ nhà ra đi theo bọn xì ke ma túy.

Cụ vừa nhận cái cà mèn từ anh giao cơm vừa lẩm bẩm: "không biết ngừng thì khốn...". Anh kia nghe tiếng được tiếng mất, hỏi lại cụ:

- Dạ bác nói gì?

- Hổng có, tui già rồi lẩm bẩm một mình hoài à, xin lỗi anh nhen.

- Dạ, không có gì đâu bác, thôi chào bác chiều nay con lại.

- Dạ, cám ơn anh.

Vào bàn cụ Vương cố thắng cơn thèm muốn vào coi tiếp cái hộp kia, cụ sợ, mà cũng lạ, đến tuổi này thì cụ còn sợ cái gì, thế mà cụ vẫn sợ. Mà cái sợ nó đeo đẳng cụ từ hồi nhỏ tới giờ. Cụ sợ nhiều mà không nhát, cụ cũng làm như ai, nhiều khi còn có lúc táo bạo nữa, tuy vậy mà cụ vẫn sợ. Bây giờ đây, cụ lại sợ, mà sợ cái gì, cụ có vẻ như sợ những hình ảnh cụ vừa coi

Nhưng, cụ không kềm lại được, cụ tò mò muốn xem lại coi cái hộp có khả năng cho cụ sống lại dĩ vãng thật không hay là chính tâm trí cụ hoang mang hoài cảm mà đi một mình về quá khứ.

Cụ để cái cà mèn lên bàn bếp rồi tới vội cái bàn đọc sách và mở cái hộp ra lần nữa, lần này thì không thể lầm được nữa, những hình ảnh thắm tươi của ngày cụ thi đậu Baccalaureat, đứng cùng vài người bạn quần áo chỉnh tề cổ thắt cà vạt trong Thảo Cầm Viên, rồi cụ đi qua Pháp, đứng ở thành phố Marseille, rồi lên Paris, bồ bịch với mấy nàng đầm tóc vàng...

Ôi quá khứ diễm kiều, mà lạ thật, cụ chỉ thấy nét diễm kiều của nó, tất cả những cực khổ thời chiến tranh PhápÐdức cụ không thấy, những ngày đói meo chờ đồ chuyển từ Ðông Dương qua, cụ cũng không thấy, hình ảnh những lúc bị lính Ðức hạch hỏi cũng không còn.

Cụ chỉ thấy những nụ cười hân hoan của những người dân Paris khi đón chờ nhóm lưu vong của tướng De Gaulle, rồi cụ thấy cụ đến cư xá sinh viên để nghe thuyết trình về một Việt Nam độc lập, sau đó cụ thấy cụ về nước rồi đi lẫn lộn trong những người mừng đón tin độc lập...

Nụ cười cụ Vương nở to khi cụ nhìn thấy lại ngày đầu cụ gặp người yêu, ngày hai người lấy nhau, rồi những đứa con đẹp đẽ thông minh của cụ ra đời.

Những hình ảnh càng về sau càng nhanh, và những chữ viết về quẻ Khốn càng lúc càng mờ cho đến khi những hình ảnh của quá khứ trong gương hiện gần đến hiện tại để cụ thấy lúc các cháu mình biết nói sõi tiếng Anh, các con mình mua nhà mới, và cụ mua được cái gương sáng nay thì thốt nhiên người cụ tự nhiên như thu nhỏ lại và biến mất vào trong cái hộp.

Tiếng chân của anh thư ký đi ra hút thuốc ngoài hành lang căn chung cư lại được vang vào lúc 3 giờ rưỡi, nhưng căn phòng của cụ Vương chẳng còn ai, chỉ còn lại một cái hộp cũ kỹ để trên cái bàn đọc sách mà đèn còn để sáng. Cho đến khi người giao cơm tới vào lúc 6 giờ rưỡi chiều và tìm ra cái cà mèn buổi sáng vẫn chưa được mở ra. Rồi cả ngày hôm sau cũng không thấy cụ, anh giao cơm nói với anh thư ký, anh thư ký điện thoại báo tin đến các con của cụ và sau đó là cảnh sát. Nhưng không còn ai nhìn thấy cụ Vương lại nữa. Cái hộp có cái kính Khốn đã bị người nhà của cụ Vương lọc ra và bỏ vào thùng rác. Những đồ cổ vật cụ sưu tầm được bán với giá thật rẻ, coi như cho không, cho tiệm bán đồ cũ, những chồng sách được bỏ vào các thùng cạc tông chất ở một góc garage của ông con cả cụ cho đến ngày chúng bị hủy hoại vì chuột và nước.

Phạm Thế Ddịnh
(20/03/2001)
phamthedinhaus@netscape.net

 


Chuyện loài vật
Heo thừa vú

Thảo Trần


Con Nái của bà Hai mới đẻ. Mười ba con mà nó chỉ có mười một cái vú. Bà Hai phải canh chừng, chờ con nào bú vừa no là kéo ra, để cho hai con heo nhỏ hưởng chút sữa mẹ. Hai con heo tuy đẹt ngắt mà rất tinh khôn, mỗi lần con Nái nằm xuống cho con bú là chúng lấn mấy con kia, giành vú mẹ,hành ra chuồng heo lúc nào cũng ồn ào. Ðàn heo con lớn như thổi, bà Hai phải mua thêm sữa bò cho hai con heo đẹt bú thêm, nên coi chúng cũng không èo uột cho lắm.
Nhìn đàn heo, bà Hai buồn hiu. Ông Hai chết đúng lúc con Nái đi nhảy đực, trong nhà không đủ tiền mua hòm làm đám, bà đành phải khoán đàn heo con cho con gái ông chủ điền. Trước khi đưa phân nửa tiền, cô ba Ðiệp ra chuồng heo đếm kỹ từng cái vú của con Nái. Như vậy là sẽ có mười một con heo con.
Cô ba Ðiệp dẫn hai người tá điền tới để bắt heo, cô không vô nhà mà đi thẳng ra chuồng heo, nhìn đàn heo mát mắt, cô đếm đi đếm lại thấy dư hai con:
-Dì hai, có hai con thừa vú hả?
-Dạ lần này nó đẻ được mười ba con.
-Thôi dì để cho tui bắt luôn đi, tui trả thêm cho dì chút đỉnh.
-Dạ, tui để nuôi cô ba.
-Thôi để tui bắt luôn, trừ món nợ năm giạ lúa cho dì.
Bà Hai nuốt nước mắt nhìn theo đàn heo con, tự an ủi, "con Nái lại rượng đực, chắc lứa sau nó cũng đẻ mười ba con."
2. Cục nhau mèo
Mấy hôm nay ngày nào cậu năm Triển cũng qua nhà ông Giáo, canh con Mướp coi nó đẻ chưa. Ông Giáo đã lấy của cậu 50 đồng để mua rượu uống, hứa sẽ canh con Mướp đẻ, lấy cái nhau cho cậu. Năm Triển là tay chứa cờ bạc, cho vay ăn lời cắt cổ, mọt ỉa ra cứt sắt, bà con trong làng ai cũng ghét. Còn ông Giáo thì ghiền rượu, ông làm mướn được bao nhiêu tiền cũng đổ vô mấy chai ba xị đế hết. Lúc này đã hết mùa lúa, công việc không có nhiều nên mấy người làm mướn cũng nằm co.
Bà con lối xóm ai mà không biết con Mướp, bộ lông nó vàng đốm như lông cọp, ông Giáo ở có một mình nên nuôi nó cho có bạn, ông cưng con Mướp vô cùng có khi dám nhịn rượu để mua cá cho nó.
Cậu năm Triển bước vô nhà thấy ông Giáo nằm co trên bộ ván.
-Con Mướp nó đẻ chưa ông Giáo?
-Nó đang chuyển bụng trong ổ rơm kìa.
Cậu năm vội vàng đi rón rén tới gần ổ rơm vì sợ con Mướp đẻ xong sẽ ăn hết nhau thì xôi hỏng bỏng không, con Mướp thấy người lạ gừ gừ rồi bỗng phóng chạy ra vườn, ông Giáo chồm dậy nhảy ba bước tới ổ rơm, rồi ông la lên:
-Trời đất ơi con Mướp đẻ ra trứng!
[Chú thích: Theo người Việt miền nam, nhau mèo đem đến sự may mắn, nhứt là cho dân cờ bạc.]
3. Con khỉ đột
Bé Bảy đang chơi đánh đũa thì ba nó kêu đi mua số đề, nó thua con Lẹ một bàn mắc nợ hai trăm cái hột me, nó phải gỡ lại bàn này.
-Ê, mày chờ tao một chút nhen, tao đi mua đề cho ổng rồi chơi tiếp.
Ðến chiều đề xổ, ba con bé Bảy dậm cẳng kêu trời:
-Trời đất quỷ thần ơi tao nuôi mầy gần một tháng nay rồi mà mầy không ra, bữa nay tao dốc hết tiền túi ngày mai lấy gì ăn đây?
Con bé Bảy rất sợ những ngày như thế này, ba nó sẽ đi nhậu rồi quậy, nó len lén chạy xuống bếp hỏi má nó:
-Ðề ra số mấy vậy má?
-Số hai mươi ba, con khỉ.
-Uả vậy thì ổng trúng rồi, sao ổng la làng?
-Trúng gì mà trúng, ổng nuôi con rắn mà nó ra con khỉ, trúng phong thì có.
-Rõ ràng con đi mua cho ổng mà.
Con bé Bảy rón rén lên nhà trên:
-Ba ơi ba, cái tờ giấy mua đề ba còn giữ không?
-Mầy hỏi chi vậy, trật lất rồi, trong túi áo bà ba đó.
Nó hồi hộp giở tờ giấy biên đề ra rồi la lên:
-Trúng rồi, ba trúng rồi, con nhớ rõ ràng con mua số hai mươi ba mà.
-Bộ mày nói giỡn với tao hả, hồi trưa tao dặn mày mua số ba mươi hai là con rắn mãng xà mà.
Thì ra lúc đi mua đề đầu óc nó còn tơ tưởng trận đánh đũa với con Lẹ nên nhớ lộn con mãng xà vương thành con khỉ đột.
Cả nhà vui mừng hí hửng, còn riêng con bé Bảy thì chạy ra ngòai hè đứng, tim nó còn nhảy thình thịch, hú hồn bữa nay mà đề xổ con mãng xà là nó chỉ có chết. Rồi bỗng nhiên nó ôm bụng cười sặc sặc, khỉ đột ơi là khỉ đột!


Thảo Trần

 


 

Trời Chưa Sáng

[ Nguyên tác The Sun Is Not Out Today
Của Lunxin'er
Từ tuyển tập The Serenity of Whiteness
Stories By and About Women in Contemporay China
Selected and Translated by Zhu Hong ]

 



Giới thiệu tác giả:

Lunxin'er là một trong những nhà văn nữ đầy triển vọng chuyên đề cập về số phận và hoàn cảnh của người phụ nữ Trung Quốc. Lu tốt nghiệp Trung Ương Kịch Nghệ trong những năm đầu của thập niên 80. Cô hiện sinh sống tại Thượng Hải và là một nhà văn chuyên nghiệp. Các tác phẩm đầu tay của cô bùng nổ vì chứa đầy tư tưởng duy tâm và phơi trần hình ảnh người phụ nữ nổi dậy để vượt qua những trở ngại trong cuộc sống. Các tác phẩm hiện nay của cô càng ngày càng sắc bén.


***


Trong một thành phố có diện tích trung bình này, dấu hiệu của một ngày bắt đầu từ các cửa hàng rau quả và bệnh viện. Người bán đã chuẩn bị hàng họ của mình từ năm giờ rưởi, đúng theo giờ giấc được quy định. Nhưng hiện nay với sự hiện diện của thị trường tự do đang mở rộng, người mua đâu cần phải dậy từ sớm để xếp hàng. Tại bệnh viện cũng thế, theo đúng giờ giấc đã quy định thủ tục ghi danh và lập hồ sơ bắt đầu từ bảy giờ rưởi, nhưng với thời buổi bây giờ, thủ tục ấy ngày càng khó khăn hơn.

Ðan Chi (Dan Ye) có mặt tại bệnh viện phụ sản từ lúc sáu giờ. Bên ngoài cổng sắt đã có một đám đông đứng chầu chực sẵn, hầu hết là đàn ông. Bầu trời nhiều mây và mù sương, xám ngắt một màu ảm đạm che mờ hết ánh mặt trời đang từ từ ló dạng khiến người ta khó nhận thức đâu là bình minh, giao điểm giữa ngày và đêm. Ðan Chi đứng tựa vào cột đèn đường bên cạnh cánh cổng sắt. Khuôn mặt nàng nhợt nhạt xám ngoét. Ngọn đèn trên đầu nàng vẫn còn sáng, chút ánh sáng yếu ớt, sáng mà chẳng chiếu sáng chung quanh. Màu vàng tẻ nhạt như trái bưởi chưa chín tới. Nàng nghiêng đầu ngước nhìn ngọn đèn vàng và bầu trời xám.

khi mặt trời chưa sáng (*)
vàng úa màu thái dương

Hai câu trên lướt qua đầu óc nàng. Ðan Chi khổ sở, tại sao cứ vương vấn thơ của người.

- Xếp hàng mau ! xếp hàng mau !

Cô y tá phục phịch xuất hiện trước cánh cổng sắt bắt đầu phát đơn. Ðám người chờ đợi vội vàng xếp thành hàng ngũ. Sau một hồi xô đẩy chen lấn họ giữ được chút trật tự, đứng sát vào nhau hơn chừng như sợ khoảng cách nho nhỏ có thể sẽ để kẻ ngoài lọt vào. Suốt dọc bờ lề, hàng người dài như con rắn uốn éo vặn vẹo bên này bên kia. Kẻ hút thuốc, người đọc báo hoặc chỉ đứng lóng ngóng. Ðan Chi đưa mắt nhìn chiếc xe buýt đậu từ xa. Người nói người sẽ đến, nhưng nàng không cho người đến. Cấm người đến, nhưng nàng vẫn trông, vẫn ngóng. Trạm xe buýt cũng buồn bã màu xám nhạt nhoà. Bà cụ đứng cạnh Ðan Chi than thở.

- Thủ tục mỗi lúc mỗi khó. Hôm qua tôi đã đến đây mà chưa xong, còn phải đi tới đi lui.

- Bác đến dùm ai phải không ?

- Cho con gái út của tôi. Khổ thân, con của nó vừa mới một tuổi thôi, mà bây giờ ... Còn cô ?

Ðan Chi xấu hổ ngượng ngập vô cùng. Nàng không quen với sự việc như thế này bao giờ. Chuyện đến nông nỗi này. Chẳng lẽ số phận người đàn bà là thế ? Chửa đẻ như gà. Người đàn bà khoảng trung tuần ngồi cạnh lên tiếng.

- Liếc sơ là biết, hỏi chi. Mấy con nhỏ trong xưởng tôi, nhìn bộ vó tụi nó là biết ngay có chuyện ọ ẹ rồi.

Mái tóc của mụ cắt ngắn và được chải ra sau láng mướt. Chiếc áo khoác bằng ny lông màu xám thẳng không một nếp gấp. Giọng nói và điệu bộ của mụ biểu hiện sự kỷ luật cực kỳ khe khắt. Bà cụ dè dặt:

- Thế cô là ...

- Tôi là cán bộ phụ trách kế hoạch gia đình cho cơ quan của tôi. Cứ mỗi ngày thứ hai và thứ tư tôi đến đây để sắp đặt thủ tục phá thai cho nhân viên.

Bà cụ hứng thú với câu chuyện.

- Thế à !

- Vâng, kế hoạch gia đình của cơ quan tôi năm nào cũng được tuyên dương thành tích xuất sắc.

Mụ ta nhìn chăm chú vào tấm phù hiệu trên ngực áo Ðan Chi.

- Cô là sinh viên ?

Ðan Chi miễn cưởng trả lời:

- Tôi là giáo sư ...

Bà cán bộ lên giọng hỏi nàng bằng miệng lưởi nghề nghiệp của mình:

- Con đầu của cô bao nhiêu tuổi ?

Ðan Chi lắc đầu vu vơ không trả lời thẳng câu hỏi. Bà cụ phàn nàn.

- Thời buổi bây giờ người ta chỉ lo chưng diện bên ngoài. Họ đâu muốn có con cái, vướng tay vướng chân. Ðâu như thời của tôi, đẻ năm một kia.

Bà cán bộ liếc Ðan Chi.

- Không phải ai cũng biết cân nhắc chuyện mình làm. Ðiển hình hôm nay tôi đến đây vì một con nhỏ, chưa đăng ký kết hôn mà đã có mang. Buồn cười ở chỗ là nó không chịu phá thai, cứ sợ bị thằng kép bỏ rơi.

Ðan Chi chẳng muốn nghe chuyện của thiên hạ, và không muốn ai biết chuyện của mình. Nàng quay người lột tấm phù hiệu cất đi. Cô y tá thấp lè tè hướng đến họ. Ðám đàn ông trong hàng nhìn lom lom vào xấp đơn trên bàn tay chuối nắn của cô. Cặp mắt họ dán vào cô như bị thôi miên. Bà cán bộ lo lắng.

- Giờ này sao chúng chưa đến ?

Vừa lúc ấy một cặp trẻ trờ đến cổng, dường như họ đang cãi nhau. Người thanh niên nhỏ giọng năn nỉ, và cô gái la lớn:

- Dám ? Anh dám gạt tôi ? Anh mà ...

Tiếng của cô vang to như được phát ra từ chiếc máy phóng thanh. Bà cán bộ thở nhẹ nhỏm, vẫy tay với họ. Cô gái vừa trông thấy bà cán bộ liền ngoảnh mặt đi. Chàng thanh niên nhanh chân nhào tới, lôi nàng theo.

- Xin lỗi làm phiền chị.

Bà cán bộ chẳng lưu ý, ra lệnh cho cô gái trẻ.

- Mau lên lầu xếp hàng !

Cô gái giật tay chàng trai và bước đi vội vã. Cô dong dỏng cao, nước da sáng và mái tóc dài thướt.

Cô y tá đến trước mặt Ðan Chi.

- Chị đến đây có việc gì ?

- Bác sĩ hẹn với tôi hôm nay ...

Liếc tờ giấy trên tay nàng, cô y tá lớn tiếng, chắc nịch như bề ngang chiếc eo thô kệch của cô.

- Phá thai ! Cầm đơn lên lầu hai, chờ trước phòng hộ sinh.

Bà cụ nhìn Ðan Chi thương hại.

- Không ai đi với cô sao ?

Ðan Chi đứng bất động, cảm tưởng như mọi cặp mắt đang đổ dồn về phía nàng. Ðan Chi cố nhoẻn nụ cười gượng gạo. Nàng nhìn trạm xe bên kia đường. Một chiếc xe trờ tới và vụt đi. Trạm xe vắng ngắt không bóng người. Trời vẫn chưa sáng. Lên đến lầu hai, ngay đầu cầu thang là chiếc bảng gỗ với hàng chữ 'Các Nam Ðồng Chí Xin Miễn Vào.' Tất nhiên kể từ giờ phút này, nơi đây chỉ ưu tiên cho đàn bà mà thôi. Một dẫy phòng bên tay phải có những chiếc bảng sơn rõ ràng cho biết đó là phòng cố vấn phụ khoa, bên cạnh là phòng kế hoạch gia đình. Khoảng trống ở giữa là nơi chờ đợi và hành lang dài dẫn đến phòng hộ sinh. Tại đó, trên tấm kính nơi cửa ra vào có hàng chữ ghi thật to 'Xin Giữ Im Lặng.' Ngay bên ngoài là hai chiếc băng ghế đặt sát tường đã đầy người. Sự yên lặng bao trùm nơi này kín bít như tấm kính lạnh lùng vô tri kia. Thiên hạ lần lượt kéo tới và sự yên lặng bị phá tan.
- Ðau lắm không ?

- Tôi lo quá, cả đêm chẳng ngủ nghê gì nổi.

- Cách hay nhất là thả lỏng người, và nhất là không được la khóc. Bác sĩ không chịu được tiếng rên rỉ đâu.

- Im lặng !

Tiếng quát phát ra từ căn phòng nhỏ xíu bên cạnh lối ra vào phòng hộ sinh. Nơi đây có tấm bảng 'Khâu Kiểm Tra.' Kiểm tra ? Thẻ y tế ? Thẻ chứng minh đơn vị công tác ? Tờ hôn thú ? Tờ hộ khẩu ? Ðơn từ ? Hoặc giấy giới thiệu của cơ quan ? Khâu kiểm tra, thật ra chỉ là mảnh vải nhỏ chạy dài với chiếc bàn và một chiếc ghế. Sau chiếc bàn là cô y tá khá lớn tuổi có đôi gò má cao và hai chiếc răng vẩu chìa ra ngoài như để hứng gió. Cặp mắt cô nhìn trân trối vào mặt đồng hồ treo tường chừng như cô đang chờ đợi hai cây kim điểm ngay con số tám, chợt cô đứng lên.

- Nộp hết thẻ y tế đây. Các chị có thể đi đâu một tí trở lại.

Hai chiếc băng ghế trống lốc sau câu nói của cô. Bà lão bán giấy vệ sinh ngay cửa ra vào nhà xí lúc này trở nên bận rộn khác thường. Ngay chiếc bồn rửa mặt một người đang quằn quại đau đớn, một tay nắm chặt lấy ngực, một tay kia cầm vòi nước, người đàn bà chẳng ói mửa được gì mặc dù cơn buồn nôn cứ từng hồi từng lúc dâng lên. Người bên cạnh nhìn cô ta lo lắng. Lần lượt mọi người có mặt nơi ấy đều bị hình ảnh vật vả của cô làm họ hoảng sợ, bỏ đi. Bất kể hàng người đang chờ dài phía sau, Ðan Chi nhỏ nhẹ bảo người ốm nghén:
- Chị dùng trước đi, đến khi thấy dễ chịu nhé.

- Cám ơn cô.

Người đàn bà quay lại với khuôn mặt tuyệt vời. Nét xanh xao làm tăng vẻ đẹp của cô. Ðan Chi tự nhiên.

- Chị nắm tay em nè.

- Không sao, chị chịu được. Dù thế nào đêm nay chị cũng phải trình diễn.

- Chị là diễn viên chính ?

- Không, vai chính đã có người khác, chị chỉ đóng thế mà thôi. Bà ấy cho chị đóng thế bảy vở tuồng. Ðã đóng được hai rồi.

Ðan Chi tò mò.

- Anh ấy có lo hay không ?

Liền sau đó nàng nghe câu hỏi như dành riêng cho hoàn cảnh mình đúng hơn. Thật sự người có lo lắng cho nàng hay không? Chẳng phải người đã nói người sẽ đến đó sao ? Tất nhiên, đời nào nàng cho người làm chuyện ấy. Cô diễn viên trả lời, như thể trả lời dùm Ðan Chi.
- Chị giấu không cho nhà chị biết. Anh ấy rất yêu trẻ con, nhưng đây là lần đầu tiên chị đóng vai chính. Nếu chị vượt qua được bảy màn trình diễn này thì chị sẽ có cơ hội đóng thêm mười bốn lần nữa vào vở sau. Còn em thì sao ? Nhìn em ... như chưa có cháu nào ...

Ðan Chi lẩm bẩm không thành tiếng. Sau khi nghỉ ngơi, mọi người trở lại vị trí cũ nơi hai chiếc băng ghế. Một số người mới cũng vừa đến. Chẳng ai phàn nàn điều gì. Họ bóp chặt tay nhau, vai nhau như để tìm thêm sức mạnh và chỗ dựa. Cô y tá lớn tuổi ở khu kiểm tra đứng giữa hai chiếc băng.

- Ai tên Phấn Hồng (Fan Hong) ?

Cô y tá xem xét đống thẻ y tế và các hồ sơ cần thiết.

- Giấy giới thiệu của chị đâu ?

Người con gái khả ái với mái tóc dài đứng lên bẽn lẽn:

- Giám đốc Phan (Feng) ở cơ quan em bảo ...

- Bảo gì ? cơ quan của chị làm ăn kiểu này hở. Ðăng ký phá thai mà không có giấy chấp thuận của cấp trên. Ðể trường hợp vỡ kế hoạch như chị không có hồ sơ lưu và không thể làm thống kê được gì cả. Ðây chẳng phải là lần đầu trò này bị bể mánh đâu nhé.

Mụ y tá tuôn một tràng kể lể quen thuộc.

- Theo quy tắc, bệnh viện chúng tôi không giải quyết trường hợp làm ăn cẩu thả như thế. Hiện nay có một số bệnh viện ở ngoại ô dành cho những người như các chị. Mọi giấy tờ thủ tục đều phải trả tiền. Lương các chị sẽ bị khấu trừ nếu các chị nghỉ việc ở nhà dưỡng bệnh. Còn nữa, các chị có thể sẽ bị kiểm điểm trước cơ quan.

Cô gái tên Phấn Hồng đứng cúi mặt như người mang trọng tội đang nghe tuyên cáo trước tòa án. Nước mắt chạy dài xuống mặt cô.

- Khóc làm gì ? Chị phải biết kết quả như thế này chứ ?

Mọi người có mặt tại hai chiếc băng ghế nín thở chịu đựng lời đay nghiến của mụ. Phấn Hồng chùi nước mắt vào chiếc khăn tay nhỏ. Cô chùi lấy chùi để, cố nén tiếng nấc của mình, nhưng giòng nước mắt đuổi nhau chạy dài hơn. Khi mụ y tá quay gót, hai dãy băng ghế vỡ oà sự liên kết.

- Thôi nín đi, khóc sưng mắt ích gì. Lần sau nhớ cẩn
thận hơn.

- Kết hôn ngay và giữ đứa bé. Ðằng nào thì cũng đẻ một lần, tội gì chịu đau đớn hai ba phen.

- Ðàn bà như mình luôn là người thua cuộc.

Chỉ có Ðan Chi là người câm lặng. Thua cuộc ư ? Nàng moi óc suy nghĩ và chẳng thể nào hiểu được thế nào là tính toán hơn thiệt. Ðối với nàng, chẳng có thước đo nào để tính toán đo lường được tình cảm. Người nói người yêu nàng. Lần đầu tiên nghe được những lời ấy nàng đã bật khóc nức nở. Sau đó nàng tin tưởng tuyệt đối vào tình yêu của người, và tin tưởng cả người. Trong năm năm trời dài đăng đẵng, mỗi ngày nàng đi vòng đường tắt để chờ người đến dưới chân chiếc cầu đá. Chỉ để gặp nhau trong phút giây ngắn ngủi. Ðể kể cho nhau nghe về bài giảng của nàng trong lớp, về bài thơ của người, hoặc chẳng nói gì cả ...

Giọng Phấn Hồng mềm nhũn.

- Tên cáo già cố tình gài em. Hắn sợ em đá cho nên âm thầm tính chu kỳ của em. Em vô tình không biết. Khi biết mình có mang em vội nghĩ đến chuyện kết hôn, nhưng bố mẹ hắn phản đối. Họ bảo em trẻ người non dạ. Họ đã tố em với công đoàn và đề nghị cho em đi phá thai.

Bây giờ mọi người đã hiểu tâm sự của Phấn Hồng. Lần đầu tiên nàng đạp đổ được thành trì dư luận, và phơi bày tất cả nỗi niềm riêng tư mà mình đã che dấu bấy lâu nay không hề hé miệng cho ai biết. Hai hàng băng ghế vỡ ra những lời phẫn uất.

- Ðừng cho hắn trốn tránh trách nhiệm dễ dàng như thế. Bắt hắn tẩm bổ cho cô. Phải lấy lại sức rồi muốn
tính gì thì tính.

- Ðến công đoàn tố lại hắn, cho hắn bị kỹ luật.

Ðôi mắt cô bé đỏ mọng.

- Anh ấy rất sợ tai tiếng. Anh ấy có mang cho em một số cây thuốc Nam nhưng không kết quả.

- Trời ơi, cô đâu thể dùng thuốc bừa như thế. Nguy hiểm chết người.

Cô diễn viên thở dài,

- Vô phúc sinh làm đàn bà. Tôi không bao giờ muốn đẻ con gái cả, nó sẽ khổ như mình thôi.

- Có người lại thích con gái.

Người đàn bà ngồi cạnh cô diễn viên lên tiếng. Bà ta lưng gù, thân xác nhăn nheo, một bên vai lép nhô lên xương xẩu. Trông bà ta như thân cây khô cằn cỗi. Bà chép miệng:

- Ông nhà tui than van là tui chỉ đẻ toàn con trai.

- Ðưa tay tôi xem !

Cô giáo dạy tiểu học chộp lấy bàn tay của người đàn bà bé nhỏ.

- Tay chị có đường chỉ con gái. Nếu giữ được thì chị sẽ có con gái chứ.

Bà gù bật lên thảng thốt:

- Ðúng rồi, lần trước tui phá thai là đứa con gái đó.

Dường như đường chỉ tay kia nói đúng điều gì, khuôn mặt bà gù chợt hồng lên một cách thú vị. Thình lình mụ y tá xuất hiện sau khung cửa kính, nhìn bà gù.

- Ra là chị. Thảo nào giọng nói quen vô cùng. Lần trước nói với tôi thế nào mà hôm nay còn đến nữa ? Chị đến đây bao nhiêu lần rồi biết chưa ? Liều mạng hở.

Mụ ta nói chậm rãi, từng chữ buông ra như lưỡi câu sắc nhọn móc vào lòng người. Bà gù cố tránh ánh mắt của mụ, ấp úng nói không ra lời.

- Sao chị không ngăn ngừa cẩn thận ?

- Cái vòng ... không hiệu nghiệm, tui biết làm sao ? Lần trước, phá thai xong mới ba ngày ổng đã ép tui.

Người đàn bà nhỏ thó xiết chặt tay hai bàn tay giữa đùi, một bên vai xương xẩu nhô lên, vai bên kia còng xuống.

- Chị phải biết thân chứ. Ai đời trong vòng sáu tháng mà đã phá thai ba lần, chịu nổi không ? Nếu ai cũng như chị chúng tôi làm việc sao xuể, cho dù dưới chân có mọc thêm hai cánh tay cũng không kịp nữa.

Tay mụ xoè ra như ám chỉ cả đám đàn bà ngay đó.

- Các chị đâu biết, hơn hai chục người mỗi buổi sáng. Cả tuần lễ đều đặn thế kia.

Hai dẫy băng ghế im thin thít. Cả bọn ngồi chịu trận xấu hổ. Ðan Chi thấy khó thở. Trong khoảnh khắc ngột ngạt thế này, dưới mắt Ðan Chi mọi điều đẹp đẽ chợt mất hết sự thiêng liêng của nó, như mặt trời vây phủ bởi vầng mây u ám. Nàng tự hỏi mình đã làm gì sai ? Có lẽ thật vậy. Nàng tự biết mình đã làm điều sai trái, gây bế tắc cho cả trăm sự việc khác theo sau. Kể từ buổi đầu hò hẹn dưới chân chiếc cầu đá, nàng đã lún vào đáy vực sâu thăm thẳm.

Mụ y tá gằn giọng:

- Chị phá thai nhiều lần quá rồi, tôi không biết lần này còn làm được nữa hay không. Chị vào cho bác sĩ xem trước rồi mới biết.

Người đàn bà nhỏ thó trong dáng phục tùng líu ríu cúi khòm người qua chiếc cửa kính với hàng chữ 'Im Lặng.' Hai dẫy băng ghế lại nhao nhao căm phẫn.

- Hạng chồng con như thế đáng bị lôi ra toà.

Cô giáo tiểu học cắn móng tay lộ vẻ bất mãn, vô vọng.

- Khốn nỗi đâu phải là trọng tội. Ðây là lần thứ ba của tôi. Mỗi sáng khi cùng đám học trò của mình tập thể dục, tôi lấy dây nhảy như điên dại hy vọng trụy cái thai ra ngoài. Khi thấy mình trễ chu kỳ tôi hoảng sợ phát bệnh. Biết chắc mình có mang tôi tuyệt vọng vô cùng. Tôi điên khùng la hét anh ấy suốt ngày.

Mỗi người một câu ta thán, Ðan Chi nghe lùng bùng. Những người đàn bà này vô cùng chân chất, gần như trần trụi chẳng che đậy điều gì. Sự thành thật của họ làm nàng muốn nói toẹt ra tâm sự của riêng mình. Nói gì bây giờ ? Nói rằng người đã có vợ ư ? Nói rằng người yêu con trai người lắm ư ? Nàng hiểu mà. Thật ra người có gian dối với nàng điều gì đâu. Người cũng chẳng lừa gạt nàng.

- Các bà nói giỏi. Tôi bảo cho mà nghe, để dành hơi sức chốc lên bàn mổ, không thì lăn đùng ra mới trắng mắt.
Gương mặt mụ y tá lạnh tanh y hệt khung cửa kính, ló ra. Mụ ta xăm soi từng gương mặt.

- Ai là Kiều Chinh (Qiu Ying) ?

Cô diễn viên đứng dậy.

- Tôi !

- Chị không có hộ khẩu ở đây.

- Vâng, tôi theo đoàn đi lưu diễn.

- Giấy giới thiệu của cơ quan chị đâu ?

- Tôi không muốn trong đoàn biết chuyện này.

- Thế thì mang hôn thú đến đây.

- Tôi đi trình diễn không mang theo.

Mặt mụ y tá trơ trơ như đá.

- Không có giấy tờ thì không giải quyết.

Cô Kiều Chinh lộ vẻ phản đối, nhưng không biết biện minh
cho mình cách nào, cô ấp úng.

- Thật tình tôi là người có gia đình đàng hoàng ...

- Có hay không, ai biết ? Tôi nhắc cho chị rõ, không có giấy tờ không giải quyết.

Cô diễn viên xuống nước.

- Tôi là người có gia đình thật sự mà. Tin tôi đi, tối nay tôi cần phải trình diễn, xin chị giúp dùm.

- Chúng tôi làm việc theo nguyên tắc. Không có giấy tờ, bác sĩ sẽ không giải quyết, cho dù chị có xông vào nhảy lên
bàn mổ cũng thế.

Cô giáo dạy tiểu học lên tiếng:

- Chị có thể phá lệ ? Cô ấy đã đến đây từ tờ mờ
sáng.

- Trả thẻ lại cho tôi !

Cô diễn viên giật ngang tấm thẻ y tế của mình và bước ra ngoài. Gót dày cao gót nện mạnh lên nền xi măng mồn một. Bao nhiêu cặp mắt dọc hai dẫy băng ghế tiễn cô ra tận cửa. Mụ y tá đầy khinh miệt.

- Tôi từng gặp nhiều người như cô ta. Ở đó mà 'thật
tình' với 'thật sự.'

Ðan Chi chạy theo cô diễn viên. Nàng chợt hiểu ra, trước khung cửa kính lạnh lùng kia tất cả những người đàn bà như nàng đều bình đẳng như nhau. Cho dù là một cô diễn viên trẻ đẹp, cho dù là một bà già xấu xí nhăn nheo, hoặc cô sinh viên thơ ngây đi chăng nữa. Nàng đến bên cô diễn viên, nhỏ nhẹ.

- Chị ơi, giữ đứa bé nhé. Em biết chắc chắn cháu sẽ đẹp như chị vậy. Mọi khó khăn rồi sẽ qua đi chị ạ.

Cô diễn viên mĩm cười trước lời dịu dàng của nàng.

- Con của em cũng thế, cháu sẽ tao nhã giống em.

Tim Ðan Chi run lên như chiếc lá đơn bị gió cuốn. Cô diễn viên quay gót bước xuống thang lầu. Hai dẫy băng ghế trở nên im lặng. Mụ y tá hắc ám biến mất sau khu kiểm tra, thay vào chỗ mụ là một cô y tá trẻ, tầm thước, có giọng nói nhẹ nhàng đúng khuôn mẫu của người y tá.
- Các chị lấy nhiệt độ xong thì vào thay quần áo ra. Nhớ
làm cho mau nhé.

Thêm một màn sôi nổi lại diễn ra. Chiếc cửa kính nhịp nhàng đưa tới đưa lui mãi khi mọi người chen lấn đi vào. Cô y tá trẻ đành mở toang hai cánh cửa. Ðan Chi ngần ngại lưỡng lự trước ngạch cửa. Nàng nhìn qua cửa sổ đang đóng kín bưng. Bầu trời ngoài kia vẫn còn mờ mịt che khuất ánh mặt trời. Ngọn đèn đường màu vàng có lẽ giờ này đã tắt hẳn. Thì sao cơ chứ ? Không mặt trời và cũng không có màu vàng nào cả. Ánh sáng rực rỡ đã đi đâu ? Lướt qua đầu, nàng nhận ra đây là lần đầu tiên nàng nghĩ đến thơ của người mà lòng thờ ơ không tha thiết.

Khu nghỉ ngơi cạnh phòng hộ sinh thật rộng rãi. Khoảng chục chiếc giường được sắp dài theo vách tường xen kẻ là chiếc bàn con màu trắng đặt ở giữa. Bà gù là người đầu tiên xuất hiện. Bà nằm dài trên giường thứ nhất, quay mặt vào vách. Nắm chặt tay đấm mạnh vào tường xi măng một cách yếu đuối, bà rên rỉ.

- Như giết tui vậy đó, trời ơi đau quá ...

Cô y tá đặt hai tách Ovaltine xuống chiếc bàn con, dỗ dành.

- Tử cung bị co rút đó mà. Uống tí này vào đi, uống hết nhé.

Phấn Hồng nằm mê man. Mái tóc đen của cô bé xõa dài phủ kín chiếc gối trắng. Cô giáo dạy tiểu học đặt mình úp mặt bên mé giường, thở dài ngao ngán nhẫn nhục. Nàng bắt đầu nôn oẹ kể từ khi đặt chân lên chiếc bàn lạnh lẽo. Một lúc sau, gian phòng hoàn toàn rơi vào im lặng. Mọi người đều nằm yên phăng phắc, căn phòng như khu ký túc xá vào giờ nghỉ trưa. Dường như đã hết chuyện. Mọi việc được giải quyết nhanh chóng như chưa từng xãy ra. Không còn chuyện mang ra bàn bạc. Các dẫy băng ghế không giữ được chút ký ức gì. Mọi việc chẳng khác nào đám mây bồng bềnh tan vào hư không. Ðột nhiên giọng cô y tá chém vào không gian yên tĩnh làm mọi người giật mình.
- Ai gọi xe thì mau chuẩn bị. Ca khác sắp xong, và số
người nữa sẽ đến.

Phấn Hồng là người đầu tiên choàng dậy. Mắt cô bé bớt sưng và dấu hiệu của vết thương cũng biến mất. Cô y tá trao cho Phấn Hồng tờ giấy chứng bệnh, dặn dò:
- Nghỉ dưỡng sức độ vài hôm nhé.

- Vâng, anh ấy hứa xin nghỉ ở nhà săn sóc em.

Bà gù trở mình nhổm dậy đau đớn. Thân hình của bà chẳng khác nào chiếc bánh tráng nhún nước, tay chân mềm nhũn rã rời, chỉ còn chiếc lưng gù cho bà chút sắc thái riêng.

- Tôi cũng có người đón. Ổng lái xe vận tải. Mười
giờ ổng sẽ đến với tui.

Bà nhìn chiếc đồng hồ bạc phếch trên cổ tay và vội vàng gom góp quần áo, dày dép. Cô y tá nhắc nhở:

- Thong thả chị ơi. Chị còn đau đấy, ông ấy chờ tí đã sao.

- Hổng được đâu, ổng đang trong giờ làm việc mà. Ông nhà tui không bao giờ đi trễ bê bối. Ðội của ổng mấy năm nay giữ thành tích xuất sắc đó.

Cô y tá lật hồ sơ của bà gù, dặn dò.

- Nhớ ăn uống kỹ lưỡng. Chị phải bồi bổ dinh dưỡng cho số máu vừa mất đi. Từ giờ trở đi phải cẩn thận nhé. Khi có chu kỳ trở lại nhớ đến khám ngay.

Người đàn bà nhỏ thó hồng đôi má nhăn nheo, bẽn lẽn cuối đầu. Bất ngờ một lời nhắn vang lên.

- Ở đây có ai tên Chung Lệ Hằng (Sung Lizhen) ? Ông xã của chị bảo rất lo lắng sốt ruột.

- Có tôi đây, chờ tí.

Cô giáo dạy tiểu học chừng như lấy lại được nội lực và niềm an ủi qua lời nhắn nơi thềm cửa. Cô cười thẹn thùng nhưng không dấu niềm hãnh diện.
- Tôi có thể về được rồi.

Hai người đàn bà khác còn đau đớn được hai cô y tá dìu
vào. Người bệnh nằm xuống hai chiếc giường vừa bỏ
trống. Ðan Chi bước vào một mình khiến mọi người kinh
ngạc.

- Sao cô ...

Cô y tá giải thích.

- Cô ấy ... ba tháng ngoài rồi, phải nhập viện để dục
thai. Không thể chậm trễ được đâu.

- Chúa ơi, sinh non ghê gớm chẳng khác nào đẻ con.

- Còn hơn cực hình nữa.

Những lời xầm xì to nhỏ lọt vào tai Ðan Chi nhưng nàng không buồn để ý. Nàng chẳng sợ đau và cũng không nghĩ đến tra tấn nhục hình. Cho dù người thú nhận ăn năn hối hận đã làm tổn hại đến nàng. Cho dù tim nàng tan nát. Khoảnh khắc ấy, chiếc cầu đá lung lay nghiêng ngã trên đầu nàng. Cho dù, sao đi nữa, sau cơn đau tột cùng nàng cảm nhận được nỗi vui khó tả. Nàng yêu hết tất cả, không oán hận bất cứ điều gì.

Cô y tá trao Ðan Chi tờ giấy.

- Ði mau xuống lầu, làm gấp thủ tục nhập viện.

Ðan Chi cầm tờ giấy đọc sơ, đoạn vò nát trong tay. Nàng bước đi bình tĩnh. Tấm bảng 'Im Lặng' trên chiếc cửa cuối cùng đã thắng thế, gian phòng chìm trong yên tĩnh và ôn hoà như sau một cuộc sinh nở mẹ tròn con vuông. Hai chiếc băng ghế ngoài lối ra vào trống không. Không còn sự chống trả vô vọng với niềm tự tin, không còn tiếng thở dài hoặc lời oán than. Ðan Chi ngồi xuống chiếc ghế. Nhập viện. Dục thai. Ba tháng ngoài. Chỉ qua chừng ấy ... chỉ một chu kỳ tức tưởi đứt đoạn ... nàng thấu hiểu tận xương tủy thế nào là thân phận của người đàn bà. Không thể nào, trăm ngàn lần không. Nàng không muốn làm lại từ đầu. Trai hay gái, đứa bé phải tao nhã, như nàng từng hình dung bao nhiêu lần trong đầu óc mình. Nó sẽ giống hệt nàng, giống hệt người. Nàng dứt khoát quăng tờ giấy lăn lóc dưới chân ghế. Vừa bước xuống thang lầu, Ðan Chi thấy lại tấm bảng 'Các Nam Ðồng Chí Xin Miễn Vào.' Người nói người sẽ mãi mãi ghi nhớ ngày này, tháng này. Nhưng nàng muốn quên nó đi vĩnh viễn.

Các nam đồng chí đang chờ đợi ngoan ngoãn ngoài hành lang tầng trệt. Hành lang thật rộng lớn mà đám đông đã nêm chật cứng. Một người vạm vỡ rắn chắc như vừa được gọt đẽo từ cục đá ngàn năm, chắc hẳn là ông chồng của bà gù. Ðan Chi đoán vẫn vơ. Còn kia, người trông lịch sự thanh tao, người trông gan góc láu lĩnh, tất cả cặp mắt của họ đổ dồn về phía chiếc cầu thang. Mỗi hình dáng, mỗi tiếng động lời nói, mỗi bước đi đều làm cho làn sóng người chờ đợi ngoài hành lang nhấp nhô. Ðan Chi bước vội qua đám đông, đầu cuối thấp. Cô diễn viên đứng ngay lối ra vào, chận nàng lại.

- Em xong rồi hở ?

Ðan Chi ngạc nhiên.

- Chị chưa về sao ? Chị chắc không muốn giữ đứa bé ?
Tội quá chị ơi.

Khuôn mặt cực kỳ diễm lệ của Kiều Chinh khó dấu được
nỗi lo lắng bất an trong lòng.

- Bố nó là đạo diễn. Anh ấy sẽ được thăng lên phó đoàn. Chị không thể sinh vội và nuôi con trong lúc này, vì sẽ mất chỗ đứng của mình thôi . Chị cần thêm thời gian em ạ. Chị nhất định phải thành công trên sân khấu. Bây giờ chị đi nói chuyện với bác sĩ, chắc chắn ông ta sẽ tin chị.

- Cứ thử xem.

Ðan Chi lẩm bẩm như thầm bảo riêng mình. Ừ, cứ thử xem. Xem cuộc sống nhỏ nhoi ngoài luật pháp kia có quyền sinh tồn hay không. Ðan Chi đặt tình yêu của mình lên trên hết mọi thứ trên đời. Nàng quý giá trân trọng nó. Do dó, nàng đã trả giá này. Nàng đã chuẩn bị mọi sự hy sinh, cho dù đau thương hơn thế nữa.

Bà gù nặng nhọc nhích từng bước xuống cầu thang. Ông chồng vạm vỡ cục mịch lập tức chạy đến. Bà quàng cánh tay ông, và họ cùng nhau bước ra ngoài. Cặp mắt bà giữ nét bình tĩnh nhẹ nhàng trên gương mặt nhỏ bé nhăn nheo. Gặp cô diễn viên và Ðan Chi bà nhoẻn cười dịu dàng. Cô diễn viên nóng ruột.

- Chị lên lầu ngay.

Ðan Chi bình thản.

- Em cũng về đây chị ạ.

Nàng rời hành lang, bước xuống bậc tam cấp. Lấy tấm phù hiệu ra, gắn trở lại ngực áo. Ngoài đường đầy xe cộ đủ loại, nào tắc xi, xe buýt, xe vận tải, và một rừng xe đạp. Thêm vào đó là trạm xe. Thiên hạ đứng đầy chờ chuyến xe của mình. Ðan Chi suy nghĩ miên man, có lẽ người đã đến và người đã đi. Nàng tựa người vào cột đèn xi măng và ngước nhìn trời. Mặt trời vụn vỡ tản mác qua vầng mây, và le lói chút ánh sáng nhạt nhoà toả màu vàng úa trên bầu trời như trái bưởi chín. Trời đã sáng. Không còn đâu nữa chiếc cầu đá. Không còn đâu nữa những con đường tắt chạy vòng quanh. Không còn gì nữa cả. Tâm tư nàng vang dội sự níu kéo chừng như để hoà nhập với ánh mặt trời vàng nhợt nhạt đang đổ từ trời cao.

khi mặt trời chưa sáng
vàng úa màu thái dương


Nguyệt Trinh
Jan. 30, 2001
vtruong@nova.umuc.edu


* When the sun is not out
Yellow color is sunlight



ÐI  LỄ

Lê Minh Hà



Cơ quan tổ chức đi đền Bà Chúa Kho. Nhốn nháo suốt cả tuần lễ để ghi tên và nộp tiền xe pháo. Hạnh đăng ký hai suất vé. Bụng cũng không biết sẽ rủ ai.

Thằng em hơn tuổi con bà cô nhắng lên khi biết. "Tuấn. Ðể Tuấn đi với chị. Ði cùng cơ quan khỏi phải chạy xe một mình mất hết thì giờ vào chuyện vé vủng bến bãi." Hạnh mừng rỡ. "Ừ! Sang đó nghe nói đi một bước là hỏi vé một bước." Lại dặn: "Dân tình cơ quan này hỏi gì cứ gật nhé." Rồi thắc mắc: "Mà sao Tuấn hăng hái thế?"
Buổi sáng, hai chị em dặt dẹo mãi ở hàng phở và hàng nước, sát giờ xe chạy mới phóng tới cơ quan. Ô tô đã nổ máy ì ì. Dân tình đã ai đến trước ngồi trước, hết cả ghế. Thằng em gửi xe máy, tỉnh bơ đưa Hạnh lên xe trước con mắt tò mò của mọi người. "Thế này ai dám bảo mình vừa bị bồ đá." Hạnh nghĩ, cười thầm, rồi len thêm mấy bước đến sát chỗ thằng em đứng. Hai chị em nhìn nhau đồng lõa. Ðầu Hạnh chỉ tới vai thằng em, lại còn ngoẹo xuống đầy vẻ tin cậy. Hạnh vừa ngửa mặt nói chuyện rủ rỉ với thằng em, vừa cúi xuống trả lời mấy chị đang yên vị trên ghế. Rất tự tin. Rất tự nhiên. Không có ai có ý định xì xào với ai, chỉ xôn xao tiếng trách "Gớm cô cậu (gớm hai bạn, gớm anh chị) kềnh rềnh càng ràng ở đâu làm mọi người ngóng mãi". Chốc mới có thêm một câu của cô bé mới về cơ quan làm hợp đồng: "Chị Hạnh giấu kỹ thế!" Ðôi mắt cô bé trong veo hết nhìn Hạnh, nhìn thằng em, lại nhìn sang mấy chị ngồi gần đãi giọng: "Chị Hạnh giấu bồ vì sợ có người mượn." Nghe đầy vẻ chọc ngoáy. Tự dưng Hạnh thở dài, muốn nhảy xuống xe về nhà nằm ngủ hay nghe mẹ lằn nhằn. Mẹ thì ít lâu nay chỉ có mỗi chuyện đó để lằn nhằn, rằng "tao thấy bạn con Hạnh đến chơi đứa nào cũng sấp sấp ngửa ngửa chồng chồng con con mà con Hạnh thì mãi chẳng thấy sóng thần rước đi cho". Mẹ cứ nói quá lên vì lo lắng bực dọc, nhưng đã có lần Hạnh nghe mẹ rầm rì với bà cô, là mẹ cậu em đang đi cùng đây: "Cô xem bạn thằng Tuấn có đứa nào dấm được thì dấm cho con Hạnh. Nó phải tuổi không nên lấy chồng sớm, nhưng giờ thì cũng sắp toan về già đến nơi rồi. Con gái học thế thôi chứ học gì nhiều. Chỉ khổ." Ðã mấy lần Hạnh càu nhàu: "Người ta đau đẻ còn chờ sáng giăng, mẹ sinh con mà chẳng chờ được năm tốt, giờ lại kêu ca. Nhỡ có ai để ý đến con nghe mẹ than vãn thế lại tưởng con là cái đụn rạ mục trong nhà. Rồi người ta lại vênh vênh vác vác. Rồi con mẹ lại ế sưng". Cứ đầu nghĩ lan man miệng đối đối đáp đáp mà xe đã tới nơi lúc nào không biết.

Vừa xuống xe đã thấy mấy ông thanh niên quần bò dép tông đầy bụi ào tới "Ðề nghị lái xe mua vé vào bãi đỗ." Hạnh phẩy tay, chọn một hàng nước đông mặt người cùng cơ quan ngồi kéo thằng em vào. Thằng em giầy ra giầy, kính ra kính, râu quai nón dậy muộn vội vội vàng vàng không kịp cạo, trông khá là trí thức thật, lại hơi bụi bụi, gọi cho Hạnh chén nước, tỉnh queo trước cái nhìn đầy vẻ kích động của mấy bà mấy cô đi cùng xe. Thằng em kỹ sư mới bị bật bãi khỏi cơ quan, đang dùi mài tiếp tiếng Anh và vi tính chờ cơ hội một liên doanh nào đó gọi đến xem mặt, có dạo máu làm thơ, độ này lại máu làm ăn, nhưng dỗ dành thế nào dân tình trong nhà và trong đám bạn bè cũng lắc đầu quầy quậy nhất định không chịu đầu tư. Ai cũng cười: "Ðưa tiền cho cái thằng tập tễnh làm thi sỹ vay thì chờ đó mà xem nó trúng quả. Bằng thả chim khỏi lồng rồi lạch bạch chạy theo đuổi!" Ðến đoạn này thì thằng em cáu lắm, nhưng cũng phải cười phân vân trước cái dự án làm ăn nhớn của mình.
Lúc còn đứng trên xe thằng em đã thì thầm với Hạnh: "Tuấn đi huy động vốn bà chúa Kho." Giờ, uống xong chén nước, chàng ta lôi bà chị xềnh xệch ra chỗ bán đồ lễ và viết sớ. Ông viết sớ nhận tiền, khua tay thoắng vài thoắng trong không khí trước khi đặt bút. Nhoáng cái hai chị em đã nhận được một lá sớ nhìn không biết là được viết bằng chữ quốc ngữ xấu hay chữ Tàu đẹp. Cô bán đồ lễ hơi bị xinh, giọng êm như tiếng Dream đập hộp thứ thiệt, chỉ vẽ hết sức tận tình, rồi đưa ra hàng tệp đô la âm phủ, ngọt ngào: "Tốt lễ dễ van. Anh chị mua cái này được giá hơn vàng. Âm sao dương vậy. Em nghe ngoài tỉnh giờ người ta tậu nhà tậu xe toàn dùng cái này chứ đâu còn dùng vàng phải không ạ?" Hạnh cầm mấy tệp, rút thêm thẻ hương. Thằng em nhặt thêm chai rượu con con như chai thuốc ho trẻ con, nhưng dán nhãn Lúa Mới đàng hoàng y như thật.
Ðường vào đền là đường làng. Chật. Ðông. Sơ sẩy là bị chen bật xuống rãnh lấp xấp một thứ nước khó định màu chảy từ các lỗ đục thẳng từ chuồng lợn các nhà ra. Ðã thế sát cửa đền lại còn thòi ở đâu ra mấy bà nạ dòng, mặt mũi gân guốc, mắt nhìn như chuẩn bị bắt kẻ cắp, hoặc là ăn cắp. Bà nào cũng áo cánh, băng đỏ đeo tay, không bán vé nhưng bắt nộp tiền công đức tại chỗ. Chẳng hiểu người của đoàn đội nào. Thằng em tận dụng chiều cao hơn người từ đầu gối trở xuống, phăm phăm đi tới, kéo phắt Hạnh theo. Chẳng hiểu sao càng gần tới đích Hạnh càng băn khoăn không hiểu sao mình lại đem thân vào đây.
Nơi đền phủ giờ mới thật. Bao nhiêu người phục vụ tận tình. Thiếu mâm thiếu đĩa bày lễ? Có ngay! Người đông như kiến, Khói hương mù mịt. Mãi mới kiếm được chỗ đứng cho yên để bày lễ. Thằng em bao quát xung quanh xong, hạ lệnh: "Làm theo thiên hạ!" Rồi vẫn từ cái tầm cao ấy tăm luôn được một đứa bé cho thuê mâm đĩa đang len lỏi mời chào. Hai chị em bày đủ lệ bộ vàng hương rượu, thêm đĩa xôi và túi hoa quả Hạnh mang theo. "Thế nào nữa?" Hạnh hỏi. 'Tuấn nói rồi mà. Làm theo thiên hạ!' Tuấn đội lễ hướng vào trong đền, chị Hạnh khấn. Rồi hoán vị. OK? 'Chứ chị làm sao chen vào kia được. Hương khói thế chị thở không nổi đâu!'
Khấn vái xong nhoáy cái đã không thấy thằng em đâu. Hạnh loay hoay với mâm đồ lễ, không biết làm cách nào trả được mâm cho con bé đang chầu chực khách từ một chỗ nào đó trên sân đền. Một lúc mới thấy đầu thằng em lấp ló sau các mâm đồ lễ ngất ngưởng. Hạnh cáu: "Lễ bái kiểu gì thế? Còn phải hóa vàng..." Thằng em thì thầm: "Tuấn vừa xin tiền đài. Tối nay về kịp Tuấn sẽ tỏ tình. Thế nào bé cũng gật!" Hạnh cười: "Tuấn bảo đi xin Bà chúa Kho cho vay vốn cơ mà!". Và thằng em cũng cười: "Thì tiện thể. Cũng một công xin."
Chen ra vất vả ngang chen vào. Thằng em tiếc rẻ chỉ cho Hạnh: "Chị Hạnh xem kìa. Thiên hạ lễ vàng lễ tiền nhiều chưa! Mâm nào cũng đầy ự đồ lễ. Tuấn dại quá. Ðã xin Bà cho vay mà lại không dám hỏi vay nhiều." Rồi giảng giải: "Lúc đứng ở chỗ xin tiền đài Tuấn thấy người ta bảo muốn vay bao nhiêu thì phải lễ Bà bấy nhiêu vàng mã. Chẳng hạn chị Hạnh muốn xin bà cho vay một triệu đô, chị phải lễ đúng một triệu đô âm phủ. Chị em mình lúc nãy mua có năm xấp tiền, tổng cộng có mười ngàn đô. Mà chẳng biết hàng mã có tính gian không?"
Vào quán, hai chị em gọi bánh giầy giò chả bù hôm qua ăn chay trước khi đi lễ. Vừa ăn vừa gật gù: "Chả ở đây ngon thật. Chẳng pha phách gì, mà nhìn miếng chả thật mặt chứ không màu mè điêu toa." Rồi ngạc nhiên: Hàng ăn vẫn chất phác thế này mà sao dân ở đây làm tiền người đi lễ kinh khủng khiếp thế. Hạnh mua mười cái chả về cho mọi người trong nhà, rồi nhìn quanh quẩn. Nắng. Bụi. Người nhô nhốp. Chẳng có một tý gì ra vẻ ngày xuân. Thằng em cười, thì thào thông cảm: "Chị muốn sè sè nấm đất bên đường phải không? Chỗ nào cũng người với người thế này thì quên đi. Lên xe chờ mọi người ra nốt rồi về cho sớm chợ."
Ðang gà gật trên xe thì tiếng người làm hai chị em choàng tỉnh. "Gớm hai em hạnh phúc qúa. Nhưng mà chị vừa nhìn mặt hai em, thấy em gái đây sắp có hạn đấy. Ðưa mười ngàn đây chị sang lời cho mà nghe." Cái giọng eo éo xói thẳng vào đầu, lôi tuột Hạnh khỏi cơn mụ mị." Không cần đâu. Hết hạn nọ đến hạn kia, xem làm gì cho mệt. Chị hỏi cậu này có muốn nghe thì xem cho cậu ấy." Tuấn, dở thức dở ngủ, khoát tay: "Chạy trời không khỏi nắng. Xem xét cái gì."
Xe chuyển bánh lúc hai giờ chiều. Mọi người râm ran bàn tiếp về sự ghé đền Ghềnh và Phủ Tây Hồ. Hai chị em ý nhị trả lại chỗ cho những người đã chiếm chỗ từ buổi sáng. Hạnh đứng, lần này mặt đối mặt với thằng em, lưng dựa vào thanh chắn buồng lái, nghe cậu em cúi xuống thì thầm: "Về chị Hạnh phải trả công Tuấn làm chân gỗ cho chị hôm nay trên cả tuyệt vời đấy nhé!" Hai chị em cưồi với nhau trước hàng dãy mắt làm ra vẻ thản nhiên. "Chị Hạnh này, mình vay Bà chúa Kho năm nay là kiểu gì sang năm cũng phải sang lễ tạ không là toi đặc đấy. Dân tình bảo Bà thiêng lắm. Vay gì được nấy. Vay tiền dương mà được trả bằng tiền âm. Hay nhỉ. Mà lúc ở đền chị Hạnh khấn gì đấy?"

Thằng em lắc lư người theo nhịp xe xóc, cúi sát Hạnh. Hạnh nghe rất rõ câu hỏi. Khấn gì à? "Ðủ thứ." Hạnh thì thào. Không dám nói là lúc đó chẳng dám xin gì. Người ta đến Bà chúa Kho để vay tiền. Vay tiền dương trả tiền âm. Có ai đi xin vay tình. Mà có vay được thì trả bằng gì. Vay tình dương trả bằng tình âm? Ðã chắc gì trắng nợ.

9.2.2000
Lê Minh Hà


 


 

Truyện thật ngắn

Khúc rẽ

Nhị Khuê

 

Ðịnh mệnh như gắn liền hai chúng tôi từ gần ba thập niên qua, có xa cách nhưng rồi có những chu kỳ chúng tôi lại gặp nhau. Năm tôi 19 tuổi đang năm dự bị đại học, do tình cờ, tôi đã khởi đầu nghề dạy tư thục, ở một trường Công giáo di cư trước viện Hóađdạo. Việt văn, sử địa, công dân, những môn dễ dạy khai mở cho một thanh niên tập làm người lớn như tôi. Và làm người lớn không dễ! Ngày kia, tôi ở trong phòng cha tổng giám thị già, một sĩ quan đeo lon trung tá vào xin gặp nói chuyện riêng với ngài về đứa con trai của ông vừa được nhận vào học giữa chừng niên khóa. Thấy phụ huynh nói giọng Trung, cha già bảo tôi tiếp chuyện chung, và cuối cùng ông đã nhờ tôi dạy kèm riêng cho Tùng, đứa con trai. Tùng cũng học một lớp đệ tứ tôi có mấy giờ công dân. Ông cho biết Tùng hơi lêu lỗng và lỗi ông thú là tại đời lính nay đây mai đó khiến ông không có nhiều thì giờ cho gia đình, và đó là lý do Tùng phải học trễ và không giỏi lắm, lại ham chơi. Lúc đó họ vừa từ Ðà nẵng dọn vào Sài Gòn, Tùng đã bị đuổi khỏi trường Phan Chu Trinh do đó không một trường công lập nào ở đô thành chịu nhận.

Nói là dạy kèm nhưng tôi với Tùng thục biđa, quán nước và đi chơi nhiều hơn là học. Ða-Kao, Tân định, ... không con đường, hàng quán nào mà chúng tôi không biết! Sự cách biệt tuổi tác bốn năm không thể khiến thầy hơn trò nhiều thứ, có chăng là vài năm học vấn. Không lâu sau khi Tùng vào học ở trường, nó đã tìm ra đối tượng: Thu Hải, và tôi cũng đã bắt đâu biết ... yêu, cứ coi như trễ hơn nó, một cô học trò cùng lớp với Tùng,Ý, bạn Thu Hải, nhưng lớn tuổi hơn, em nhiều nên học trễ - nàng chống chế như vậy! Nhiều buổi, chúng tôi không hẹn mà vẫn gặp nhau ở vùng Ngã-bảy và chùa Vạn-hạnh nơi mà sau biến cố Mậu Thân nhiều chung cư mọc lên từ đổ nát. Nhà Ý đặc biệt có ngôi chùa nhỏ trên sân thượng nhà, nàng kể là để cho ông nội tu tại gia, theo truyền thống xa thăm thẳm của tổ tiên từ Phúc-kiến mãi bên Tàu!

Tùng với cô học trò nhí nhảnh lúc nào tóc cũng thắt bím công phu ra sao tôi không rõ. Riêng chúng tôi chuyện tình không kéo dài lâu hơn một năm. Khi bố mẹ nàng tìm gặp tôi để hỏi thực hư chuyện hai đứa tôi và họ còn đưa tin nàng "hư" hay bỏ nhà đi hoang chơi với đám lính nhậu nhẹt trên đường Lý Thái-tổ, không hiểu sao tôi lại tin ông bà và đâm ra hờ hững với Ý, mà Ý thì hình như cũng chỉ chờ có thế để tìm vui chốn khác!

Bốn năm sau, khi tôi tốt nghiệp sư-phạm và nhận nhiệm sở ở một tỉnh miền cát trắng duyên hải, tôi đã tình cờ gặp lại Tùng ở nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế đường Duy-Tân bờ biển. Tùng đứng đắn ra nhưng vẻ mặt không vui. Thì ra Tùng phải bỏ Sài Gòn ra đây học chứng chỉ PCB ở đại học cộng đồng Duyên hải mới mở. Ông thân Tùng đang làm trưởng Công an cảnh sát phân khu. Tôi lúc đó vừa mới lập gia đình với người đẹp miền biển, phụ rể là hai tên bạn đại học nay đang chuẩn bị mặc áo chùng linh mục dòng. Nha Trang, nơi tôi mong và cứ tưởng sẽ là chốn ổn định cuộc đời tôi; đô thành đã là quá khứ và những trang đời vàng võ đã lật! Hiệp định ngừng chiến đã ký nhưng chiến tranh đang cực kỳ nguy hiểm, một tỉnh cận biên thùy phía Tây đã rơi vào tay kẻ thù và miền Cao nguyên không xa nơi chúng tôi ở sắp trở thành chốn địa ngục. Chúng tôi ra biển nói chuyện thủ đô. Ý bỏ học và bị bố phạt không còn chiếc mini vespa, nhưng nàng vẫn đi hoang và sắc đẹp trở thành ... dại khờ - chữ của Tùng! Tùng xác nhận Thu-Hải và nó thấy Ý thay đổi nhiều dù sắc đẹp vẫn còn, đôi mắt to vẫn hấp dẫn, nhưng tướng đi đã mỏi mệt, chán chường. Riêng Hải của Tùng đã đi làm - hình như để giúp gia đình, và vẫn xem Tùng chỉ là bạn. Nơi miền biển sẽ rơi vào tay thù địch hai tháng sau đó, chúng tôi còn gặp lại nhau ở một buổi trình diễn văn nghệ ở Tòa giám-mục.

 

Sáu năm sau đó, tôi lại gặp Tùng, lần này ở Ottawa thủ đô nước Canada, ở nửa vòng trái đất khác! Người Việt khắp các tỉnh bang đổ về nô nức cuối tuần đại hội thành lập Tổng hội người Việt. Nhiều giọt nước mắt thêm một lần đổ, và những nụ cười cho tương lai. Thật ra tôi gặp Thu Hải trước. Người con gái nhỏ như hột mít với mái tóc thắt bím đó đã làm tim tôi ngưng đập khi nàng xuất hiện trên sân khấu trong một kịch bản tiền chiến. Sau màn trình diễn, tôi vờ tìm ban tổ chức để đến gặp nàng ở sau sân khấu. Tiếng gọi "thầy" ngạc nhiên của Hải đã lọt vào tai Tùng đứng gần đó. Và chúng tôi đã bỏ hết những mục còn lại của chương trình văn nghệ để nói chuyện cho đã dịp hội ngộ. Tùng với Hải đã có hai đứa con nhỏ, Tùng "đi chui" trước rồi bảo lãnh vợ - chúng lập gia đình trước ngày Tùng đi chui!

Những tháng năm tuổi thành niên hoạt động cộng đồng rồi cũng qua nhanh. Cảm giác mệt mỏi hững hờ đã có lúc xâm chiếm chúng tôi. Tôi đã gặp lại Tùng trong tâm trạng mệt mỏi đó mười năm sau. Cộng đồng người Việt ở hải ngoại đã lớn mạnh và những bức tranh văn hóa đẹp tưởng vẫn vậy của tập thể cũng đã bắt đầu mờ phai. Hải và Tùng ly dị, hai đứa con ở với mẹ. Tùng dọn về ở chung thành phố với chúng tôi, mua duplex cho bố mẹ thuê ở trên lầu. Tùng ở riêng, mất hết lòng tin nơi người khác phái. Có Tùng, tôi thêm tật hay trốn vợ đi uống cà phê hay lang thang phố phường, chúng tôi như sống lại, trẻ lại, cứ vẫn như ở Sài-Gòn, Nha Trang,... Từ học trò, Tùng làm người lớn với trăm vấn đề của hôn nhân, gia đình thời đại mới. Tôi từ bục giảng bước xuống làm bạn, già sớm nên Tùng không thấy những khuyết điểm sinh vật của con người tôi, tóc như trời đất đầu Ðông lác đác tuyết và xương khớp dễ nhức lạnh mỗi khi đài khí tượng loan báo độ âm! Tùng vẫn trai trẻ, làm kế-toán cho một hãng điện toán, nhưng có lẽ Tùng đã hết đáp ứng nổi cho nhu cầu sống thật "hào nhoáng" và "cho đáng sống" của Thu Hải. Phần chúng tôi con cái đã lớn, đâm ra rảnh rỗi thành ra hay có giờ đi chơi cuối tuần và dự dạ tiệc các hội đoàn. Hải đã gặp vợ chồng tôi ở dạ tiệc y sĩ toàn cầu, kép mới của nàng là một tu bíp nỗi tiếng "chơi chịu" ở địa phương tôi ở. Vợ tôi mừng cho nàng, còn thêm thắt : "Tha hồ mua hột xoàn nhé!". Tóc nàng đã hết thắt bím và nếu chớm nghi nhầm người nhìn lại thì hình như cái mũi có cao hơn hoặc như của ai khác!

Ngày vui bao giờ cũng qua mau! Cuộc đời là thế! Hình như nếu niềm vui kéo dài sẽ trở thành điều quái gở dị thường! Một hôm Tùng gọi điện thoại đến chỗ tôi làm việc hốt hoảng báo tin Hải tự tử nhảy sông St. Laurent chưa tìm ra xác. Bạn nàng đi casino kể lại. Tùng trở thành gà trống nuôi con. Trong số những di vật để lại, Tùng tình cờ gặp tấm ảnh bán thân Ý tặng Thu Hải ba mươi năm về trước, đã đem tặng lại cho tôi. Vẫn là tấm ảnh tôi đã đốt trước khi lập gia đình, nay như sống lại! Tấm ảnh đen trắng tô màu nước bằng tay, Ý đang buồn bã nhìn tôi, vẫn đôi môi tươi mọng, vẫn chiếc mũi thon muốn cắn, vẫn đôi mắt ươn ướt tình ái! Tấm ảnh như chứa cả hơi hướm người con gái tuổi mười sáu. Rồi như tôi nghe như có tiếng ai thì thầm dưới làn tóc thề. Khi tôi quay lại để tìm, tôi chỉ còn nhận ra ánh mắt buồn bã của Ý nhòa đẫm lệ "em thương thầy, mà sao thầy vô tình quá vậy?". Những nhánh chằng chịt của cây đa cổ thụ như bao phủ hết mái sau bảo-tàng viện ... Hình như tôi hét lớn, rồi vụt ngồi dậy. Hóa ra tôi vừa ngủ mơ, như kẻ mộng du. Tiếng bà vợ tôi cười, giọng khô có lẽ vì giấc ngủ bị phá : "Lại nhắc tên con ... tào lao! Sao ngày trước ông không lấy nó đi!"

Nhị-Khuê

10-2000

 


Ơn đền oán trả

Hạc Tú

Hưng Long là một cái xã nhỏ chỉ độ hơn 500 dân, ở cách Huyện Cai Lậy khoảng 11 cây số về phiá Ðô⮧. Giữa hai xã Hưng Long và Thục Ðẹp là sông Trà Tân. Trà Tân là một giòng sông nhỏ chảy từ Vàm sông Cái Lớn vô đến khúc quẹo phân ranh giới giữa hai xã thì uốn cong bên lở렢ên bồi; Xã Hưng Long nằm bên lở của giòng sông. Từ bờ sông ra đến lộ đá có nhiều lối đi cây cối rậm rạp, ngoài ra còn nhiều lối mòn cỏ dại xuyên qua những đám rẫy xanh um, dân trong xã sống rất bình yên, thương yêu và đùm bọc lẫn nhau. Hầu hết ruộng vườn trong xã đều thuộc quyền sở hữu của ông Cả Huỳnh và đa số những người dân trong xã đều có họ hàng hoặc bà con xa của ông. Kẻ làm rẫy người làm ruộng. Phía ngoài lộ đá có một cái cống ăn thông ngang lộ để dẫn nước thông qua xã bên cạnh, người ta gọi là cống ông Huỳnh để ghi nhớ ơn ông đã cho tiền xây cống. Mỗi lần muốn đến xã Hưng Long đều phải đi ngang qua cống ông Huỳnh rồi mới đến chợ Ngã Tư, đây mới là nơi đại diện cho sự sinh hoạt chính của xã. Mỗi ngày dân trong xã tụ họp ở chợ Ngã Tư, mua bán đổi chác hàng hóa. Ở렴ại chợ có khoảng độ 20 gia đình sinh sống bằng nghề buôn bán, mỗi tuần họ đi đến chợ Huyện hoặc bằng xe đò, hoặc bằng ghe máy để mua những món hàng chạp phô như tương chao mắm muối, cá khô v.v. về bán lại cho dân làng, hoặc đổi lấy gạo lúa hay là rau cải. Cuộc sống của dân trong xã bình an như nước sông Trà Tân mỗi ngày lên xuống theo thuỷ triều.
Cho đến một ngày kia, người ta chợt thấy đám con nít rủ rê nhau chạy ra chợ xúm lại coi hát sơn đông mãi võ, nhưng đám sơn đông này lạ hoắc, chỉ có một ông già và một con bé ốm nhom ốm nhách; Họ trải một manh đệm dưới một gốc cây ở cuối chợ, bày ra nhiều thứ lạ mắt như là sừng tê giác nanh heo rừng, mật gấu phơi khô, mấy đồng tiền cù rích hoen rỉ và vô số chai lọ trong đựng xác những con rắn kỳ dị, những con rít khổng lồ…
Ông già, hãy cứ gọi như thế bởi vì ông ta trông rất già nua kỳ dị, tay cầm một thanh đao giống như thanh đao của Quan Công. Ô⮧ bắt đầu múa những đường quyền, vừa hát vừa nhảy theo tiếng thanh la phát ra từ hai miếng chập chỏa trên tay cô bé. Hát xong ông già quảng cáo những thứ thuốc trị được bá bịnh, những miếng kỳ nam hiếm có, mật gấu trị được nội thương, cao hổ cốt cho ông già bà lão, thuốc tễ dành cho đàn bà khó sanh con và đặc biệt là loại thuốc cho đàn ông nhất dạ sanh lục tử v.v.
Ðến trưa mặt trời đã lên cao, chợ bắt đầu vãn, ông già không bán được món thuốc nào hết chỉ có người đi coi mà thôi, hình như không lấ鹠thế làm buồn, ông ta cùng con bé thu dọn đồ đạc vô một cái túi da, cái túi da màu nâu thẫm hình như làm bằng da gấu, ông dẫn con bé vào một cái quán hủ tiếu trong chợ, chợt nghe con bé gọi:
"A Cún cho con một tô mì"
Thì ra con bé là cháu ngoại ông già. Có lẽ đã quen với kiếp sống rày đây mai đó nên con bé ăn uống ngon lành và không có chút gì bỡ ngỡ; Ăn uống xong hai ông cháu trở lại gốc cây mà ban sáng đã bày hàng ra bán. Ô⮧ già rút trong giỏ ra một cái ống điếu dài và thong thả nhồi thuốc vào lim dim nhả khói trong khi con bé dựa vào lưng ông ngủ gật.
Dân trong xã vốn hiếu khách và giàu lòng nhân từ nên đêm đó họ cho hai ông cháu vào trú ngụ trong cái chòi tranh giữ lúa của ông cả Huỳnh. Nói là cái chòi chứ thực ra thì cũng không đến nỗi tệ lắm, có một cái chõng tre, một cái bàn cũng đóng bằng tre do mấy ông tá điền dựng lên để canh giữ lúa trong mùa gặt. Thời điểm bây giờ lúa đã gặt xong chỉ còn trơ gốc rạ nên chòi trống, chỉ có ban ngày mấy đứa chăn trâu hay vô ngồi nói dóc.
Sau một tuần lễ chịu trận, ông già đã bắt đầu có khách lai rai vì ông già biết sửa trặt chưn trặt tay, biết nắn xương gãy nhưng biệt tài của ông là trị rắn cắn dù là rắn độc cách mấy mà đem đến ông kịp thời thì sẽ tai qua nạn khỏi. Thế là xã Hưng Long nghiễm nhiên kết nạp thêm một tiểu gia đình gồm hai ông cháu, họ sống rất hiền lương lặng lẽ. Ngoài buổi sáng ra, về chòi là con bé ngủ kỹ còn ông già thì ngồi hút thuốc lim dim nói chuyện đời xưa với mấy đứa chăn trâu. Thỉnh thoảng dân làng thấy ông ra bờ sông ngồi hằng mấy tiếng đồng hồ không nhúc nhích, con bé hình như đã quá quen với tính nết kỳ quái của ông ngoại nên cũng không quấy rầy ông.
Bữa đó là ngày giỗ phụ thân ông cả Huỳnh, nhân tiện ông làm heo ăn mừng ông vừa có đứa cháu nội đích tôn con của cậu Hai. Cậu Hai là con trai lớn. Cậu được đi học chữ Tây và sau khi thi đậu bằng Thành Chung. Nghe đâu cậu được bổ đi làm quan ở miền núi một thời gian rồi mới đổi về Saigon, cậu mới cưới con gái ông hội đồng tỉnh hồi năm ngoái.
Ðám giỗ đông lắm, hai ông cháu ông già sơn đông mãi võ cũng có tới chúc mừng, ông già đem tặng cho gia chủ một món canh hầm thuốc gia truyền rất bổ. Mọi người đều vui vẻ.
Mọi sanh hoạt của xã vẫn bình thường, sắp đến ngày làm đấ鴍 gieo mạ, không khí trong xã như vui hẳn lên, ai cũng chuẩn bị để làm mùa mới. Bỗng một đêm kia mọi người thức giấc giựt mình vì có tiếng la hoảng, người ta đốt đuốc sáng rực đường đê, họ khiêng một người ngất xỉu chạy đến chòi tranh của ông gia,荊 "Trời ơi làm ơn cứu dùm cậu Hai, đàm chận họng rồi, trời ơi không biết con rắn gì cắn nữa, ông già ơi, ông già." Không có tiếng trả lời.
Hai ông cháu ông già sơn đông mãi võ đã rời khỏi xã từ bao giờ không ai biết, dân xã võng cậu Hai chưa đến nhà thì cậu đã tắt thở.
Bữa mở cửa mả cho cậu Hai người ta ví bồ chung quanh mả để chờ con rắn đến lấy nọc, và dân trong xã đã đập chết một con rắn trắng nhỏ xíu, loài rắn chỉ có ở miền núi và nó được nuôi trong lóng tre nên trắng bạch và rất độc, chỉ có mấy ông thầy rắn mới dám nuôi mà thôi.
Hai ông cháu ông già sơn đông mãi võ vẫn bặt tăm. Người ta cũng quên đi người bất hạnh một cách vô tình, chỉ có những người thân là đau khổ, mợ Hai, ông cả Huỳnh… Sau khi làm giỗ đầu cho cậu Hai, ông mới lục lọi trong mớ giấy tờ cũ, để tìm chút kỷ niệm, chút hơi hướng của con trai cho đỡ thương nhớ. Chợt ông nhìn thấy một bao thơ đã ngả màu vàng. Mở ra thì chỉ có những tấm hình của cậu Hai và đặc biệt có hai tấm hình cậu Hai chụp với một cô gái thượng mặt mũi rất xinh đẹp, đang đứng bên bờ suối. Ô⮧ chợt nhìn thấy mặt cô gái rất quen thuộc. Ô⮧ thảng thốt la lên "Thôi đúng rồi, nó chính là cháu nội của mình."
Khuôn mặt của người con gái trong tấm hình đã bạc màu kia là khuôn mặt của con bé cháu ngoại lão già sơn đông mãi võ.


Tháng 4 năm 1995
Hạc Tú


Chủ biên: Phạm Chi Lan
Phụ biên tập: Phạm Thiên Mạc * Nguyễn Phước Nguyên
Ðinh Trường Chinh * Nguyễn Tiến Dũng * Sung Nguyễn

Ðinh Yên Thảo *
Thanh Thư

Homepage:  http://www.vanhocnghethuat.org
E-mail: vhnt@vanhocnghethuat.org

Copyright 001 VHNT Publications. All rights reserved.