vhnt_bnr.gif (16671 bytes)

 


 
                                                                 VIQR versionVNI version   | * Comments for this issue









Số 526
17 March 2001

MIỀN GIÓ KHUẤT


NỘI DUNG:

THƯ TÍN & Tham khảo ý kiến bạn đọc

THƯ VHNT:
TRƯỜNG ÐINH:
Màu tạo hóa trên tạp khúc Semicento

THƠ:
Xót Xa Thanh Sơn w Thôi Nhé Lan Quên w Buổi Chiều Ðinh Trường Chinh w Tiếc Ngọc Lan / Chậm Ngang Phố Co Lê Vũ Thúy Ái w Portrait of Nature / Chân Dung Tạo Hóa Trường Ðinh w Tìm Nhau Nguyễn Tư Phương w Về Những Người Khuất Mặt Nguyễn Phước Nguyên w Không Ðề Trầm w Hương Thời Gian Trần Huy Sao w Màn Ðêm Xuống / Hòa Âm Phạm Kỳ Ðăng w Nụ Hôn Tương Tư Y-Thy w Ô Ðề Nguyệt Ðộng w Nguyện Cầu Anh Khoa w Tình Thơ Trên Sóng Mộng Vĩ Ân w Hồn Nhiên Thảo Nguyên w Làm Thơ Dị Khuê w Bào Thai Cảm Xúc Hà Nguyên Du w Giấc Xuân Tình Phạm Văn Tiên w  Muộn Màng Nguyễn Bình Thường w Một Giòng Sông Lạc Duyên w Dòng Lụy Thụy Du w Nguyệt Khuyết Kỳ Thư

TIN VĂN:
JENNIFER TRAN:
Những Ðiều Tuyệt Vời về Walter Benjamin (trọn bài)

ÐIỂM SÁCH:
ÃNGUYỄN QUỐC TRỤ:  Những Cây Cọ Dại(Ðọc Gió Ngược của Lâm Chương và Tình Ca Con Dúi của Nguyễn Thị Thảo An)(Phần 2)
NHẬT TIẾN: Ðọc tác phẩm mới của Ngô Thế Vinh: Cửu Long Cạn Dòng, Biển Ðông Dậy Sóng
TRƯỜNG ÐINH: Những Họa Hình Hồi Sinh Của Nguyên (cảm nhận CD nhạc Ðêm nhìn mây trắng bay)
LÊ VŨ THÚY ÁI: Cirque du Soleil (điểm tin văn hóa nghệ thuật)

DIỄN ÐÀN VĂN HỌC NGHỆ THUẬT:
NGUYỄN ÐỨC TÙNG: Ngẫu Hứng Về Phân Tâm Học - Tương Thức
ûRAINER MARIA RILKE:
Thư Gửi Một Nhà Thơ Trẻ (thư  5)
(Phạm Thị Hoài dịch)

TRUYỆN NGẮN / TÙY BÚT / SÁNG TÁC:

MAI NINH: Biển đầm
THẢO TRẦN: 
Cái kẹp tóc
LÊ MINH HÀ:
Ðón người từ nghìn trùng
PHẠM THẾ ÐỊNH: 
Không bóng
SCOTT FITZERALD: 
Sâu rượu
(Nguyệt Trinh
chuyển ngưõ)
THU-THUYỀN:
Bức tường cố chấp
NGUYỄN NGỰ BÌNH: 
Truyện rất ngắn
CHU SA LAN: 
Nửa vầng trăng xế
HẠC TÚ: 
Sen trong cát bụi

 

 

Bạn đọc thân mến,

Giới thiệu với bạn đọc Văn Học Nghệ Thuật Phụ Trương số ra mắt, tựa đề "Vệt Trên Môi", đặc biệt về các sáng tác thử nghiệm tự do mới gồm thơ, văn thử nghiệm.
Phụ trương Văn Học Nghệ Thuật do Ðức Thuần, là tác giả các bài viết và sáng tác hypertext/hypermedia mới lạ, phụ trách. Rất mong đón nhận những sáng tác thử nghiệm của bạn đóng góp cho các số Văn Học Nghệ Thuật phụ trương này. Bài gửi sẽ không giới hạn qua hình thức "TEXT", mà có thể dùng tất cả phương tiện như âm thanh, hội họa, hình ảnh, ký hiệu, ký tự, v.v... để sáng tạo. Mời bạn gửi bài tới hộp thư Văn Học Nghệ Thuật hoặc Ðức Thuần (Xem phần thể lệ gửi bài).
Cám ơn bạn đọc, và chúc thăng hoa nở rộ trong tinh thần sáng tạo.
Ban biên tập VHNT

Phụ trương số ra mắt
http://www.vanhocnghethuat.org/Test/VHNTpt/issue001/cover.htm


THAM KHẢO Ý KIẾN BẠN ÐỌC
Thanh Thư phụ trách.
Email: thuytyburd@yahoo.com

VHNT có nhận được một thắc mắc của bạn đọc từ số 525 (3/2/2001). Thanh Thư xin đăng tải câu hỏi của bạn Nguyễn Quang và câu trả lời của tác giả lên diễn đàn VHNT theo sự chấp thuận của vị độc giả này.

Thư của bạn Nguyễn Quang:
Thân gởi VHNT,
Nhân đọc số 525 của VHNT tôi có thấy một bài thơ lạ của bạn "Nguyệt Ðộng" . Bài thơ này dùng nhiều ngoặc đơn trong toàn bài thơ. VHNT có biết dụng ý của tác giả khi dùng vô số ngoặc trong bài thơ này để làm gì không ? một thể thơ mới ? hay chỉ là cách dùng riêng của tác giả ?
Nguyễn Quang


Thư của bạn Nguyệt Ðộng:
Chào bạn,
rất hân hạnh được bạn cũng như ban biên tập VHNT và độc giả đã có thư đến cùng.

(thưa bạn (cùng) độc gỉa (Nguyễn Quang),

trong ngôn ngữ (đã sống và) quen, ta (có)
dùng (ký hiệu) để diễn (tả).

Cổ điển, dấu ( ) để dùng trong trường hợp:

1. rộng nghĩa: như tôi đi ăn (sau khi đã làm
xong việc)
2. phản nghĩa: tôi ở lại (trong khi người ra
đi)
3. câu chuyện khác: tôi buồn (cây lá xanh)

Khi nghĩ đến câu chuyện thơ cần sáng tạo,
tôi (nghĩ) hãy thở thơ bằng giòng sinh lực
(mới), để người (đọc như) tôi tìm ra chân trời
(khung) khác, được (chăng).

Thế nên, trong (thơ,) các ký hiệu để
(lập) thành (nghĩa) (mới)

Cổ điển như thơ Nguyễn Du, câu

rừng phong thu đã nhuộm mầu quan san

bạn đọc như thế nào?

tôi (đọc) thành:

rừng (phong) (thu)
(đã nhuộm)
(mầu) quan san

ở đây, tôi (đọc) là rừng (phong như rộng)
nghĩa thành (thu)
ở đây tôi (đọc) là (đã nhuộm) đã vàng
(hiu hắt)
và (ở đây), tôi (đọc) là (mầu) quan san

hay tôi đọc như thế này:

ở đây tôi là rừng nghĩa thành
ở đây tôi là đã vàng
và, tôi là quan san

(đọc) (phong như rộng) (thu)
(đã nhuộm) (hiu hắt)
(ở đây) (mầu)

hay:

rừng
quan san

(phong)

(thu)
(đã nhuộm) (mầu)

đọc ra nét nghĩa nét riêng
tình ra nét chữ ngả nghiêng làm vì

(mong) bạn (vui),

tình thân,

ND)




Màu Tạo Hóa Trên Tạp Khúc Semicento


Thi tạo như truy tìm kẽ ngách để diễn lộ và thoát xác cho linh tri. Những tự bạch như tự họa, vẽ chính mình để nhìn chính mình trên giới hạn. Người thơ trong tôi, kẻ yêu phận kén tầm và đời cánh bướm, tiềm ẩn và lãng du như dị chủng. Nhịp khúc trong tôi đến và đi như gió, dạng biến như mây, trải diễn những cuồng lưu tâm tưởng trên tương giao ngữ màu trong từng hơi thở. Thơ trong tôi đam mê một lần của từ muôn nghìn lần tái sinh và hủy diệt, như đoản khúc trăng mãi điệp lập xoá hình đã từng đêm vọng gọi. Tôi hoang say sự thêu kết, đúc xén và xung phá trên ngữ điền và thi tưởng. Với vạn chữ thơ như hành trang, tôi hoan hưởng từ cái vô cùng trước màu trời. Ngữ thú trong tôi dệt màu không biên giới. Thơ đối ẩm thơ như rong chơi diễn trận trên bàn cờ mãi tháng ngày lãng phiêu không kỳ hạn.

Trường Ðinh
t.dinh@ntlworld.com

 

 


Xót Xa

Khi nốt nhạc cuối nức lên trong đêm tối
Khi nắp dương cầm đậy xuống chơi vơi
Khi tiếng hát ai kêu thiết cuộc đời
Ðó là lúc ngôi sao vừa tắt
Người nghệ sĩ đem tơ tằm rút ruột
Mua vui cho mọi người
Bóng tối âm thầm bủa vây khi màn nhung hạ xuống
Tiếng kèn đồng lảnh lót vang ngân
Em lau mặt đuổi xua ám ảnh
Ánh đèn màu loang bệch sắc da
Tâm sự riêng mang không thể hé lộ chan hoà
Ðôi mắt biếc mang sầu nhân thế
Ðó là lúc thiên ân vẫy gọi
Em lặng lẽ xuôi tay giã biệt cuộc đời

Từ nay tiếng hát em chỉ còn là kỷ niệm
Ðêm vọng về nức nở tiếng CD.

Giã biệt Ngọc Lan

Thanh Son
Dothanhvan@aol.com




Thôi Nhé Lan

Thì thôi vậy .
Nắng chiều nay úa
Lếch thếch lê trên bãi biển xanh
Bãi cát dài, còn đâu một thuở
Nhạc ru hồn, quấn quít vây quanh

Thì thôi .
Ðã nhỡ nhàng yêu giọng
hát ngọt ngào trong giấc thụy du
Trong vỏ sần sùi, con ốc mộng
được cùng Lan hát bản tình thu

Thì thôi .
Lan nhé ! Anh thầm nhủ
Vương giả chi lan, ốc chính anh
Lan quí cao sang, say giấc ngủ
Ốc nghèo, đeo mãi kiếp mong manh

Thì thôi vậy .
Ốc nằm ven biển
Ðể cả đời nghe sóng vỗ lòng
Tiếng hát buồn ơi, xin chớ hiện
về làm ốc tủi phận long đong

Quên
wquen@yahoọcom
[về ca sĩ Ngọc Lan]




Buổi Chiều

Tôi nhìn những con cá vàng bơi quanh mình
nhánh cây xanh đổ xuống mặt bàn
hình như chiều vừa đổ xuống cơn tuyết
tháng ba
thành phố không có gì thơ mộng để nói
ngoài cách bám víu vào mặt không gian rất
trống
nhổ lên đó một ý thức mòn ruỗng
.
tôi làm dấu thánh cho một người ca sĩ vừa
chết sáng nay
tiếng ca cất lên trong tâm tưởng
ru tôi ngủ với giấc mơ chưa kịp thoát thai
phiêu mù theo kiếp khác
.
Thức giấc với ý nghĩ những con cá đã lìa
đi mất
Người lao công vừa đổ sạch giấc mơ tôi
huỷ tích một niềm bí mật !

Ðinh Trường Chinh
dinhtchinh@yahoọcom




Tiếc Ngọc Lan
(ngày 6 tháng 3 năm 2001)

Em khiêm tốn nằm ngoan trong cỏ dại
Mưa xoay đùa run phủ rập thân em

Bờ đá xám hằn tên người trên mộ
Khói nhang tàn trăn trở giữa cơn say

Mây sợ hãi run thân hờn trút nước
Gió vàng lên đêm tối nghĩa trang buồn

Trời lạnh quá tiếng than vờn bóng lá
Rầm rầm sấm sét vỡ tầng không

Thân về đất ngập nhầy hay sũng nước
Dập cung thương thăm thẳm cỗ quan tài.

Lê Vũ Thúy Ái - Canada

----------------------

Chậm ngang phố cổ

rất chậm chiều qua ngang phố cổ
tình xưa mời khách lạ dừng chân
hồn Florence bỡn cợt lả lơi gần
trang sử tỏ thần trong mắt tượng

Michelangelo - Cathedral phục chân tài người lắm
nhập thân hồn điêu khắc biết yêu
kiệt tác trăm trăm năm kiêu hãnh
rọc nát bản sao tạp tranh thô

từ Chianti cao vọi hướng về Rome
thấy áo đỏ choàng quanh thân đá
cổng trời là vàng thếp ghế Vua
có bò trắng làm quà chiến thắng

Italy say ngà cặp bè nghệ thuật
đáp tình lãng mạn của nghệ nhân
nơi Leonardo da Vinci vịn vai Orff
trong tay người nhánh Irish phó thân

cánh dù xoay ướt môi thợ vẽ
vẫn giọt vắn giọt dài trong mưa
huyền thoại ngàn năm trên phố cổ
lãng đãng thơm mềm mỗi đêm xưa.

Lê Vũ Thúy Ái , Canada
Ellenle@globalservẹnet




Portrait of Nature

every night
in quiet stillness
moonlight travels across the shadow's night

far end
night singing
song of dreams
lying soft
top of silky moon
nature itself re-sounds
jingled voices everyday through nights

moonlight drops
wet through clothes
water girls
smile shyly

early day in mind
heart sees
loving friendship of wandering clouds
heroic sun lying above
living sky of ornate world

glistening eyes
closer face
sweet voices
triggered upon
secret behind the sun
passion of love
memories.

Trường Ðinh

-----------------------

Chân Dung Tạo Hóa

mỗi đêm
trong tĩnh mịch
ánh trăng du hành qua bóng tối

từ cõi xa
đêm hát ca
bản nhạc mộng
trải dịu mềm
trên đỉnh trăng óng ánh
từ mọi ngày đến những đêm
tạo hóa vang lên những tiếng rung

áng trăng rơi
ướt đẫm áo
nàng sông nước
mỉm cười e thẹn

buổi sớm trong tư duy
con tim cảm nhận
tình bạn mến thương của đám mây lang thang
mặt trời hùng điệu nằm cao vót
bầu trời sinh động của thế giới điểm tô

mắt long lanh
khung mặt chạm gần
giọng ngọt
lẫy nhanh
trên thẫm bí ở phía sau mặt trời
nồng nàn tình yêu
trong kỷ niệm.

Trường Ðinh
t.dinh@ntlworld.com




tìm nhau


"tìm nhau như chim mộng tìm người mơ"
Phạm Duy .

đàn rũ xuống
từng âm rời
của gió
ngọn gió rung
ân cần trên phím

em ôm đàn
ngồi hát
em nồng nàn
những ngón tay mưa
ta ngồi nghe
xao lòng
chợt nhớ bài ca thời thơ ấu

chiều qua nhẹ
chiều trải nghiêng
vệt nắng
trên ngực trần
nắng để lại
vết môi

ta ngồi nghe
thấy tim mình mở
tiếng đàn buông
tiếng đàn lang thang
theo gió đi tìm

tìm nhau
tìm nhau .

tìm cho nhau
những âm
rực
của tình.

Nguyễn Tư Phương
phuong_nguyen@hp.com




Về Những Người Khuất Mặt

who knows what middle is, until he's seen both ends
Rod McKuen

Bùi Giáng

chấp tay tôi lạy trần gian
cúi xin tính-tịch-tình-tang nỗi buồn
dẫu em chớp bể mưa nguồn
chẳng nên ruồng rẫy miên trường trước sau

oOo

Mai Thảo

đền miếu tro than lạnh vắng rồi
lệ thương tiếc cũng ráo khô thôi
hai năm trong đất, đau lòng mộ?
hỏi có nghiệm ra lẽ đất trời?

oOo

LUP

vũng lầy nào tôi đứng lại
soi tim mình
sau một lần đem hạnh phúc cùng tình yêu ra thách đố
với cuộc đời

tầm vút xa của tiếng hát sẽ không còn bất tận
khi tiếng đàn kia đã tắt.
đã tắt.
đã.
tắt.

oOo

Nguyễn Tất Nhiên

chín năm đời khép hẹp
(viên thuốc ngủ thời gian
uống vào, tim hoảng mệt)
tuyệt vọng, vẫn cưu mang?

nầy, ma soeur. Duyên hỡi.
người tình nào không ngoan?
trái cấm nào không ngọt?
hạnh phúc nào tính toan?

oOo

Lư Ngọc Dung

lời đá ru trong gió, em lắng
nghe, rồi

khép mi, bước
vào cuộc hành trình khác

chốn đến là sự tuyệt đối
em hằng ao ước

như khoảng trống
giữa tôi

oOo

Titi

em là con gái vừa 29 tuổi
em mãi là con gái 29 tuổi

tôi ấm áp với khoảng-trống-em, trong tôi
vì biết
em vẫy chào tuổi 30
vĩnh viễn
với tình yêu ngập tràn trong tim

em là con gái vừa 29 tuổi
em mãi là con gái 29 tuổi

em mãi là con gái chưa 30


Nguyễn Phước Nguyên
nguyenn@tcbhoụcom




Không đề

Giấu sau mặt nạ đời mình
Tôi thân rỗng tếch tâm linh nát nhầu
Lông` ngực hẹp chứa niềm đau
Trái tim mang vết thương sâu tội tình
Môi cười ngượng nghịu nửa vành
Ðoạn trường lệ đọng long lanh mi gầy
Kịch đời đóng chẳng tròn vai
Chân run lạc một lối về . buông xuôi
Ðành thôi còn nửa "cuộc chơi"
Mượn vay cho trọn kiếp người trầm luân

Trầm
tram1402@yahoọcom




HƯƠNG THỜI GIAN

về tắm sông xưa ăn cơm mới
uống nước dừa bập điếu thuốc rê
gãi rốn nhìn mây trời trôi nổi
thiu thiu ngủ mát giấc trưa hè

con cá câu giãy giụa đòi về
mớ tôm bạc búng hoài không thoát
mấy thằng bạn nói cười vui vẻ
hẹn chiều về bữa nhậu sương sương !

cô láng giềng thăm lúa về qua
ngồi ghé lại chuyện đời khuây lãng
mái tóc mượt đượm nồng hương sả
mùi mồ hôi thoảng dịu hương chanh

chiều trốn núi mặt trời đỏ chói
đường qua Thôn rộn bước trâu về
bếp nhà ai dậy mùi cơm mới
bỗng thèm ghê, một dĩa muối mè

đêm yên tĩnh trăng tròn vành vạnh
thoáng xa xa tiếng dế gọi tình
buổi họp mặt thiệt là lãng mạn
rượu sánh đầy vàng óng trăng khuya

cô láng giềng hình như mất ngủ !
bên giậu thưa có ánh mắt buồn
tôi, kẻ lãng du đời ly xứ
đừng để lòng nhau nặng nhớ thương !

ánh mắt ngày xưa xin gởi lại
tôi phải chia tay về viễn phương
vẫn còn giữ mãi mùi hương sả
còn em - em giữ lại nỗi buồn !.

TRẦN HUY SAO
tranhuysao@yahoo.com




Màn Ðêm Xuống

Lầm lạt mây chì trời lạnh lắm
Ðổ tầm giốc mạnh hũ đêm đen
Người run áo lật thung tàu chạy
Hất gió ngoại ô cuốn thốc rèm

Có trong đêm tối vàn xô đẩy
Sạt sạo đường ray nghiến lá vàng
Kẻ đi hớt hải như người lạc
Chẳng bao giờ nữa tiếng chân vang

Rặng sồi rồi mãi nghiêng nghiêng ngả
Bằn bặt miền khuya thấm nước mưa
Lũ ốc rút thân chừng kiệt nhớt
Hớt lạnh vào đâu mấy mấy vừa

Mây cuốn bao lâu, mãi chẳng tan
Rặng xa hoa lý lả lả giàn
Thế giới: hốc đen vừa bật rễ
- Một khối thương đau chẳng liệm màn.

Phạm Kỳ Ðăng

---------------------------

Hoà Âm
- tặng Phan

Giăng giăng hoa bay, chiều mưa dầy
Lầy miền rừng u phơi thây cây
Hơi may đìu hiu dìu tàn mây
Xây đường cờ tang về hoàng hôn

Pha buồn lên khơi văn chiêu hồn
Mây tầng phiêu diêu se môi hôn
Làn tan sương mơ trên cô thôn
Sen còn mơ pha hương se tuôn

Còn đâu xa xưa nguyền thâm tình
Oan người xa đây hoa êm thinh
Chao lòng đàn hồi dây rung rinh
Chau mày chi lâu em kiêu xinh

Về làng: giàn lan chùm la đà
Em cười tươi cho duyên ngân hoa
Châu Giang dòng đưa con đò ngang
Còn xoay nơi nao trên sông hoang

Ai mong tôi đây mà cung đàn
Òa lên tình thương cho nhân gian
Chèo buông xuôi tay: đời cơ hàn
Thì ôm ngang trăng mơ miên man

Theo thơ tôi nguôi sương trăng rơi
Hoà theo đàn ca âm mê tơi
Mai đi hoài trông trùng sương rầu
Còn dâng, còn dâng xuân sao lâu?

Phạm Kỳ Ðăng
(Ian Bùi giới thiệu)




Nụ Hôn Tương Tư

Ðêm nay về gác trọ
Nằm trăn trở thâu đêm
Nhớ người em bé nhỏ
Nụ hôn thoáng êm đềm.

Dư hương nụ hôn trao
Dường như vẫn còn động
Ðôi vai gầy run nhẹ
Nụ hôn thật ngọt ngàọ

Rồi nghe tình dịu vợi
Mảnh hồn anh chơi vơi
Lạc theo làn gió mới
Rong chơi suốt cuộc đời.

Y-Thy (03/01)
phuvo@hotmail.com




Ô Ðề

đầm (ướt mùa)
khô (trăng thốc
hạc)
(còn) chìm
ẩn (khuất)
đông phương
(lạc)
vạt áo (sương
hằng) nga (tiễn)
nguyệt
ô đề
(tiếng sáo)
tràn (nghìn
thác)

mật
(ước) kinh
nằm trong
tay (nhỏ)
hoá (ra
người nằm)
dưới
cội (tùng)
hằn sâu
(vết) ấn
hoa (lan đỏ)
nở (giữa
muôn trùng)
rực
(nổ tung)

Nguyệt Ðộng




NGUYỆN CẦU

Ngoảnh lại nhìn.

Vỡ tiếng khóc chào đời
Sinh ra trong tội luỵ
Kiếp nhân sinh hiện hữu
Ðời cầu nguyện cho ta.

Thuở thiếu thời sao đẹp
Sống chỉ bằng ước mơ
Ðời muôn màu hạnh phúc
Ta nguyện cầu cho ta.

Rồi quê hương khói lửa
Bao xương máu ngập tràn
Bao sinh linh ngã gục
Ta nguyện cầu cho người.

Giữa dòng đời điên đảo
Một tình yêu chợt thoáng
Nàng đến như giấc mơ
Ta bàng hoàng. khấn nguyện.

.Hai tâm hồn yêu nhau
.Chỉ xin được gần mãi
.Dù sóng cao gió đầy
.Dù bão tố phong ba

Nhưng.

.Phải chăng đời nghiệt ngã
.Một lần đưa tiễn biệt
.Lệ hoen trong ánh mắt
.Lần cuối nhìn thấy nhau!!!

Ta chơi vơi gục ngã
Ta gào thét biển khơi
Ta xa rời thế giới
Buông lơi. những nguyện cầu

.Bao nhiêu năm tháng.

Thời gian trôi lặng lẽ
Một con tim hoá đá
Một linh hồn đơn côi
Ta chấp tay nguyện cầu.


Cầu cho đời hạnh phúc
Cầu cho tình bất diệt
Cầu cho người thương nhau
Ta cầu gì cho ta.

Anh Khoa - 03/2001
NoiPXa@hotmail.com




Tình Thơ Trên Sóng Mộng

em là nhạc
bay như hồn vân vũ
đến từ mơ
em vẽ nụ hoa hồng
trời hiu gió
vang trên khung tình tự
sa mạc vàng đã đổi nét kiêu sa
cung đàn đêm
mơn man lời biển sóng
điệu dạt dào
hương ngát những dư âm

bướm là thơ
anh ru tình mây trắng
hát câu ca
anh lộng điểm tơ vàng
hoàng hôn tím
tím tình trên mẫu chữ
mây lang thang
thi ngữ lửng lơ về

màu trắng hạ
trăng soi mình lãng đãng
dạ khúc tình
ươm bóng những sao đêm
giòng sông dài
dài như tình đã gởi
hoa hé cười
rộ nở những khung mơ

em như sóng, đẹp ngàn trên biển ngữ
lá thêm xanh
xanh mộng đến như tình
anh yêu em như tôn sùng thánh thể
đóa quỳnh hoa, anh vẽ mộng đêm dài
chữ là tình.
những tình thơ vĩnh cửụ
em dịu vờị
ngan ngát những mênh mang.

Vĩ Ân
m.nguyen@ntlworld.com




Hồn nhiên

Bốn mùa khép cửa hồn nhiên
Bên hiên váng đọng rêu huyền xanh khơ
Mưa bay bụi bám đất mờ
Hàn huyên một kiếp liễu chờ thiên thai
Khói mây còn lạc phương đoài
Hồn trong bóng nước miệt mài tâm hư
Không gian khép nép cánh, từ
Khi trăng thu khẽ thiên thu muộn màng
Nẻo về tâm thất mênh mang
Hồ như lắng đọng một hàng thông reo

Thảo Nguyên
thaonguyen89@hotmail.com




Làm Thơ (?!)

Ngu ngơ
đòi nhốt ảo huyền
Trói
bao khát vọng
đáy bình
Phù Du
Vụn về
đuà
với ngôn từ
Cười vay , khóc mượn
thực

cuộc đời

Dị Khuê
tnm181@yahoọcom




bào thai cảm xúc

nỗi buồn hắt hơi khi nghiệt oan gây ra cảm, cúm
chờ đợi đến nôn với thương nhớ xót dạ dày
nghe rổn rảng khua rền trong ngăn ký ức
em luôn kích mạnh bào thai cảm xúc ta
đến nỗi bắn vọt con thơ ra nhanh
sự chào đời không cần định kỳ
vẫn tiếng khóc tu oa, tu oa
tu oa có thừa sức khỏe
con thơ ơi ! con thơ
trong bào thai
con nằm
chờ
sự
chào đời
dưới mặt trời
con luôn đương đầu
với những tự do xưng hô
với những thứ không ngôi, ngai
trò lẩm cẩm quẩn quanh cùng chữ nghĩa
sao vẫn bình thường như cỏ mọc giữa trăm hoa
cỏ luôn cứ tưởng như hoa nhô đầu theo muôn lối rẽ
con thơ ơi! hãy sống chân thành trong bầu trời khiêm cung
con sẽ sung sướng vô cùng với bao lời ca chở theo nhiều
sáng tạo

hà nguyên du
hanguyendu@usạnet




Giấc Xuân Tình

Người xưa đi biết đâu tìm
Mắt đơn phụng dấu chân chim đã hằn
Cuối ngày nắng xoải bàn chân
Bốn phương trời gọi một lần chưa cam

Vương tơ chửa hết kiếp tằm
Nong dâu người để ta nằm mình ên
Sợi tơ là sợi tơ liền
Dù ai có đổi mấy tiền cũng không

Canh khuya trở giấc xuân nồng
Giọt tình trĩu ngọn cỏ bồng thi. Em,
Bên hiên gảy khúc ban cầm
Nghe sương nặng hạt gọi mầm giống lên

Phạm Văn Tiên
pvtien@hotmail.com




Muộn Màng

thành công
thành tài
thành nhân
thành phật

ta sắp thành tro tàn
vẫn mong làm tình nhân

có bao giờ em yêu ta
một khoảnh khắc làm người tình cũng đủ
có bao giờ em yêu ta
một khoảnh khắc làm tình ta chưa quen

đếm sao trời rơi rụng
con tim ta bồi hồi
muộn màng rồi một thời em vô tội
muộn màng rồi một thời ta làm người

đêm nay đếm sao trời rơi rụng
ta chưa ra ma và ta cũng chẳng còn ta
tiếc muốn khóc em không còn ngây dại
muộn màng rồi ta tức tưởi làm thơ

Nguyễn Bình Thường
obai@sympaticọca




một giòng sông

tôi đi qua giòng sông
bóng chiều và mây cùng
bềnh bồng trôi về đâu .?
sóng vỗ dìu dặt dưới chân cầu
bèo giạt rêu đeo thành gỗ mục

tôi đi qua giòng sông
bỏ lại bên đường
giọt mưa tan vào lòng đất
giọt nước mắt chảy vào hồn
bỏ lại giòng sông một nắm cát
trôi về nguồn miền thật của yêu đương
.
có em đôi mắt Phật
có em bàn tay Thánh
ngắt cho tôi một nhánh lá khổ
tặng phẩm của đời
mà 30 năm tôi vùng vằng chối bỏ
30 năm tôi ngụp lặn trong vũng tối hôn mê
30 năm tôi cứ đi, . về
kho tàng ngôn ngữ
khối óc tinh vi
suy nghĩ của con người
suy nghĩ của loài động vật
không cảm giác
không linh hồn
không một giòng sông

tôi đi qua giòng sông
đánh mất giòng sông
giòng cảm xúc trong tôi .

lạc duyên
lacduyen@hotmail.com




Dòng Lụy

Tôi muốn bơi ra khỏi
dòng mắt đêm
đôi bờ
vực sâu
thăm thẳm tình người .
là những vì sao bàng bạc giữa trời tăm tối.
Tôi cố sức bơi thật nhanh
để có thể thoát khỏi dòng mắt đêm
nhưng bóng tối đã vây trùm lấy đời tôi
giữa mùa hoang phế.

Tôi có thể bơi ra khỏi
dòng mắt đêm
nhưng than ôi ! tôi lại vội vã bơi vào
dòng mắt rạng đông.
Bên kia trời, ngày phôi thai
nắng lung linh nhảy múa trên vai tôi gầy giấc mơ
trên môi tôi úa đóa thiên thu .

Ngậm. Buồn.

Thụy Du - 03/2001
thuydu@viet4ever.zzn.com




Nguyệt khuyết

Có phải tình về đêm nguyệt khuyết
Tìm thơ dìu tứ tuyệt sang thu
Có phải người bên trời vĩnh quyết
Cho hồn lặng chiết khúc tương tư

Ta thấy người đi ngược lối về
Lệ dâng hồng thủy đẫm sơn khê
Bốn phương lồng lộng cơn lôi vũ
Gió nấc oan khiên gọi ước thề

Thương tiếng cung đàn rơi đêm xưa
Người đi, ta nhớ mấy cho vừa ?
Thương ngăn ký ức mờ nhân ảnh
Còn vọng mơ hồ phím gió thưa

Thương những con đường yêu dấu qua
Nàng trăng tỏa nguyệt xuống đôi ta
Thương mưa ngõ trúc tàn đêm mộng
Ðêm ứa tịch liêu - kỷ niệm ngà

Ðàn đứt lìa dây, phút não lòng
Nhớ nhau, mê khúc loạn trời đông
Tên người, ta khắc trang thơ cũ
Trên xác đàn thiêng, người hiểu không !

Ta lịm hồn đau nỗi nhớ người
Khơi mồ kỷ niệm, huyệt còn tươi
Tay ôm lửa rắc trang thơ lụa
Máu rực tro hồng, ứa khoé môi

Rồi nghìn thu mãi nhớ thương nhau
Hồn phách đi hoang với nguyệt sầu
Những bóng thơ vùi trong mộ lạnh
Bài thơ trích huyết gởi thiên thâu

Rồi nghìn năm nữa một ngày về
Sẽ nhập vào nhau giữa bến mê ?
Về với luân hồi xưa ước hẹn
Bên trời nguyệt khuyết, bể nhiêu khê

Có phải người hoài nhau độ ấy
Ðể ta hài cốt khóc nhân duyên
Có phải như vô tình đã thấy
Vòng tang nào trắng mảnh tình riêng

Kỳ Thư
ky_thu_2000@yahoọcom




 

Những điều tuyệt vời về Walter Benjamin
    J. M. Coetzee
The Marvels of Walter Benjamin
(trọn bài)


WalterBenjamin.gif (38269 bytes)


Lời người dịch: Ðể tôn trọng tác giả và sự vẹn toàn của bản văn, sau đây là bản dịch toàn bài viết của Coetzee, bỏ đi những trích dẫn từ những bài viết của các tác giả khác, và sửa lại một vài sai sót ở những kỳ đã đăng. Xin cáo lỗi cùng độc giả VHNT.
Jennifer Tran

"To great writers, finished works weigh lighter than those fragments on which they work throughout their lives."
("Với những nhà văn lớn, những tác phẩm hoàn tất nhẹ ký hơn, so với những mẩu đoạn mà họ miệt mài suốt đời.")
Walter Benjamin (1892-1940)

1.

Bây giờ, câu chuyện về ông được nhiều người biết cho nên cũng chẳng cần kể lại một cách chi tiết.
Nơi chốn: biên giới Pháp-Tây Ban Nha. Thời gian: 1940. Benjamin chạy trốn một nước Pháp bị chiếm đóng, tới gặp bà vợ một anh chàng Fittko nào đó, mà ông gặp gỡ ở trong trại tù. Theo ông, Bà (Frau) Fittko có thể dẫn ông và những người cùng đi vượt dẫy núi Pyrenees tới xứ Tây Ban Nha trung lập. Dọc đường, thấy ông ì ạch với chiếc cà tạp nặng nề, bà dẫn đường hỏi: cái gì vậy, có cần thiết [mang theo nó] không? Trong đó là một bản thảo, ông trả lời. "Tôi không thể chịu rủi ro mất nó. Nó… PHẢI được gìn giữ. Nó còn quan trọng hơn cả tôi."
Hôm sau, họ vượt dẫy núi. Ði được mươi phút là Benjamin phải ngưng để thở, do đau tim.
Tới biên giới, họ bị chặn lại. Giấy tờ không hợp lệ, cảnh sát Tây Ban Nha phán, phải trở về Pháp. Nản quá, trong đêm đó, Benjamin làm một liều thuốc phiện thật nặng. Cảnh sát làm biên bản những món đồ của người quá cố. Không có bản thảo nào hết trong biên bản đó.

Trong cà tạp có gì, và nó biến đi đâu, chúng ta chỉ phỏng đoán. Gershom Scholem, bạn của Benjamin, gợi ý: đó là bản sửa chữa lần chót, tác phẩm chưa hoàn tất, Passagen-Werk, được biết qua tiếng Anh bằng cái tên "Arcades Project" ("Thương Xá"). ("Với những nhà văn lớn," Benjamin viết, "những tác phẩm hoàn tất nhẹ ký hơn, so với những mẩu đoạn mà họ miệt mài suốt đời."). Bằng một cố gắng anh hùng, nhưng vô vọng - làm sao cho lửa Nazi đừng thiêu đốt bản thảo, làm sao mang nó tới một vùng đất an toàn, trước tiên là Tây Ban Nha, sau đó là Mỹ quốc - chỉ với một cố gắng như vậy đủ khẳng định, đây chính là một huyền tượng trong giới học giả của thời đại chúng ta.

Câu chuyện không đến nỗi quá bi đát, với đứa con tinh thần của ông, bởi vì một bản sao của "Thương Xá" không đi theo chủ nhân, ở lại Paris, và được bạn thân của Benjamin là Georges Bataille giấu giếm tại Thư viện Quốc gia. Sau chiến tranh, được xuất bản nguyên xi vào năm 1982, nghĩa là bằng một thứ tiếng Ðức xen những mảng lớn tiếng Pháp ở trong.
Bây giờ chúng ta có dịch bản tiếng Anh tác phẩm chính (magnum opus: đại tác phẩm) của Benjamin. Dịch giả là Howard Eiland và Kevin McLaughlin. Và bây giờ, sau cùng, chúng ta có thể đặt câu hỏi: Tại sao lại [có người] quan tâm tới mức như thế, về mỗi một chuyện đi mua sắm, ở nước Pháp thế kỷ 19?
**

Benjamin sinh năm1892, tại Berlin, trong một gia đình Do Thái đã hội nhập. Cha ông là một người thành công trong nghề đấu giá những nghệ phẩm, và sau đó tách ra làm ngành đầu tư tài sản; dòng họ Benjamin thịnh vượng, về nhiều mặt. Sau một thời thơ ấu ốm yếu, được đùm bọc, vào lúc mười hai tuổi, Benjamin được gởi tới một trường nội trú có khuynh hướng tiến bộ ở miền quê, và rơi vào ảnh hưởng của một trong những vị giám đốc trường là Gustav Wyneken. Nhiều năm, sau khi đã rời ngôi trường, Benjamin vẫn hoạt động trong phong trào chống lại tính quyền thế, trở lại với thiên nhiên, của Wyneken; ông chỉ đoạn tuyệt với nó khi Wyneken ra mặt ủng hộ Ðệ Nhất Thế Chiến.
Vào năm 1912, Benjamin ghi tên học ngành ngữ văn tại Ðại học Freiburg. Nhận thấy không hợp khẩu vị với môi trường trí thức, ông lao vào phong trào vận động cải cách học vấn. Khi chiến tranh bùng nổ, ông trốn tránh quân vụ, lúc đầu giả vờ bệnh, sau dời tới nước Thụy Sĩ trung lập. Ông ở đây tới năm 1920, học triết và lo làm luận án tiến sĩ ở Ðại học Berne. Bà vợ phàn nàn, họ không có một cuộc sống xã hội.
Bạn của ông là Theodor Adorno nhận xét, Benjamin mệt vì những đại học, như Kafka mệt vì những công ty bảo hiểm. Dù nghi ngại, Benjamin vẫn đi suốt qui trình lấy bằng tiến sĩ thực thụ cho phép ông làm giáo sư, bằng cách đệ trình luận án "Kịch nghệ Ðức thời đại Baroque" với Ðại học Frankfurt vào năm 1925. Thật lạ lùng, luận án không được chấp nhận; nó rớt đài vì không chịu nằm gọn trong lãnh vực văn học, hoặc triết học, và Benjamin thiếu một vị thầy bảo trợ, bênh vực cho trường hợp của ông.
Những chương trình, kế hoạch khoa bảng kể như hỏng, Benjamin lao vào ngành dịch thuật, phát thanh, và làm ký giả tự do. Trong số những việc làm lấy tiền hoa hồng, có việc dịch "Ði Tìm Thời Gian Ðã Mất" của Proust; ba, trong bẩy cuốn, đã được hoàn tất.
**
Vào năm 1924 Benjamin đến Capri, vào lúc đó, là trung tâm nghỉ mát được giới trí thức Ðức ưa thích. Ông gặp Asja Lacis, nữ giám đốc kịch viện ở Latvia, và là một người Cộng Sản. Cuộc gặp gỡ đúng là định mệnh, "mỗi lần tôi đụng vô một mối tình lớn, là mỗi lần hoá thân", ông sửng sốt về mình, khi ngoái lại. "Một tình yêu thứ thiệt biến tôi thành người đàn bà mà tôi yêu". Với người tình này, còn kéo thêm sự thay đổi về đường hướng chính trị. "Với những người tiến bộ, nếu tuân theo cảm quan đúng đắn của mình, con đường suy tưởng của họ sẽ dẫn tới Moscow chứ không phải tới Palestine", nàng nói một cách thật nghiêm nghị với chàng. Thế là mọi dấu vết của chủ nghĩa duy tâm trong tư tưởng của ông, chưa nói tới chuyện láng cháng với chủ nghĩa quốc gia Do Thái (Zionism), phải bị bỏ đi. Ông bạn tâm phúc Scholem đã di cư qua Palestine, mong Benjamin đi theo. Ông nại cớ này cớ nọ, và cứ thế chần chờ cho tới chót.
Vào năm 1926, Benjamin tới Moscow vì có hẹn với nàng. Lacis coi bộ không hoan hỉ đón tiếp (nàng lúc này có bồ khác). Ghi nhận về chuyến đi cho thấy Benjamin không được thoải mái cái đầu cho lắm, có cả nỗi băn khoăn có nên gia nhập Ðảng Cộng Sản, và tự đặt mình vào đường lối của Ðảng. Hai năm sau đó, chàng và nàng lại có dịp tái hợp, tuy ngắn ngủi, tại Berlin; họ sống bên nhau, tay trong tay cùng tham dự những cuộc họp của Liên minh những Nhà văn Cách mạng Vô sản. Cuộc tình làm cho vụ li dị với người vợ đầu nhanh chóng thêm.
Benjamin có ghi nhật ký chuyến đi Moscow, và sau đó sửa lại và cho xuất bản. Ông không nói được tiếng Nga, nhưng thay vì nhờ mấy thầy thông, ông cố gắng nhìn thành phố qua bề ngoài của nó [nguyên văn: đọc Moscow từ phía bên ngoài, read Moscow from outside], và ông gọi đây là thuật xem tướng mặt, chắc là theo kiểu người Việt mình nói, "trông mặt mà bắt hình dong, con lợn có béo thì [bộ] lòng mới ngon!". Ông giải thích thêm về phương pháp của mình: khoan trừu tượng, khoan phê phán… hãy trình bầy thành phố [Moscow], theo kiểu như thế này: tất cả tính sự kiện, thì đã là lý thuyết (all factuality is already theory; câu này của Goethe, theo Coetzee).
Những khẳng định của Benjamin về kinh nghiệm "mang tính lịch sử về thế giới", như ông nhìn thấy xẩy ra ở Liên bang Xô viết, bây giờ có vẻ ngây thơ; tuy nhiên con mắt của ông thật là sắc bén. Rất nhiều cư dân mới của Moscow vẫn giữ nguyên bộ vó dân quê, sống cuộc sống làng mạc, theo nhịp sống quê mùa; sự phân biệt giai cấp có thể đã bị bãi bỏ, nhưng bên trong Ðảng, một hệ thống đẳng cấp mới đang thành hình. Một cảnh tượng nơi chợ trời cho thấy tình trạng hạ thấp tông giáo: một thánh tượng được kèm bởi những bức chân dung của Lênin, "như một tù nhân giữa hai tay công an".
Mặc dù sự hiện diện của nàng, Asja Lacis, là cái nền thường trực của những trang nhật ký lần thăm viếng ("Moscow Diary"), và tuy chàng, như nhận ra, cuộc tình chăn gối của đôi bên không ổn, chúng ta chẳng biết gì về con người nàng. Là nhà văn, nhưng chàng không có tài làm cho những người khác sống dậy, qua những miêu tả của mình. Trái lại, trong những bản viết của riêng Lacis, chúng ta có một hình ảnh sống động hơn, về Benjamin: đôi kính như hai ngọn đèn pha, ôi đôi bàn tay của "ảnh" mới vụng về làm sao!
**
Trong suốt quãng đời còn lại, Benjamin tự nhận hoặc một tay Cộng Sản, hoặc một bạn đồng hành. Chúng ta tự hỏi, cuộc tình giữa ông với chủ nghĩa Cộng Sản say đắm, sâu xa tới mức nào?
Nhiều năm sau khi gặp gỡ Lacis, Benjamin có lẽ vẫn lập đi lập lại những 'chân lý'
ác xít, mà chẳng cần đọc Marx, thí dụ như "giai cấp trưởng giả… bị kết án phải suy sụp do những mâu thuẫn nội tại, và nó sẽ tiêu luôn theo với đà phát triển của những mâu thuẫn này". "Trưởng giả" là một từ nguyền rủa đối với ông, và nó có nghĩa là chạy theo vật chất, thờ ơ, ích kỷ, giả hình, và trên tất cả, hoàn toàn tự mãn về mình - và ông tỏ ra rất thù nghịch, do bản năng. Tự coi mình là Cộng Sản là một hành động chọn bên, vừa về mặt đạo đức vừa về mặt lịch sử, nhằm chống lại giai cấp trưởng giả và luôn cả dòng dõi trưởng giả của chính ông. "Một điều không thể khá được, đó là quên không chạy trốn cha mẹ", ông viết như vậy trong "Ðường Một Chiều", một tuyển tập những mẩu nhật ký, những nghi thức của cõi mơ, những châm ngôn, những tiểu luận bỏ túi (mini-essays), và những nhận xét chì chiết về nước Ðức thời cộng hoà Weimar. Với cuốn sách đó, ông tự tuyên bố về mình, vào năm 1928: một trí thức tự do (freelance intellectual). Do chạy trốn cha mẹ không sớm sủa cho lắm, ông bị kết án phải chạy xa [cha mẹ là] Emil và Paula Benjamin trong suốt quãng đời còn lại: trong khi phản ứng ngược lại ý muốn của cha mẹ muốn hội nhập vào giai cấp trung lưu Ðức, ông giống nhiều người Do thái nói tiếng Ðức cùng thế hệ, kể luôn cả Kafka. Ðiều gây bối rối, ở nơi bè bạn của ông, về chủ nghĩa Marx của ông: hình như có một điều gì gượng gạo, một điều chi giống như là thù đáp (reactive).
Những bài viết tả khuynh đầu tiên của Benjamin đọc thật nản. Người ta đành phải nói, một "sự ngu xuẩn cố tình", khi đọc những dòng ông "thổi" (rhapsody) Lênin; ("những lá thư của Lênin mới hoành tráng ngọt ngào làm sao", nhưng bài này bị những biên tập viên bản dịch của Harvard loại bỏ); hay là hùa theo lối nói khéo léo, nhưng ẩn tàng mầm tai tương, của Ðảng: "Chủ nghĩa Cộng Sản không mang tính triệt để. Do đó, nó không có ý định giản dị xoá bỏ mọi liên hệ gia đình. Nó chỉ thử nghiệm những liên hệ này, để kiểm tra khả năng của chúng, trước chuyển đổi. Nó tự hỏi chính nó: Liệu gia đình có thể được tháo gỡ ra, nhờ vậy mà những thành phần của nó có thể được tái phối trí vào xã hội?"
Những dòng trên đây, là từ bài điểm một vở kịch của Bertolt Brecht. Ông gặp nhà soạn kịch người Ðức này qua Lacis. "Kiểu suy tư thô, nguyên" - lột bỏ những nhận xét tinh tế trưởng giả - của Brecht, có một dạo, đã quyến rũ Benjamin. "Ðường Một Chiều" được đề tặng người tình: "Con đường này mang tên em, vị kỹ sư đã phóng nó qua người anh." [nguyên văn: "Con đường này mang tên Phố Asja Lacis, theo tên nàng, một người mà giống như một vị kỹ sư, đã cắt nó xuyên qua tác giả"]. So sánh đấy, mà là khen ngợi đấy. Kỹ sư là một người, nam hay nữ, của tương lai; một người - bực bội với ba cái trò lắm lời; được trang bị bằng tri thức thực hành - hành động, và quyết tâm hành động nhằm thay đổi toàn cảnh. (Stalin cũng ái mộ những kỹ sư. Theo quan điểm của ông, nhà văn phải trở thành những vị kỹ sư của tâm hồn, theo nghĩa, họ phải coi đây là chức năng của mình: tái phối trí nhân loại, từ phía bên trong mà ra).
Trong số những bài viết được khá nhiều người biết tới, bài "Tác giả như người sản xuất" ("The Author as Producer", 1934) cho thấy ảnh hưởng của Brecht thật rõ rệt. Trọng tâm của bài viết là một "vấn nạn" cũ rích của mỹ học Mác xít: Cái gì quan trọng, hình thức hay nội dung? Benjamin đề nghị, rằng một tác phẩm văn học sẽ "chỉ đúng về lập trường chính trị nếu nó cũng đúng về lập trường văn học". "Tác giả như người sản xuất" là một bài viết nhằm bảo vệ nhóm khuynh tả thuộc lực lượng tiên-phong hiện đại - với Benjamin, là nhóm Siêu thực - chống lại đường lối của Ðảng đối với văn học, vốn chỉ nhắm những gì dễ cảm thông, những câu chuyện hiện thực nặng khuynh hướng tiến bộ. Ðể bênh vực cho trường hợp của mình, Benjamin, một lần nữa, đành phải kêu gọi tới sức quyến rũ của [vai trò] kỹ sư: nhà văn, như người kỹ sư, là một chuyên viên kỹ thuật và phải có tiếng nói của mình trong những vấn đề kỹ thuật.
Lập luận ở mức thô thiển như thế thật không dễ dàng đối với Benjamin. Liệu lòng trung với Ðảng khiến cho ông chẳng hề băn khoăn, vào lúc mà sự bách hại nghệ sĩ của Stalin đang ở đỉnh cao? (Asja Lacins, chính nàng, cũng trở thành một trong những nạn nhân của Stalin, và phải trải qua nhiều năm trong trại lao động cải tạo). Một mẩu viết trong cùng năm đó, 1934, có thể cho chúng ta một chút manh mối. Ở đây, Benjamin chế nhạo đám trí thức "coi đó là niềm hãnh diện, khi toàn thân thể hiện trong mọi vấn đề [mà Ðảng vạch ra]," từ chối không chịu hiểu, để thành công, họ phải trình bầy những bộ mặt khác nhau cho những khán thính giả khác nhau. Ông nói, họ giống như một gã đồ tể, không chịu cắt từng mảnh, cứ nài nỉ bán trọn con thịt. Chúng ta phải hiểu câu nói của ông ra sao? Phải chăng Benjamin ca ngợi một cách châm biếm sự liêm khiết trí thức đã lỗi thời? Hay đây là lời thú nhận bóng gió về mình, 'dzậy mà không phải dzậy", theo cách nói của người Việt miền nam (that he, Walter Benjamin, is not what he seems to be)? Hay ông đưa ra một quan điểm thực tế, nếu không muốn nói là chua chát, về cuộc sống của một nhà văn chuyên viết thuê làm mướn. Một lá thư gửi bạn tâm phúc, Scholem (mà không phải Benjamin bao giờ cũng tiết lộ toàn bộ sự thực), cho thấy, cách hiểu chót có lẽ đúng hơn cả: trong thư, Benjamin bảo vệ chủ nghĩa cộng sản của ông như là "một toan tính hiển nhiên, có suy nghĩ, của một người đã hoàn toàn, hoặc hầu như đã hoàn toàn, bị tước đoạt bất cứ một phương tiện sản xuất, để mà đòi hỏi quyền của mình, về những phương tiện sản xuất." Nói một cách khác, ông theo Ðảng với cùng một lý do như bất cứ một tay vô sản nào khác: bởi vì đây là lợi lộc vật chất của mình.

2.

Vào lúc Nazi lên nắm quyền, nhiều người cộng sự với Benjamin, đọc ra cái điềm báo trước của thời đại, đã theo nhau mà bôn tẩu. Benjamin vốn từ lâu cảm thấy không có đất cắm dùi ở Ðức, lại hay lai vãng Pháp và Ibiza, bèn theo gót bạn bè. (Ông em trai, Georg, bất cẩn hơn, ở lại, bị bắt vì những hành vi chính trị, và tàn đời tại Mauthausen vào năm 1942).
Ðịnh cư tại Paris, cố kiếm cơm bằng cách cộng tác với những nhật báo Ðức dưới những bút hiệu đọc lên nghe có tí dòng giống tối thượng Aryan (Detlef Holz, K. A. Stempflinger); lúc quá kẹt, sống bằng của bố thí. Khi chiến tranh bùng nổ, Benjamin thấy mình ở trong trại tù, như là một ngoại nhân thù nghịch. Ðược thả, nhờ Hội Văn Bút (PEN) Pháp can thiệp; ngay lập tức ông kiếm mối manh, tìm đường đào tẩu qua Mỹ, và sau cùng là chuyến đi định mệnh, kết thúc tại Port-Bou, biên giới Pháp-Tây Ban Nha.


Những chiếu rọi sắc sảo của Benjamin, khi ông nhìn chủ nghĩa phát xít, kẻ thù tước đoạt gia đình, sự nghiệp, và sau cùng đã giết chết ông, là từ những phương tiện mà nó sử dụng để chiêu dụ dân chúng Ðức: tự biến thành tuồng hát. Những chiếu rọi thần tình này được diễn tả đầy đủ nhất ở trong (dùng cái tên được Harvard ưa thích) "Nghệ phẩm trong thời đại tái sản xuất bằng kỹ thuật" (The Work of Art in the Age of Its Technological Reproducibility", 1936), nhưng chúng đã thấp thoáng ở trong bài điểm, vào năm 1930, cuốn 'Chiến tranh và những Chiến sĩ', do Ernst Junger biên tập.
Quan niệm thông thường cho rằng, những đại hội diễu hành ở Nuremberg của Hitler, đã lấy khuôn mẫu từ những ca nhạc kịch của Wagner ở Bayreuth [một thành phố Ðức]: réo rắt hùng hồn, âm thanh hớp hồn, vũ điệu dành cho đám đông, và đột biến bi thảm. Nhưng điều được coi là uyên nguyên, ở Benjamin, đó là ông cho rằng chính trị - như là kịch nghệ hoành tráng hơn là như tranh luận - không chỉ là những mặt nổi huy hoàng, giầu sang của chủ nghĩa phát xít: nó chính là chủ nghĩa phát xít, tự yếu tính.

Trong những cuốn phim của Leni Riefenstahl cũng như trong những phim thời sự, được trình diễn trong mọi rạp hát nội địa, quần chúng Ðức được dâng hiến những hình ảnh của chính họ, như những nhà lãnh đạo kêu gọi: hãy là như vậy. Chủ nghĩa phát xít sử dụng quyền năng nghệ thuật của quá khứ - điều mà Benjamin gọi là nghệ thuật hào quang, cộng thêm quyền năng được nhân lên nhiều lần của phương tiện truyền thông đại chúng mới mẻ thời kỳ hậu-hào quang, trên tất cả là phim ảnh, để tạo ra những công dân phát xít mới của nó. Với những người dân Ðức bình thường, căn cước độc nhất đem trình diễn, cái căn cước từ trên màn ảnh chiếu xuống họ, là căn cước phát xít trong bộ đồ phát xít, và những dáng đứng phát xít, hoặc chế ngự hoặc tuân phục.

Phân tích của Benjamin về chủ nghĩa phát xít gây ra nhiều câu hỏi. Phải chăng chính trị như là kịch cảnh (spectacle) thực sự là trái tim của chủ nghĩa phát xít, chứ không phải sự phẫn uất, hay những giấc mơ về sự phục thù lịch sử? Nếu Nuremberg là chính trị được thẩm mỹ hoá, tại sao những cuộc diễu hành ngày 1 tháng 5 và những vụ án phô trương của Stalin, không được coi là chính trị thẩm mỹ hóa? Nếu thiên tài của chủ nghĩa phát xít, là xóa bỏ lằn ranh giữa chính trị và phương tiện truyền thông, đâu là thành tố phát xít của chính trị-do truyền thông-điều động của những nền dân chủ Tây phương? Lẽ nào chẳng có những biến điệu khác nhau của chính trị thẩm mỹ?
**

Quan niệm chìa khóa mà Benjamin sáng chế ra - mặc dù trong nhật ký của ông lờ mờ cho thấy, sự thực đây là sáng kiến của nữ sĩ Adrienne Monnier, chủ nhà bán sách và chủ nhà xuất bản ở Paris - để miêu tả chuyện gì xẩy ra cho nghệ phẩm trong thời đại tái sản xuất bằng kỹ thuật (chủ yếu là thời đại chụp hình - Benjamin không nói gì nhiều về in ấn), đó là [hiện tượng] "mất hào quang" ("loss of aura"). Gần như tới giữa thế kỷ 19, ông nói, một hình thức tương liên người với người còn tồn tại, giữa một nghệ phẩm và người nhìn nó: người nhìn, ngắm, và nghệ phẩm, ngắm lại, đại khái như vậy. "Ðể cảm nhận hiện tượng hào quang có nghĩa là gán cho nó cái khả năng nhìn lại chúng ta." Do đó, có điều chi huyền diệu về hào quang, gốc gác cổ xưa còn sót lại, giờ nhạt nhòa đi, giữa nghệ thuật và nghi lễ tôn giáo.
Lần đầu tiên Benjamin nói tới hào quang, là ở trong bài viết "Lịch sử nho nhỏ về chụp hình" (1931), trong đó ông cố gắng giải thích tại sao (dưới mắt ông), những bức hình chân dung ở cái thời thoạt kỳ thủy của môn chụp hình - cổ bản của nhiếp ảnh, hãy nói như vậy - [lại] có hào quang trong khi những bức hình một thế hệ sau đó không còn. Trong "Nghệ phẩm", ý niệm hào quang được nới rộng khá tùy tiện, từ những bức hình cổ xưa tới những tác phẩm nghệ thuật nói chung. Sự chấm dứt hào quang, Benjamin nói, sẽ được bồi đáp dư dả bằng những khả năng giải phóng của những kỹ thuật tái sản xuất mới. Phim ảnh sẽ thay thế nghệ thuật hào quang.

Ngay cả những người bạn của Benjamin cũng thấy khó mà nắm bắt được hào quang. Brecht - người được Benjamin nói nhiều về quan niệm này trong những lần Benjamin ghé thăm nhiều ngày ở nhà ông, tại Ðan Mạch - đã viết như sau, trong nhật ký của ông: "[Benjamin] nói: 'khi bạn cảm thấy cái nhìn chăm chăm của một người nào đó, nóng bỏng trên bạn, ngay cả ở đằng sau lưng, sự mong mỏi rằng bất cứ cái chi bạn nhìn tới, đang nhìn [lại] bạn, tạo nên hào quang… tất cả rất huyền bí, mặc dù những thái độ phản-huyền bí, đây là cách tiếp cận lịch sử được thích nghi bởi các nhà duy vật! Ôi thật kinh khiếp." Những bạn bè khác cũng chẳng thể nào mà hồ hởi hơn [khi nghe Benjamin nói về hào quang].
Trong suốt thập niên 1930, Benjamin loay hoay phát triển một định nghĩa mang tính duy vật có thể chấp nhận được, về hào quang và mất hào quang. Phim ảnh là hậu hào quang, ông nói, bởi vì cái máy thu hình, vốn chỉ là một dụng cụ [cho nên] không thể nhìn. (Một lập luận đáng thắc mắc: các diễn viên chắc chắn đã đáp ứng với cái máy thu hình như thể nó đang nhìn họ). Trong bản văn viết lại sau đó, Benjamin đề nghị, rằng sự chấm dứt hào quang có thể xác định thời điểm được, trong lịch sử: đó là khi cư dân thành thị trở nên đông nghẹt - những người qua kẻ lại - đến nỗi chẳng còn ai thèm đáp lại cái nhìn chăm chăm của người khác nữa. Trong "Thương Xá", ông coi mất hào quang là một phần trong sự phát triển rộng rãi hơn, mang tính lịch sử: càng ngày càng có nhiều người cho rằng, sự độc đáo, bao gồm cả sự độc đáo mang tính truyền thống của nghệ phẩm, đã trở nên thương phẩm, như bất cứ thương phẩm nào khác. Kỹ nghệ thời tranghuyên việc sản xuất những nghệ phẩm độc nhất - những sáng tạo - kể từ nay sẽ được tái sản xuất theo kiểu đại trà, [và nó] đã chỉ lối cho sự phát triển này.
**
Benjamin không đặc biệt quan tâm đến tiểu thuyết, như là một thể loại; những câu chuyện ông viết, được in trong Tập 2 hiển nhiên cho thấy, ông không có tài của một nhà văn tự sự. Thay vì tự sự, những bản văn mang tính tự thuật của ông được xây lên từ những thời điểm đứt đoạn, căng thẳng. Hai tiểu luận về Kafka coi Kafka như là một nhà ngụ ngôn và ông thầy dậy minh triết (wisdom), hơn là một tiểu thuyết gia. Nhưng điều mà Benjamin trường kỳ gớm ghiếc nhất, là dành cho [thể loại] lịch sử tự sự (narrative history). "Lịch sử tan rã thành hình ảnh, không phải thành tự sự", ông viết. Lịch sử tự sự áp đặt tính nhân quả và động cơ từ phía bên ngoài; những sự vật cần có cơ hội tự nói về chúng.
"Một ấu thời ở Berlin vào khoảng năm 1900", một trong những tác phẩm tự thuật ấp ủ, tha thiết nhất, không được xuất bản khi ông còn sống, sẽ xuất hiện trong Tập 3 của "Tuyển Tập" ("Selected Writings"). Bản văn mà chúng ta có được ở trong Tập 2, là "Ký sự Berlin" ("Berlin Chronicle") sớm sủa hơn tác phẩm kể trên, và cũng được viết dưới cái bóng của Proust. Mặc dù cái tên, bản văn này xây dựng, không phải theo biên niên, mà như một dàn dựng những mẩu đoạn, xen lẫn những suy tưởng về bản chất của tự thuật, và sau cùng, là về những thăng trầm của hồi ức, hơn là về những biến cố có thực trong thời thơ ấu của Benjamin. Benjamin sử dụng một ẩn dụ mang tính khảo cổ học để giải thích tại sao ông chống tự thuật, như là tự sự về cuộc đời. Ông nói, nhà tự thuật nên nghĩ về chính mình, như một tay khai quật, đào sâu, sâu mãi, ở một vài chỗ, trong cuộc tìm kiếm những điêu tàn chôn giấu, của quá khứ.

Ngoài "Nhật Ký Moscow" và "Ký sự Berlin", Tập 1 và 2 gồm một số những bản văn tự thuật ngắn ngủi hơn: một báo cáo khá văn vẻ về chuyện bị một người yêu cho leo cây; những ghi nhận về những lần thử chơi cần sa (hashish); những ghi chép về những giấc mơ; những mẩu đoạn nhật ký (Benjamin đã bị ám ảnh bởi chuyện tự tử vào năm 1931 và 1931); và một nhật ký Paris, được ông để tâm hoàn tất cho xuất bản, trong đó bao gồm chuyến đi thăm một nhà thổ nam, nơi Proust thường xuyên lui tới. Trong số những phát giác gây nhiều ngạc nhiên, là sự ái mộ [của Benjamin] dành cho Hemingway ("Tu tập về nghĩ đúng, qua cách viết đúng", "an education in right thinking through correct writing"), và [sự kiện ông] không ưa Flaubert (quá nặng tính kiến trúc học, too architectonic).
**
Cơ sở triết học và ngôn ngữ của Benjamin được đề ra ngay từ khi khởi nghiệp. Trong tiểu luận chìa khóa, "Về Ngôn ngữ tự thân và về Ngôn ngữ của Con người" ("On Language as Such and on the Language of Man", 1916), ông khẳng định, một từ không chỉ là một ký hiệu, một thế thân cho một điều chi khác, nhưng là tên của một Ý tưởng (the name of an Idea). Trong "Nhiệm vụ của Dịch giả" (The Task of the Translator", 1921), ông cố gắng đưa ra bộ khung cho ý nghĩ của mình, về Ý tưởng, viện dẫn trường hợp Mallarmé và một ngôn ngữ thơ tự do, thoát ra khỏi chức năng truyền thông của nó.
Làm sao mà một quan niệm mang tính Biểu tượng về ngôn ngữ lại có thể giao lưu hòa giải với chủ nghĩa duy vật lịch sử của Benjamin ở giai đoạn sau đó, điều này thật không rõ ràng, nhưng Benjamin duy trì [quan điểm], rằng một cây cầu có thể xây dựng, "tuy nhiên, cây cầu này có thể căng thẳng, và mang tính vấn nạn". Trong những tiểu luận văn học của thập niên 1930, ông đã mơ hồ cho thấy một cây cầu như vậy, hình dáng của nó ra làm sao. Ông nói, trong Proust, trong Kafka, trong những nhà Siêu thực, từ ngữ rút lui khỏi sự tạo ý nghĩa trong cung cách trưởng giả và lấy lại quyền năng sơ khởi mang tính điệu bộ của nó (the word retreats from signification in the "bourgeois" sense and resumes its elementary, gestural power). Do đó, trong "Tòa Lâu Ðài", hai phụ tá của Trắc địa viên K. diễn ra cái trạng thái bào thai chưa sinh, bằng cách khoanh tròn chân tay bất cứ lúc nào mà họ có thể làm được, cuộn mình như trái banh. Ðiệu bộ là "hình thức tối thượng theo đó sự thực có thể xuất hiện trước chúng ta trong một thời đại bị tước đoạt thần học (theological doctrine)."
Thời Adam, từ ngữ và điệu bộ [dùng để] gọi tên [sự vật] là như nhau. Rồi sau đó, ngôn ngữ đã trải qua một sa đọa dài, mà [tháp] Babel chỉ là một giai đoạn. Nhiệm vụ của thần học là khôi phục từ ngữ, với tất cả quyền năng bắt chước bản gốc của nó, từ những bản văn thiêng liêng mà nó còn được gìn giữ ở trong đó. Nhiệm vụ của phê bình thiết yếu cũng không khác, bởi vì các ngôn ngữ sa đọa, trong toàn thể những ý hướng của chúng, vẫn có thể chỉ cho chúng ta hướng về cái ngôn ngữ thuần khiết kia. Do đó, nghịch lý ở trong "Nhiệm vụ của người dịch thuật" là: dịch thuật còn cao hơn cả bản chính, theo nghĩa, nó ra điệu bộ về phía cái ngôn ngữ tiền-Babel.
Bejamin có viết một số bài về khoa chiêm tinh, chúng là những đối trọng cần thiết so với những gì ông viết về triết lý ngôn ngữ. Khoa chiêm tinh mà chúng ta có ngày nay, ông nói, là một văn bản suy thoái của một nền tri thức cổ xưa, ở những thời đại mà khả năng bắt chước, còn mạnh mẽ, cho phép những tương ứng mô phỏng (imitative), có thực, giữa đời người và chuyển động của những vì sao. Ngày nay chỉ trẻ con là còn giữ được, và đáp ứng được với thế giới, bằng một quyền năng bắt chước có thể so sánh được [với những thời đại kể trên].
Trong những tiểu luận tính từ 1933, Benjamin phác thảo một lý thuyết về ngôn ngữ dựa trên sự mô phỏng (mimesis). Ngôn ngữ thời Adam mang tính tượng thanh, ông nói; những từ đồng nghĩa trong những ngôn ngữ khác nhau, tuy không đọc lên như nhau, hoặc trông không giống nhau (lý thuyết này được sử dụng cho cả ngôn ngữ nói cũng như viết), chúng có những tương tự "phi cảm quan", những tương tự mà từ đó chúng có ý nghĩa, như những lý thuyết "huyền bí", hay "thần học", về ngôn ngữ, luôn luôn nhìn nhận. Những từ "bánh mì", "pain", "Brot", "xleb", mặc dù bề ngoài khác hẳn nhau, nhưng chúng giống nhau, ở mức độ sâu xa hơn, [bởi vì trong chúng đã] cưu mang Ý tưởng về bánh mì. ( Ðể có thể thuyết phục chúng ta về một điều mơ hồ như vậy, Benjamin chắc là phải vận dụng hết quyền năng của mình). Ngôn ngữ, phát triển tối thuợng của khả năng bắt chước, mang trong chính nó một thư khố những tương tự phi cảm quan đó. Việc đọc có tiềm năng trở thành một thứ kinh nghiệm mơ mòng, mở cho chúng ta cõi vô thức chung của loài người: cõi ngôn ngữ, miền ý tưởng.
Tiếp cận ngôn ngữ của Benjamin hoàn toàn trật bản lề so với khoa học ngôn ngữ thế kỷ 20, nhưng nó ban cho ông một lối đi vương giả vào thế giới của huyền thoại và ngụ ngôn, đặc biệt là, (như ông cảm nhận được điều này), nó đưa ông tới gần "thế giới đầm lầy" ban sơ, hầu như trước khi có con người, của Kafka. Một cách đọc miệt mài Kafka đã để dấu ấn không phai mờ trên những bản viết sau cùng, bi quan, của chính Benjamin.
3.
Câu chuyện về "Thương Xá" đại khái như sau.
Vào cuối thập niên 1920 Benjamin thai nghén một tác phẩm được gợi hứng từ những hành lang, hai bên có cửa hàng buôn bán, trên có mái che hình cung của Paris. Nó đề cập tới kinh nghiệm đô thị; nó sẽ là một văn bản về Người Ðẹp Ngủ Trong Rừng, một câu chuyện thần tiên mang tính biện chứng, được kể theo kiểu siêu thực, qua phương pháp dàn dựng bằng những đoạn văn mảnh mún. Giống như nụ hôn của vị hoàng tử, nó sẽ đánh thức quần chúng Âu châu, đối diện với sự thực về cuộc đời của họ dưới chủ nghĩa tư bản. Nó sẽ dài cỡ chừng năm chục trang; trong khi sửa soạn cho việc viết bản văn trên, Benjamin bắt đầu lấy những trích dẫn, từ những gì ông đọc, để dưới những đầu đề như là U Uất, Thời Trang, Bụi Bặm. Nhưng khi ông đính chúng lại với nhau thành một bản văn, nó trở nên quá khổ: từng phen đính là từng phen thêm ghi chú, trích dẫn. Ông bàn những khốn khó của mình với Adorno và Max Horkheimer, họ thuyết phục ông, rằng ông không thể viết về chủ nghĩa tư bản mà không nắm vững tư tưởng của Marx. Thế là, ý tưởng về Người Ðẹp Ngủ Trong Rừng mất tiêu luôn phong quang của nó.
Vào năm 1934, Bejamin có một chương trình mới, đầy tham vọng và tràn trề tính triết học: dùng ngay phương pháp dàn dựng trên, ông vạch ra con đường từ thượng tầng cấu trúc văn hóa của nước Pháp thế kỷ 19, trở lại, tới những thương phẩm và quyền năng của chúng, để trở nên những bái vật. Khi những ghi chú của ông trở thành cồng kềnh, ông phân chúng thành một hệ thống hồ sơ tỉ mỉ dựa trên ba mươi sáu cuốn (convolutes, từ tiếng Ðức, Konvolut, có nghĩa là sheaf, dossier, hồ sơ), với những từ chìa khoá và những đối chiếu. Dưới tựa đề "Paris, Thủ đô của thế kỷ 19", ông viết một bản tóm lược tư liệu được sắp xếp, rồi trình cho Adorno (lúc này đang ăn lương của Viện Nghiên cứu Xã hội, và theo một mức độ nào đó, có trách nhiệm với Viện, khi đó đã được Adorno và Horkheimer chuyển từ Frankfurt tái định cư ở New York).
Benjamin nhận được những lời phê bình khắc nghiệt từ Adorno, đến nỗi ông quyết định tạm thời để dự án qua một bên, và rút ra từ khối lượng tài liệu đó một cuốn sách về Baudelaire. Adorno được coi một phần của cuốn sách, và tỏ ra nghiêm ngặt: chỉ mới đưa ra sự kiện để chúng tự nói về chúng, chưa đủ lý thuyết. Benjamin nhuận sắc lại, sau đó, và được đón nhận nồng nhiệt hơn.
Baudelaire là trung tâm của chương trình Thương Xá bởi vì, dưới mắt Benjamin, Baudelaire qua tác phẩm "Ác Hoa" ("Les Fleurs du Mal"), là người đầu tiên khám phá ra đô thị hiện đại: như một đề tài của thi ca. (Benjamin hình như lúc đó chưa đọc Wordsworth, là người năm mươi năm trước đó, đã viết về cái cảm giác khi là một phần trong đám đông trên đường phố: ba bề bốn bên chịu trận trước những cái nhìn xiên xéo, và bị quáng gà vì những tấm biển quảng cáo).
Tuy nhiên, Baudelaire đã diễn tả kinh nghiệm của mình về thành phố, bằng ám dụ (allegory), một hình thức văn học lỗi thời, kể từ thời kỳ Baroque. Thí dụ như trong bài thơ "Thiên Nga", ông ám chỉ nhà thơ như là một loài chim phong nhã, một con thiên nga, quờ quạng trên hè phố, không làm sao xoải cánh để bay vút lên.
Tại sao Baudelaire chọn hình thức ám dụ? Benjamin sử dụng "Tư Bản Luận" của Marx để giải thích câu hỏi của chính mình. Marx nói, sự nâng giá cả thị trường thành thước đo giá trị duy nhất đã giản lược thương phẩm thành chẳng là chi hết, mà chỉ là ký hiệu - một ký hiệu của cái nó bán ra. Dưới sự ngự trị của thị trường, vật thể sẽ tương quan với giá trị thực thụ của chúng một cách độc đoán chẳng khác nào như thời Baroque, biểu tượng sọ người tương quan với [sự kiện] con người bị lệ thuộc vào thời gian, thí dụ vậy. Do đó, các biểu tượng bất ngờ quay ngược về một giai đoạn lịch sử dưới dạng thương phẩm, là những thứ trong chủ nghĩa tư bản không còn như dạng bề ngoài của chúng, và như Marx cảnh cáo, chúng chứa đầy những tế vi siêu hình và những chi li thần học." Benjamin lập luận, ám dụ chính là phong cách đúng đắn cho một thời đại thương phẩm.
Trong khi làm việc với cuốn sách chẳng bao giờ hoàn tất, về Baudelaire, Benjamin tiếp tục những ghi chú về Thương Xá, thêm vô những cuốn (convolutes). Sau chiến tranh, người ta lôi ra, từ chỗ giấu giếm tại Thư viện Quốc gia, một xấp dầy chừng chín trăm trang, bao gồm những trích dẫn, chủ yếu từ những nhà văn thế kỷ 19, nhưng cũng từ những người đương thời với Benjamin, được chia thành từng nhóm, với những tiêu đề, xen những bình luận, cộng những chương trình, những đề cương này nọ. Ðược Rolf Tiedemann xuất bản năm 1982, dưới nhan đề là "Passagen-Werk". Bản dịch của Harvard, "Thương Xá', dùng bản văn của Tiedemann, nhưng bỏ đi rất nhiều tài liệu làm nền và khung biên tập, của Benjamin. Tất cả những đoạn tiếng Pháp đều được dịch qua tiếng Anh, cộng thêm những ghi chú bổ ích, và tràn đầy hình ảnh minh họa. Ðây là một cuốn sách rất bảnh, và trong cách xử lý những đối chiếu phức tạp của Benjamin cho thấy: đây là một thắng lợi của kỹ thuật in tinh xảo.
Lịch sử của "Thương Xá" - một lịch sử của lần lữa, và những khởi đầu hỏng cẳng, của những lang thang trong những mê lộ thư khố, tìm kiếm cho đến triệt để, tất cả những nét này đúng là đặc trưng của một tính khí sưu tập, xoay chuyển cơ sở lý thuyết hoài hoài, của sự phê bình quá dễ dàng gánh chịu, và thường cho rằng, Benjamin không hiểu chính đầu óc mình - lịch sử ấy có nghĩa, cuốn sách chúng ta hiện có, cơ bản phải là dở dang: dở dang trong thai nghén, và hiểu theo nghĩa thông thường, khó thể gọi [đây] là
ột cuốn sách được sáng tác. Tiedemann so sánh nó như nhng vật liệu xây cất một căn nhà. Giả dụ như căn nhà được xây cất, thì chất keo gắn bó ắt sẽ là tư tưỡng của Benjamin. Phần lớn tư tưởng đó nằm dưới dạng những đoạn chêm vào của Benjamin, nhưng không phải lúc nào chúng ta cũng biết cách làm cho tư tưởng kia phù hợp, hoặc quán xuyến khối vật liệu.
Trong tình trạng như vậy, Tiedemann nói, tốt nhất là chỉ in những từ của riêng Benjamin, gạt bỏ những trích dẫn. Nhưng ý định của Bejanmin, tuy không tưởng, là, tới một điểm nào đó, lời bình của ông sẽ được âm thầm rút ra, để cho tài liệu trích dẫn chịu đựng toàn thể sức nặng của cấu trúc.
Trong một cuốn sách chỉ dẫn vào năm 1852, có đoạn: Những vòm cung ở Paris là "những đại lộ nội…, những hành lang trên có vòm thuỷ cung, mở ra trọn một khu cao ốc… chạy dài hai bên hành lang là những gian hàng lịch sự nhất, một vòm cung như thế là một thành phố, một thế giới thu nhỏ lại." Vòm thuỷ tinh mở ra bầu trời, và kiến trúc bằng thép của chúng chẳng bao lâu được những thành phố Tây phương khác rập theo. Thời hoàng kim của những thương xá kéo dài tới cuối thế kỷ, khi chúng bị những cửa hàng bách hoá lấn át.
Cuốn "Thương Xá" không hề được viết ra theo ý hướng: một lịch sử kinh tế (mặc dù một phần trong tham vọng của nó, là hành động sửa sai, đối với toàn thể môn lịch sử kinh tế). Một phác thảo sơ khởi gợi ra một hình ảnh rất giống như ở trong" Thời thơ ấu ở Berlin":
Người ta biết, Hy lạp cổ có những nơi, con đường đưa xuống thế giới ở bên dưới. Tương tự, cuộc sống [khi] thức giấc của chúng ta, là một vùng đất mà, ở vài điểm che giấu nào đó, đưa xuống thế giới ở bên dưới - một vùng đất đầy những nơi chốn kín đáo, từ đó những giấc mơ trỗi dậy. Suốt ngày, chẳng nghi ngờ chi, chúng ta đi ngang qua, nhưng vừa mới chợp mắt, là chúng ta hăm hở mò mẫm con đường trở lại, để mất mình trong những hành lang tối đen. Ban ngày, mê cung của những nơi chốn thị tứ giống như ý thức; những vòm cung… lối xuống phố không dấu hiệu, không bảng chỉ tên đường (unremarked). Tuy nhiên, đêm đến, dưới khối lượng âm u của những căn nhà, bóng đen dầy đặc của nó nhô ra như đe dọa, và khách bộ hành đêm rảo bước - trừ phi có gan rẽ vào một ngõ hẹp.
Hai cuốn sách Benjamin dùng làm khuôn mẫu: "Một người nhà quê ở Paris", của Louis Aragon, trong đó tác giả thân ái ca ngợi hành lang hý viện ("Passage de l'Opéra"), và "Spazieren in Berlin" ("Lang thang ở Berlin"), của Franz Hessel, cuốn này tập trung vào Kaisersgalerie [Kaisers là tên một thành phố ở Ðức, nổi tiếng vì có một nhà thờ từ hồi đầu thời kỳ Gothic - thế kỷ 13-14 - và một phòng trưng bầy tranh], và quyền năng của nó: làm sống lại một thời vang bóng. Trong cuốn sách của mình, Benjamin mong làm sao nắm bắt được cái kinh nghiệm lang thang ở Paris giữa những gian hàng, một kinh nghiệm vẫn có thể hồi sinh được, vào thời của ông, khi "những vòm cung chấm phá điểm tô cảnh quang đô thị, như những hang động còn giữ những bộ xương hóa đá của một loài quái thú đã tuyệt chủng: đó là khách tiêu thụ thời tiền-đế quốc của chủ nghĩa tư bản, [là] loài khủng long cuối cùng của Âu châu." Sự đổi mới lớn lao của Thương Xá chính là dạng thức của tác phẩm. Nó dựa trên nguyên tắc dàn dựng [của điện ảnh], đặt những đoạn văn thuộc quá khứ và hiện tại cạnh kề nhau, với ước mong rằng, chúng sẽ nháng lửa và soi sáng cho nhau. Thí dụ như, nếu mục 2,1 của cuốn L, chiếu về việc mở ra một viện bảo tàng nghệ thuật ở cung điện Versailles vào năm 1837, được đọc nối kết với mục 2,4 của cuốn A, vẽ lại sự phát triển thương xá thành những cửa hàng bách hóa, như thế là trong trí người đọc lý tưởng, sẽ loé lên sự tương tự, "viện bảo tàng so với cửa hàng bách hóa, thì cũng giống như nghệ phẩm so với thương phẩm."
Theo Max Weber, mất tín ngưỡng và bỏ cõi thiên đàng là dấu ấn của thế giới hiện đại. Benjamin nhìn theo một góc độ khác: chủ nghĩa tư bản đã ru ngủ người ta, và họ chỉ thức giấc khỏi cơn mê ly tập thể, khi nào người ta làm cho họ hiểu được, chuyện gì đã xẩy ra với họ. Câu tiêu đề của cuốn N, là từ Marx: "cải tạo ý thức CHỈ gói trọn vào điều … thức tỉnh thế giới, khỏi cơn mê tự thân." (The reform of consciousness consists solely in…. the awakening of the world from its dream about itself").
Những giấc mơ của thời kỳ tư bản đã nhập thể vào thương phẩm. Toàn thể, chúng tạo hồn ma bóng quế, thay hình đổi dạng hoài hoài tùy theo sự trồi sụt của thời thượng, [những thương phẩm như thế đó] được ban cho đám đông, là lũ tín đồ mê ly đắm đuối, như hiện thân của những dục vọng sâu thẳm nhất ở trong họ. Hồn ma bóng quế luôn luôn giấu gốc gác của nó (vốn là lao động bị vong thân). Hồn ma bóng quế với Benjamin cũng giông giống như ý hệ với Marx - một mạng những gian dối công cộng được quyền năng của tư bản duy trì, nhưng nó càng giống hơn [nếu so sánh với] sự tạo mộng của Freud, [khi nó] tác động lên tập thể, xã hội.
**
"Tôi không cần nói điều chi. Chỉ bầy ra thôi, " (I need'nt say anything. Merely show," Benjamin nói; và ở một chỗ khác, "Ý
#432;ởng so với vật thể, như tinh hà so với những vì sao." Nếu bức khảm của những trích dẫn được thiết dựng đúng đắn, thì một dạng thức sẽ xuất hiện, một dạng thức [còn] hơn [cả] tổng số những thành phần, nhưng không thể hiện hữu độc lập với các thành phần đó. Ðây là yếu tính của một hình thức mới, trong cách viết duy vật lịch sử mà Benjamin tin rằng ông đang hành xử.
Ðiều làm Adorno ngán ngẩm về dự án vào năm 1935, đó là niềm tin của Benjamin: rằng chỉ cần lắp ghép những vật thể (trong trường hợp này, những trích dẫn tách ra khỏi ngữ cảnh), là có thể tự nói về nó. Ông viết, "Benjamin ở ngã ba đường, giữa huyền thuật và chủ nghĩa thực chứng." Vào năm 1948, Adorno đã có dịp may được đọc toàn bộ văn bản "Thương Xá"
nhưng lại một lần nữa, tỏ ra nghi ngờ, rằng nó quá nhẹ về lý thuyết.
Ðối với những phê phán kiểu trên, cách trả lời của Benjamin là phát minh ra ý niệm về hình ảnh biện chứng - để làm điều đó, ông trở lại với khoa biểu tượng của thời kỳ Baroque - những ý tưởng đại diện bằng hình ảnh - và ám dụ theo kiểu Baudelaire - sự tương tác, the interaction, của ý tưởng được thay bằng sự tương tác của vật thể làm biểu tượng. Ám dụ, theo ông, có thể đoạt vai trò của tư tưởng trừu tượng.
Những vật thể và hình tượng (figures) ở trong những thương xá - những con bạc, những gái điếm, những tấm gương soi, những hình tượng bằng sáp, những con búp bê chạy bằng dây thiều - (đối với Benjamin) là những biểu tượng (emblems), và sự tương tác giữa chúng tạo nên nghĩa; nghĩa ám dụ này không cần du nhập lý thuyết. Theo cùng những dòng, những mẩu đoạn của bản văn, lấy ra khỏi quá khứ, đặt vào trong dẫn trường (charged field), của hiện tại mang tính lịch sử, chúng có thể ứng xử chẳng khác chi những thành phần của một hình ảnh Siêu thực, tức thời tương tác để phát ra năng lượng chính trị. (Benjamin viết, "Những biến cố quanh nhà sử học, và trong đó, ông tham dự, sẽ làm nền cho sự trình bầy lịch sử của ông, như một văn bản viết bằng một thứ mực vô hình."). Như vậy, các mẩu đoạn tạo nên hình ảnh biện chứng, [trong khi] vận động biện chứng bị ngưng đọng trong khoảnh khắc, mở phơi cho thẩm sát, [đây là] "phép biện chứng ở điểm đứng" ("dialectic at a standstill"). Chỉ những hình ảnh biện chứng mới là những hình ảnh đích thực.
Lý thuyết là thế đó, khéo léo đấy, và là điều cuốn sách, bề sâu mang tính phản lý thuyết của Benjamin, hướng vọng. Nhưng với những độc giả không bị lý thuyết kia thuyết phục, đối với độc giả mà những hình ảnh hiện hữu kia chẳng bao giờ trở thành sống động như trong giả thuyết, những độc giả có lẽ chẳng tiếp thu lối tự sự chủ chốt về giấc ngủ triền miên của chủ nghĩa tư bản, tiếp theo là bình minh của chủ nghĩa xã hội: đối với độc giả đó, cuốn "Thương Xá" có gì để cống hiến?
Danh sách ngắn ngủi trong những thứ cống hiến sẽ gồm: một kho báu những thông tin kỳ lạ về Paris; vô vàn những trích dẫn gợi suy tư, sự thu hoạch của một trí tuệ sắc bén và đặc dị bủa lưới qua hàng ngàn cuốn sách; những nhận xét cô đọng, được mài giũa để ánh lên, sắc nước như châm ngôn, và hầu hết những chủ đề ưu ái của Benjamin (thí dụ: "mại dâm có thể đòi được coi là 'lao động', vào lúc mà lao động trở thành mại dâm." (Prostitution can lay claim to being 'work' the moment work becomes prostitution."); và những thoáng nhìn của Benjamin, khi ông đùa giỡn với một cách nhìn mới về chính mình: như là một nhà sưu tập những "từ chìa khóa trong một cuốn từ điển bí mật," người biên soạn cuốn "bách khoa huyền ảo". Bất thình lình, Benjamin, độc giả nhập thất của một thành phố ám dụ, có vẻ gần gụi với người đồng thời của ông, là Jorge Luis Borges, nhà ngụ ngôn về một vũ trụ được viết lại.
Từ một khoảng cách, tuyệt tác của Benjamin, kỳ cục thay, gợi nhớ một điêu tàn lớn lao khác của văn học thế kỷ 20, "Thi khúc" ("Cantos"), của Pound. Cả hai tác phẩm đều được chiết ra từ những năm tháng đọc sách theo kiểu cú vọ (jackdaw reading). Cả hai đều được dựng nên từ những mẩu đoạn và những trích dẫn, và trung thành với một thẩm mỹ học hiện đại bậc cao, về hình ảnh và dàn dựng. Cả hai đều có tham vọng kinh tế và đều nằm dưới sự chứng giám của những nhà kinh tế (một bên là Marx, và một bên là Gesell và Douglas). Cả hai tác giả đều có đầu tư vào trong những ngành cổ học, và cả hai đều đánh giá quá cao sự thích nghi của chúng đối với thời đại của chính họ. Chẳng người nào biết, khi nào thì dừng. Và cả hai, sau cùng đều tiêu ma vì con quái vật là chủ nghĩa phát xít. Với Benjamin, là một kết cục bi đát. Với Pound, ô nhục.
Số phận của "Thi Khúc": chỉ được trích dẫn đưa vào tuyển tập, cái còn lại cứ thế mà âm thầm bị bỏ rơi. Số phận của "Thương Xá" chắc cũng tương tự. Người ta có thể tiên đoán, về những ấn bản dành cho sinh viên, rút ra chủ yếu là từ Cuốn B ["Thời Trang"), H ("Kẻ Sưu Tập), I ("Nội Thất"), J ("Baudelaire"), K ("Thành Phố Mộng"), N ("Tri Thức Luận "), và Y ("Nhiếp Ảnh"), trong đó, những trích dẫn sẽ bị cắt bỏ chỉ còn tối thiểu và hầu hết văn bản sót lại sẽ là do chính Benjamin viết.
Ðó chắc không phải hoàn toàn là một điều xấu.
4.
Phạm vi những đề tài quan tâm được trình bầy trong "Tuyển Tập" thì rộng. Ngoài những bản văn được bàn tới ở trong bài điểm sách này, còn có tuyển thêm những bài viết thuở mới khởi nghiệp, rõ nét duy tâm, về giáo dục; nhiều tiểu luận phê bình văn học, gồm cả hai tiểu luận dài về Goethe, một dẫn giải về cuốn tiểu thuyết "Tương khí tương cầu" ("The Elective Affinities"), một tổng quan bậc thầy về sự nghiệp của Goethe; những tuỳ bút, đề tài đa dạng, về triết học (luận lý, siêu hình, mỹ học, triết học về ngôn ngữ, triết học về lịch sử); những tiểu luận về sư phạm, về sách trẻ em, về đồ chơi, một bài rất lôi cuốn về thú chơi sách của bản thân tác giả; và đủ thứ bài viết về du lịch, và những chuyến lãng du vào cõi giả tưởng. Tiểu luận về "Tương khí tương cầu" sừng sững như một phong cách chơi kỳ dị: Một trường ca trữ tình độc tấu, bằng một văn phong cao sang, tế nhị tuyệt vời, ngợi ca tình yêu và cái đẹp, huyền thoại và số mệnh, giọng bổng chót vót nhờ mối thanh khí ngầm mà Benjamin nhìn ra giữa lớp lang của cuốn tiểu thuyết kể trên, và cuộc tình tay tư đắm đuối, bi hài mà vợ chồng ông bị mắc míu.
Tập thứ ba và là tập chót của "Tuyển Tập" phải tới mùa xuân năm 2002 mới được xuất bản. Sẽ bao gồm những bản tóm tắt của Benjamin, về "Thương Xá", vào những năm 1935, 1938, và 1939; "Nghệ Phẩm", qua hai bản văn; "Người kể chuyện"; "Một thời thơ ấu ở Berlin"; "Những luận đề về Quan niệm Lịch sử" ("Theses on the Concept of History"), và một số thư chìa khóa trao đổi giữa Adorno và Scholem, trong có cả lá thư quan trọng vào năm 1938, về Kafka.
Dịch thuật ở Tập 1 và 2, là do nhiều người, và tuyệt hảo. Nếu phải kể một người kiệt xuất thì đó là Rodney Livingstone, do hiệu quả kín đáo - thay đổi văn phong và giọng điệu - để ghi dấu con đường phát triển của Benjamin như một nhà văn. Những chú thích cũng gần đạt tiêu chuẩn cao đó, nhưng không bằng. Thông tin về những nhân vật mà Benjamin nhắc tới, đôi khi bị lỗi thời (như với Robert Walser) hay không đúng: niên đại về Karl Korsch - là người mà Benjamin dựa vào rất nhiều, trong việc tìm hiểu Marx (Korsch bị khai trừ khỏi Ðảng Cộng sản Ðức vì những quan điểm lệch lạc) - được ghi là 1892-1939, trong khi đúng ra phải là 1886-1961. Có một số lầm lẫn về từ Hy lạp và La tinh.
Một vài lối hành xử của nhóm biên tập và dịch thuật cũng gây thắc mắc. Benjamin có thói quen viết những đoạn dài nhiều trang: lẽ ra dịch giả phải tự tiện ngắt chúng ra. Ðôi khi, hai bản thảo của cùng một văn bản được đưa cả vào sách mà không nêu rõ lý do. Những bản dịch hiện hữu từ những văn bản Ðức mà Benjamin trích dẫn, được nhóm biên tập sử dụng, rõ ràng không đạt tiêu chuẩn.
**
Walter Bejamin là ai? Một triết gia? Một nhà phê bình? Một sử gia? Hay "chỉ là" một nhà văn?
Câu trả lời hay nhất có lẽ là của Hannah Arendt: ông ta là một "trong số những người không thể xếp loại… là những người có tác phẩm không hợp với trật tự đang có, mà cũng chẳng đưa ra một thể loại mới nào."

Cách tiếp cận độc đáo của ông - tới với một đề tài không theo lối thẳng băng, mà đi xiên từ một góc độ, bước từng bậc, từ một tổng kết qui mô đã hoàn hảo, tới bậc kế tiếp - khiến người ta nhận ra ngay, vì chẳng ai bắt chước nổi, với trí tuệ sắc bén, với kiến thức nhẹ mang, và với một văn phong chính xác và súc tích tuyệt vời, đã có lần ông đành không dám nghĩ về mình, là giáo sư tiến sĩ. Làm sao tới được sự thực về thời đại của chúng ta, đó là cốt lõi dự án của ông, và nó được nhấn mạnh bởi một tư tưởng, mà Bejamin nhận thấy, đã được diễn tả bởi Goethe: làm bật ra những sự kiện, theo kiểu này: những sự kiện sẽ là lý thuyết của chính chúng.
Cuốn sách "Thương Xá", cho dù chúng ta đánh giá nó như thế nào - điêu tàn, thất bại, một dự án bất khả, impossible project - đề nghị một đường lối mới, để viết về một nền văn minh: sử dụng những rác rưởi làm chất liệu, thay vì những nghệ phẩm của cái nền văn minh đó
lịch sử từ đáy thay vì lịch sử từ đỉnh. Và lời kêu gọi của Benjamin (trong "Những luận đề" - "Theses"), cho một lịch sử xoáy vào đau khổ của những người thua, thay vì thành tựu của những kẻ thắng: lời kêu gọi này mang đầy tính tiên tri, về cung cách mà việc viết sử bắt đầu nghĩ về chính nó, trong quãng đời [còn lại ngắn ngủi của chúng] ta.

Jennifer Tran chuyển ngữ bài viết của Coetzee, "The Marvels of Walter Benjamin", trên tờ "Ðiểm sách New York", số đề ngày 11.1.2001).

 

Những Cây Cọ Dại
(Ðọc Gió Ngược của Lâm Chương và
Tình Ca Con Dúi của Nguyễn Thị Thảo An
)

Nguyễn Quốc Trụ

Phần (2)
"Mấy năm trước, trong một trận football, khi cháu tôi đang ôm quả bóng cà na chạy thụt mạng, đột nhiên có thằng xông tới cản đường. Không tránh kịp, nó té xấp. Lỡ trớn, đám cầu thủ đang rượt theo hết tốc độ cũng té dồn cục trên mình nó. Khi mọi người đã đứng dậy, thằng cháu tôi vẫn không nhúc nhích. Tai nạn làm nó chấn thương mặt, lọt xương chân và khuỷu tay. Trải qua một thời gian trị liệu cả về tâm lý, gia đình chị tôi mới có cuộc sống bình thường. Sau, thằng cháu cũng trở lại trường với cái chân cả quỷnh. Tưởng đã yên, ai ngờ sóng gió mới bắt đầu khi nó biết yêu. Nhắm lúc chắc ăn, thằng cháu tôi tỏ tình. Không ngờ con bạn học hàng ngày thân thiết như đôi tình nhân từ chối một cách thẳng thừng. Tuyệt vọng nó như té thêm lần nữa, xem chừng còn nặng hơn lần trước. Nó không oán con bạn, cứ hận đôi chân tật nguyền. Ðôi lúc quẩn trí, nó tự tử, may được người nhà phát hiện. Từ đó, nó bỏ học, ru rú ở nhà, chờ cơ hội. Khuyên giải mấy cũng không được, chị họ tôi đành nghỉ làm, ở nhà coi chừng con."
(Tình Ca Con Dúi)

"Sơn Ca và mèo ngủ chung, mèo nằm trong lòng, gối đầu lên cánh tay nó như một đứa em cưng. Nó thường vuốt ve, nhiều lúc còn hôn lên cái mũi đỏ hồng của mèo nữa.
Ông Lâm nói: "Con không được hôn mèo."
"Why?" Nó hỏi.
Ông Lâm không thích lối hỏi cộc lốc theo kiểu người Mỹ."
(Gió Ngược)

Cả hai truyện ngắn đều bắt đầu bằng một đứa trẻ. Và một con vật.

Trong một bài viết về cuốn "Chàng Khờ" của Dostoievsky, Walter Benjamin cho rằng, từ trong trắng nhất để diễn tả cuộc sống ở trong sự bất tử của nó là: tuổi trẻ. Thiếu thiên nhiên và thời thơ ấu, nhân loại kể như tiêu. Trong "Tình Ca", đứa con trai muốn nhập vào thiên nhiên và con người ở xứ người. Thất bại, vì cái trò chơi mà nó chọn lựa để hội nhập vốn đòi hỏi sức mạnh và bạo động. Cả hai, nó đều không có, không thể nào có. Ở trong "Gió Ngược", đứa trẻ hôn mèo, người bố nói không được, vì hôn mèo sẽ bị bệnh lao. Ðứa bé không tin, vì lao là do vi trùng, không phải do hôn mèo. Ông bố, khó tính hơn đứa nhỏ, theo nghĩa, người già là một đứa trẻ khó tính. Sự khó tính của ông còn nhiều nguyên nhân khác nữa. Cô bé út Sơn Ca nghi ngờ khả năng hiểu biết của ông bố, mấy cô chị, thay vì nghi ngờ, tỏ ra thương hại ông. Nếu cứ đọc theo kiểu "thẳng băng", bám chặt dữ kiện, người đọc cũng sẽ về hùa với cô bé Sơn Ca, mấy cô chị, và luôn cả cô giáo của Sơn Ca, và sẽ lắc đầu "tuyệt vọng", trước hy vọng của ông bố về cô út: ông sẽ dậy nó theo ý của ông. Dạy con từ thuở còn thơ… Mấy đứa con lớn, ông coi như sắp vuột ra khỏi tầm tay rồi.
Theo tôi, phải vượt lên trên những dữ kiện, để tìm hiểu những nhân vật của Lâm Chương. Con mèo Snowball của Sơn Ca thật khó làm cho ông Lâm "gợi nhớ" về một quãng đời cũ, có con mèo Miêu Nữ. Thành thử, đừng tin rằng ông Lâm đã thực sự nghĩ rằng "những đứa trẻ" đã vuột khỏi ông. Và cũng đừng cho rằng, ông Lâm là một trường hợp "hết thuốc chữa".

Nhưng thất bại lần đầu của đứa con trai chưa khủng khiếp bằng lần thứ nhì: nó bị thất tình vì cái chân què. Ðể chữa trị (cái chân què, duyên do đầu tiên của mọi thảm họa): chỉ có mật gấu, và phải thứ thiệt. Và cách thử là phải lấy chính thân mình ra để thử.
Hiện tượng nuôi gấu lấy mật hiện đang lan tràn ở Việt Nam. Theo báo Lao Ðộng [điện tử], số ngày 15.3.2001, riêng tại Hà Nội, phát hiện 157 hộ nuôi gấu "tại gia". Tôi không tin, Tình Ca [được viết để] gióng lên một hồi chuông báo động về một thảm họa môi sinh, nhưng dù ít dù nhiều, những người du lịch là nguồn cơn của thảm họa. Ðủ thứ thảm họa. Muốn ăn thịt sống, thịt tươi, về Việt Nam. Muốn có mật gấu thiệt, về Việt Nam.
Riêng chuyện thất tình, người kể cho rằng, thuốc chính là thời gian, đâu cần mật gấu.

Ở cả hai truyện, chuyến trở về quê hương, một thực sự xẩy ra, một ở trong đầu người tù ngày nào, là một cuộc truy tìm, một con thú, gấu để lấy mật chữa vết thương mới, và mèo, để chữa trị vết thương cũ, nguồn cơn của mọi hằn học. Trong "Tình Ca", trở về quê hương kiếm mật gấu, là để chữa trị cho đứa con trai. Trong "Gió Ngược", ông bố trở lại với những ngày tù (với con mèo ở trong nhà tù), là để chữa trị cho chính ông. Không phải cho đứa nhỏ. Những đối thoại giữa ông bố và mấy cô con gái ở đoạn mở đầu "Gió Ngược" tiếp theo sau đoạn trích dẫn, cho thấy, ông mới là người bị chấn thương nặng nề. Cả hai truyện đều bắt đầu từ một tình huống ở hải ngoại, và sau đó chuyển về Việt Nam, như là một giải pháp, để trả lời cho vấn nạn hội nhập.

Cách kể ở trong hai truyện ngắn khác nhau. Ở "Tình Ca", người kể chuyện ở ngoài câu chuyện được kể. Nó mang hơi hướng thứ truyện cổ (conte), trong khi ở "Gió Ngược", người kể nhập vào trong truyện. Ðây là truyện ngắn, theo kiểu bây giờ. Ở "Tình Ca", chuuyện trở về Việt Nam, nhân thể tìm mật gấu, diễn ra hết sức tự nhiên. Ở "Gió Ngược", mối nối giữa con mèo hải ngoại và con mèo ở trong tù, là ngầm.

Có mấy chi tiết về cách dùng từ trong "Tình Ca" có thể gây chú ý ở nơi độc giả (bóng, thay vì banh; không tránh kịp thay vì không kịp né; té dồn cục thay vì ngã thành một đống…). Theo tôi, tác giả quen sử dụng cả hai dòng ngôn từ nam và bắc, và bà sử dụng bất cứ từ nào, bắc hoặc nam, mà bà cảm thấy quen thuộc, trong tầm tay, khi đang viết.
[Xin được mở ngoặc ở đây, để kể về một câu chuyện đã từng xẩy ra ở hải ngoại. Ở Canada, có nghề bắt trùn, hay bắt giun. Trên các báo địa phương, những mẫu quảng cáo thường dùng từ trùn: Cần người bắt trùn, Có xe chuyên chở người đi bắt trùn. Và một ông chồng đã bắt bẻ vợ: Không được nói đi bắt trùn, mà phải nói đi bắt giun].
Liệu có th coi, đây là một thách đố, đối với những nhà văn người Việt ở hải ngoại: làm sao xóa nhòa dấu vết địa phương, trong văn của mình, khiến người đọc không thể nhận ra, tác giả sinh trưởng tại miền nam, miền trung, hay là miền bắc? Và đây có phải vẫn nằm trong vấn nạn "điểm và diện", của "văn chương"?


(còn tiếp)
Nguyễn Quốc Trụ.


Ðọc tác phẩm mới của Ngô Thế Vinh:
Cửu Long Cạn Dòng - Biển Ðông Dậy Sóng


Nhật Tiến


Tựa đề của tác phẩm, tự nó đã mang hai chủ đề lớn: Cửu Long cạn dòng, Biển Ðông dậy sóng. Ðây không phải là tựa đề thích hợp cho một cuốn tiểu thuyết, nhưng chỉ khi nào đọc xong tập truyện, gấp sách lại với bao nỗi niềm xúc cảm dâng lên trong lòng, người đọc mới thấy dụng tâm của tác giả. Ông muốn gửi đến người đọc, không chỉ là những tâm tình khắc khoải, thiết tha mà còn là tiếng kêu thất thanh của một loài chim báo bão về một thảm họa kinh hoàng đang tới, sẽ tới, nhưng giữa một khung cảnh ngổn ngang quá nhiều vấn đề phải toan tính hiện nay, nên rõ ràng thảm họa này chưa được mấy ai chú ý tới. Thực ra, nếu cần xếp loại thì Cửu Long Cạn Dòng, Biển Ðông Dậy Sóng nên xếp vào loại tiểu thuyết tư liệu (roman documentaire) giống như bên ngành kịch đã có những vở kịch tư liệu (théâtre documentaire) đã một thời làm sôi động sân khấu thế giới. Thực chất của những tác phẩm văn nghệ có dính dấp nhiều đến vấn đề tư liệu này chính ra chỉ là một thủ pháp chuyển hóa những dữ kiện lịch sử vào nội dung tác phẩm thông qua trí tưởng tượng của tác giả để minh họa thêm những chi tiết cụ thể cho những vấn đề mà tác giả muốn đề cập .

Trong văn học Việt nam, những tác phẩm của Nguyễn Triệu Luật như Ngược Ðường Trường Thi, Bà Chúa Chè, Chúa Trịnh Khải, Rắn Báo Oán v.v... theo tôi là những tiểu thuyết thể hiện rất rõ nét về thể loại tiểu thuyết này. Nhưng dù sao thì đấy vẫn chỉ là phần hình thức bên ngoài trong khi nội dung tác phẩm mới là phần đáng kể. Người đọc khi gấp sách lại, hẳn ai cũng chia xẻ với ông về một chuyện chẳng đặng đừng: vấn đề nêu trong tác phẩm không chỉ là những vấn đề tâm tình muôn thuở của con người mà ta thường thấy trong những bộ tiểu thuyết, nhưng ở đây là những chuyện thiết thân đến đời sống, đến sự sinh tồn của hàng trăm triệu con người thuộc bẩy quốc gia trong vùng Ðông Nam Á. Mà như vậy thì hà cớ phải gò bó những suy tưởng, những đi, những sống, những vốn hiểu biết dồi dào phong phú của mình vào khuôn khổ của tiểu thuyết thuần túy. Ngô Thế Vinh do đó đã để cho ngòi bút của mình xuôi chẩy theo nhu cầu của sự thuyết phục về những điều mà ông muốn gửi gấm đến người đọc. Trên hai muơi ba chương sách dàn trải rất nhiều vấn đề thuộc về thiên nhiên, về con người, về tâm tình thao thức của nhiều nhân vật điển hình, về môi trường sống và cả những mưu toan chính trị, tất cả đã được tác giả đã trình bày khi thì dưới dạng những trang biên khảo cực kỳ phong phú về lịch sử, về phong tục, về tín ngưỡng hay tập quán của nhiều bộ tộc, khi thì là những dữ kiện, những con số, những thống kê khoa học chính xác, và đặc biệt lôi cuốn hơn cả, là những trang du ký sinh động, đầy mầu sắc của nhiều miền đất lạ trên cao nguyên, trên đồng bằng, trong rừng sâu núi thẳm hay ngoài đại dương, những trang ghi chép tuyệt vời đối với những ai chưa có dịp đi và sống. Tuy nhiên dù đa dạng cách nào thì người đọc vẫn nhìn thấy dụng ý của tác giả, đó là sự tổng hợp của nhiều thủ pháp cần thiết để vừa tăng hiệu lực của cuốn sách, vừa để cho những nhân vật tiểu thuyết của ông dẫn dắt người đọc đi vào những ước mơ, những khao khát và những nguyện vọng của con người về những chuyện thiết thân đến đời sống, đến sự sinh tồn của nhiều dân tộc trong đó, dĩ nhiên có Việt Nam. Bằng một giọng văn hết sức đơn giản nhưng có sức tập trung cao độ, Ngô Thế Vinh đã sử dụng những nhân vật của mình làm hướng dẫn viên đưa người đọc đi qua những cuộc hành trình kỳ thú, từ quá khứ xa xăm đến thực tế hiện tại sinh động, để từ đó, người đọc bỗng thấy nổi bật lên một điều cơ bản: Họ, những nhân vật tiểu thuyết của Ngô Thế Vinh, như ông Khắc, như bác sĩ Duy, như Cao, như Hộ, như Ðiền, Thuận, Bé Tư v.v... những chuyên viên khoa học thuần túy không những chỉ đang hành sử công tác chuyên môn của mình mà chính họ đã trở thành những người lính tiền phong đang xông vào một mặt trận mới.
Ðó là mặt trận đấu tranh sinh tồn có ảnh hưởng tới tương lai dân tộc trên cả hàng trăm năm trong một cuộc chiến rộng lớn, cuộc chiến về môi sinh, cuộc chiến về chủ quyền đất nước, cuộc chiến giành lại đất sống sống cho nhiều thế hệ con cháu chúng ta. Với kinh nghiệm già dặn và trình độ chuyên môn phong phú được hấp thụ từ những ngôi trường danh tiếng nhất thế giới, sự lo lắng và thao thức của họ khẳng định không phải là những cái gì xa xôi phù phiếm nhưng chính là những vấn đề nghiêm túc và cấp bách khiến cho người đọc phải quan tâm. Chẳng hạn như: "Theo tin báo Tuổi Trẻ từ trong nước, mười ngày trước Giáng sinh, ngư phủ Nguyễn văn Chơn và vợ cư ngụ tại huyện Lấp Vò tỉnh Ðồng tháp đã lưới được một con cá đuối khổng lồ trên sông Tiền, đoạn giữa hai xã Tân Mỹ và Tân Khánh Trung. Con cá đuối có chiều dài hơn 4 mét, ngang 2 mét và nặng tới 270 kí. Cá Ðuối hay Selachian, tên khoa học là Chondrichthyes, thuộc loài cá sụn - Cartilaginous fishes gồm các giống cá mập, cá nhám, cá đuối và là cá nước mặn. Ðây cũng là lần đầu tiên ngư dân Ðồng bằng sông Cửu Long lưới được một con cá nước mặn lớn như vậy rất xa biển và trên một khúc sông nằm sâu trong đất liền (trang 343). Rồi tác giả viết tiếp: "Nhưng có biết đâu, niềm vui đã nằm trong thiên tai như lời thơ Nguyễn Ðình Toàn, bởi vì khi mà nước sông Cửu Long xuống mức thấp nhất so với 73 năm trở lại đây và có nơi mực nước sông chưa được hai thước gây sạt lở hai bên bờ làm thiệt hại nhà cửa và cả nhân mạng. Nhiều chuyên gia Việt Nam ở ngoại quốc và cả trong nước đã lên tiếng báo động về hiểm họa hạn hán với sông Cửu Long có thể cạn dòng do các công trình xây đập ngăn nước của các quốc gia thượng nguồn Thái, Lào và nhất là chuỗi tám con đập bậc thềm khổng lồ Vân Nam, Trung Hoa mà lâu nay chánh quyền Hà Nội vẫn không hề lên tiếng phản đối. Và khi một con cá đuối nước mặn lớn như vậy có thể vào tới Ðồng Tháp thì đó là báo hiệu nạn ngập mặn salt intrusion đã vào rất sâu trong vùng châu thổ, nơi vốn là đất của "sữa và mật ngọt" hay đúnghơn vùng đất của "phù sa, lúa gạo, cây trái và tôm cá đầy đồng..." ( trang 347).

Ðối với tôi, đây không chỉ là một trang sinh động nằm trong một cuốn tiểu thuyết giả tưởng vì thực tế còn sừng sững ở đó. Tác giả cho biết: "Từ những năm 70, Trung Hoa đã có kế hoạch xây một chuỗi 8 con đập - Mekong Cascade - trên thượng nguồn nhưng do thiếu ngân sách nên mãi tới năm 80, con đập đầu tiên Manwan cao 99 mét mới được khởi công . Ðập chắn ngang khúc sông giữa hai ngọn núi với bức tường thành cao 35 tầng và 13 năm sau mới xây xong (trang 57). Con đập thứ hai Ðại Chiếu Sơn - Dachaoshan - cũng đã được khởi công năm 1996, sẽ tới con đập thứ ba Cảnh Hồng - Jinghong - chủ yếu xuất cảng điện sang Thái Lan. Con đập thứ tư Xiaowan cao 248 m, được coi là con đập mẹ - mother dam - trong chuỗi 8 con đập bậc thềm dự trù xây xong trước thập niên thứ nhất của thế kỷ 21 (trang 58). Vào năm 1993 do một hiện tượng được coi là bất thường xẩy ra khi mực nước con sông Mekong đột ngột tụt thấp xuống mà không vào mùa khô, chỉ lúc đó người ta mới biết là do ảnh hưởng của con đập Manwan (trang 59).

Sông cạn dòng vốn đã là một thảm họa. Nạn ô nhiễm cũng chẳng kém kinh hoàng hơn. Tác giả cho biết: "Từ Nữu Ước tới California, từ Thái Lan qua Lào, Cam Bốt sang đến Việt Nam xuống tới mũi Cà Mâu, đi tới đâu Cao cũng thấy tràn ngập các món hàng Trung Hoa . Có bao nhiêu trong số các món hàng ấy xuất phát từ những khu chế xuất tỉnh Vân Nam dọc hai bờ con sông Mekong? Con sông vốn trinh nguyên trong suốt cả ngàn năm ấy đang có những đổi thay thật mau chóng. Với 28 khu hầm mỏ đang được triệt để khai thác nơi thượng nguồn con sông Mekong, trong đó có cả những mỏ chì, mỏ kẽm là nguồn ô nhiễm nặng nề nhất. (trang 246). Con chim báo bão Ngô Thế Vinh đã đưa ra hình ảnh bi thương của thảm kịch Minamata bên Nhật Bản để minh họa cho tương lai đen tối của đồng bằng Sông Cửu:

"Vào những năm 50 ở Nhật, dân làng Minamata bỗng nhiên chứng kiến một hiện tượng lạ: những con mèo bắt đầu nhẩy múa điên cuồng, lên cơn co giật rồi sau đó là chết . Sau mèo tới người, phụ nữ sinh quái thai, trẻ sinh ra sống sót thì cũng bị dị tật bẩm sinh và chết dần... đó là do công ty hóa chất Chisso đã đổ các chất phế thải kỹ nghệ có thủy ngân xuống vịnh Minamata tạo ra một chu kỳ nhiễm độc trước hết trên các loại rong tảo tôm cá; tiếp theo là các động vật như mèo và dân cư sống trong vùng bị nhiễm độc gián tiếp do ăn phải hải sản có hàm lượng thủy ngân rất cao. Tumoko Uemura như một điển hình, một thiếu niên 17 tuổi tại làng Minamata ngay từ lúc sinh ra đã mù lòa câm điếc co quắp biến dạng không còn là hình người. Tumoko sống như cây cỏ, hoàn toàn trông nhờ vào bà mẹ tâm hồn thì đẹp đẽ và vô cùng ẩn nhẫn nhưng cũng rất can trường phấn đấu cho nhân phẩm và sự sống còn của đứa con... No more Minamata. Nhắc lại tấn thảm kịch ấy như điều tâm niệm của mỗi người dân đang cư ngụ nơi lưu vực sông Mekong, khi mà mỗi ngày chúng ta phải sống với đủ loại nước thải đổ xuống từ các khu kỹ nghệ khổng lồ Vân Nam và cả từ Thái Lan. (trang 513,514).
Từ biên giới phía tây của đất nước với những vấn đề của đồng bằng sông Cửu Long, bước qua biên giới phía đông, không thể không nhắc tới vấn đề chủ quyền và biên giới lãnh hải.Tham vọng tiến chiếm biển Ðông là điều Trung Quốc không bao giờ dấu giếm. "Giở tấm bản đồ Asia Pacific mới nhất của National Graphic, một cơ sở mà trước đây Kham (một nhân vật của Ngô Thế Vinh đã từng trải qua hầu hết các biến cố lớn lao trên đất nước) vẫn tin là có uy tín với tính khoa học vô tư, nhưng Kham đã không nén được sự bực bội. Khi vẽ vùng biển Ðông, cả khu vực mà họ gọi là South China Sea gần như hoàn toàn giống với ranh giới lịch sử lưỡi Rồng của Trung Hoa với ôm trọn cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Và Kham cũng đ không ngạc nhiên khi thấy cũng trên tấm bản đồ ấy cả ranh giới xứ Tây Tạng bị xóa nhòa trong cái trật tự mênh mông của lục địa nước Trung Hoa (trang 368). ...Riêng tại miền Bắc, các cấp lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam chẳng những không có một tiếng nói đòi chủ quyền còn tự nguyện dâng cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Bắc Kinh. Bức công hàm ngoại giao 14-09-58 gửi Trung Hoa của chánh phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do thủ tướng Phạm văn Ðồng ký với nội dung "tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-58 của chính phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc quyết định về hải phận của Trung Quốc" Mười tám năm sau, báo Sài Gòn Giải Phóng 05-1976, vẫn tiếp tục bênh vực cho nội dung kỳ quái của bức công hàm ấy: "Việt Nam Trung Quốc là hai nước anh em, sông liền sông, núi liền núi. Trung Quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí mà còn là người thầy tin cẩn, đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có được ngày hôm nay, thì chủ quyền Hoàng Sa thuộc Trung Quốc hay thuộc ta cũng vậy thôi. Khi nào chúng ta muốn nhận lại quần đảo này Trung Quốc sẽ sẵn sàng giao lại". Nhưng chính người đồng chí và người thầy tin cẩn ấy, 14 năm sau (14-03-88) không những đã không trả Hoàng Sa mà còn dùng võ lực cưỡng chiếm luôn các đảo Trường Sa của người đồng chí Việt Nam anh em. Chỉ trong một trận hải chiến ngắn, họ đã bắn chìm tầu hải quân Việt Nam, tàn sát không nương tay ngót 100 thủy thủ Việt trên biển Ðông thuộc vùng lãnh hải Việt Nam. (trang 375, 376) .
Công bằng mà nói, chuyện chấp nhận chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc vào năm 1958 là một dữ kiện đen tối của lịch sử, tuy nhiên nó đã nằm trong quá khứ. Trận hải chiến xẩy ra ở Biển Ðông trong tháng 3 năm 1988 với sự hy sinh của ngót 100 thủy thủ Việt Nam như tác giả đã trình bầy ở trên, cùng với những tin tức Việt Nam xây cất đồn lũy trên một phần của những hòn đảo này vào thập niên 90 cũng đã chứng tỏ nhà nước Cộng Sản Việt Nam đang cố gắng giữ gìn chủ quyền lãnh thổ khi bị ngoại bang lấn chiếm. Ðã có những cuộc thương thảo gay go giữa phái đoàn hai nước về vấn đề chủ quyền Biển Ðông, và gần đây nhất theo tin báo chí, cuộc đàm phán lãnh hải từ 8 đến 12 tháng 9-2000 đã đi đến bế tắc, hai bên không đạt được sự thỏa thuận nào dù hứa hẹn sẽ vẫn còn tiếp tục trong tương lai. Nói cho đúng, cuộc đàm phán về lãnh hải này đương nhiên là sẽ phải gay go vì phía Trung Quốc hẳn sẽ dựa trên bức công hàm ngoại giao do Thủ Tướng Phạm văn Ðồng đã ký ngày 14-9-1958 để làm lập trường thương thảo. Ðây là một hệ lụy của quá khứ mà nhà nước VN hiện nay phải gánh vác. Nhưng tôi mong mỏi rằng sẽ chẳng vì thế mà VN lại phải có những nhượng bộ nào khác để các cuộc thương thuyết sau này có cơ hội thoát ra khỏi được sự bế tắc. Trong tâm khảm của người Việt Nam thì Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc lãnh thổ Việt Nam. Bất cứ một sự nhượng bộ nào dù lớn hay nhỏ cũng đều sẽ để lại cho thế hệ con cháu chúng ta mai sau những di lụy mà tác hại của nó không biết đâu mà lường trước được. Mọi người Việt Nam dù là ở trong hay ngoài nước, theo tôi nghĩ, do đó cần phải theo dõi chặt chẽ hơn nữa về vấn đề này để biểu dương ý chí cương quyết gìn giữ đến cùng từng tấc đất di sản của tiền nhân.
Biển Ðông đã dậy sóng, nhưng đó không phải là lần đầu. Chính phủ và Quân lực VNCH cũng đã từng quyết tâm giữ vững chủ quyền Việt Nam trước tham vọng không ngưng nghỉ của bá quyền Trung Quốc. Nhà văn Ngô Thế Vinh đã ghi lại những dòng tuy ngắn ngủi nhưng vô cùng cảm xúc như sau:
"Kham nguyên là hạm trưởng của một trong 4 chiến hạm cũ kỹ của Mỹ để lại từ thời Thế chiến Thứ Hai, tham dự trận hải chiến tại Hoàng Sa năm 1974 chống một hạm đội đông đảo của Trung Quốc với những phóng pháo hạm Kronstadt có trang bị hỏa tiễn tầm xa lại có cả phản lực cơ Mig 21 yểm trợ trên không . Chính anh là nhân chứng máu và nước mắt của những con tầu Việt Nam chiến đấu đơn độc trên Biển Ðông, chứng kiến lòng yêu nước vô hạn, ý chí quyết tử cũng như sự hy sinh dũng cảm vô bờ của các đồng đội, nhất là của thủy thủ đoàn trên con tầu Nhật Tảo ở những giờ phút cuối cùng, ý chí sắt thép không chịu buông tay súng để rời con tầu đắm. Họ đã là những thủy thủ tận trung với nước mà vị quốc vong thân,... Kham và những người lính đã đánh một trận đánh hết sức mình, với nỗi uất hận của cả ngàn năm nô lệ: họ đã trút hết hỏa lực vào đầu địch, đã bắn đến viên đạn cuối cùng cho tới khi tất cả các dàn đại pháo bất khiển dụng. Họ chỉ còn chờ lệnh cho các con tầu hướng về Hoàng Sa chuẩn bị ủi lên đảo, dùng xác tầu và xác mình để làm chứng tích chủ quyền."' (trang 365) .

Như vậy, chặn dòng sông Cửu, lấn chiếm biển Ðông, cái khát vọng bành trướng ngàn đời của phương Bắc, không còn chỉ thuần túy mang hình thức của đoàn quân ồ ạt Nam tiến như trong quá khứ của lịch sử mà thể hiện trong một trận địa mới, trận địa môi sinh có sức tàn phá mãnh liệt, lâu dài và khủng khiếp hơn. Ðó là điều mà người Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ, cả trong lẫn ngoài nước phải ghi nhớ nằm lòng. Cụ thể và thiết thực hơn thế nữa, Ngô Thế Vinh đã gửi đến giới trẻ một thông điệp hay thân ái hơn, một lời kêu gọi, nhắn nhủ qua nhân vật Kham: "Kham đã động viên lớp người trẻ, không phải là sung vào quân đội chí nguyện cầm súng ra trấn giữ các hải đảo mà là chuẩn bị một đội ngũ trí tuệ trong mọi lãnh vực khoa học, đặc biệt là các ngành hải dương học, địa chất, môi sinh và cả về Luật Biển, Quốc tế Công pháp. Họ sẽ là thành viên không thể thiếu trên các bàn hội nghị hay trước các Tòa án Quốc tế trong tương lai." (trang 371)... "riêng Kham đã khuyến khích đứa con trai rất xuất sắc của anh, thay vì học Y khoa ở UCSF nay chuyển qua học Luật ở Stanford chuyên về Quốc tế Công pháp và Luật Hàng Hải. Anh có niềm tin sắt đá là cho dù vùng biển, vùng đảo đã bị Trung Cộng dùng võ lực cưỡng chiếm và phải mất bao nhiêu năm nữa thì sớm muộn cũng "Châu về Hiệp Phố" (trang 371).

Trong một lần tiếp xúc, tác giả đã nói với tôi, với sự nhã nhặn là khi viết tác phẩm này, ông chỉ coi như một việc làm gợi ý, một tín hiệu chuyển đến nhiều giới, đặc biệt là giới trẻ, mong họ quan tâm hơn đến một vấn đề mà trong bối cảnh chính trị trong nước và ngoài nước hiện nay, vẫn còn đang bị lu mờ. Tôi thì không nghĩ như vậy . Tôi cho rằng ông đã đóng góp hơn thế rất nhiều sau khi đã tận dụng tâm sức vào việc hoàn tất tác phẩm khá đồ sộ này. Ông đã cống hiến cho người đọc những trang bút ký cực kỳ đẹp đẽ, đã dàn trải trong tác phẩm một khối lượng thông tin vô cùng phong phú về lịch sử, về nhân văn, về môi sinh, về các vấn đề chính trị quốc tế trong toàn vùng Ðông Nam Á. Và trên hết, ông đã gióng lên được một tiếng chuông tuy có thể vẫn còn là một trong những tiếng chuông đơn lẻ cùng với Nhóm Bạn Cửu Long của ông, nhưng vô cùng kịp thời và cần thiết về những vấn đề vô cùng trọng đại của tương lai đất nước, tương lai của các thế hệ con cháu chúng ta.

Trong cương vị của một người đọc, tôi phải cám ơn tác giả đã mang cho tôi rất nhiều kiến thức về những vấn đề mà tôi không có điều kiện để nghiên cứu hay đào sâu, thêm vào đó là những xúc cảm, những bùi ngùi, những xót xa, những niềm hãnh diện cũng như tủi hổ trên các chặng đường lịch sử đã qua của đất nước cũng như của những thập niên trong tương lai gần gũi sắp tới. Tôi cũng đón nhận được từ nơi ông một mối quan tâm vô cùng sâu xa về tinh thần liên đới trách nhiệm của bất cứ ai còn nhận mình là người Việt Nam, và tôi mong mỏi tất cả mọi người hãy cùng tôi chia xẻ điềụu ấy bằng cách tìm đọc tác phẩm mới này của nhà văn Ngô Thế Vinh do nhà Văn Nghệ ở Nam Cali ấn hành.

Nhật Tiến
(California tháng 9, năm 2000)
*
trích Ðiểm Sách, Nhân Văn



Những Họa Hình Hồi Sinh của Nguyên

Trường Ðinh



Tôi nghe CD của Nguyên, "Ðêm Nhìn Mây Trắng Bay", vào một buổi chiều nhẹ gió. Những dòng nhạc của Nguyên như tranh họa hình bay phiêu lãng trên những khung dệt mây - vùng cung tự sắc màu của đêm dĩ vãng thao thức. Những âm vọng xiết chảy không ngừng của Ðêm Hát Lời Thiên Thu, Khi Mặt Trời Ðã Tắt, Ðêm Nhìn Mây Trắng Bay, Ðêm Xuôi Dòng Ký Ức, Giấc Ngủ Chưa Yên, Ðêm Hoang Liêu, Bình Minh Bóng Tối Ngàn Năm, Ðêm Hôn Mặt Trời, Ðêm Mưa Mùa Thao Thức... đến từ cõi mây trắng của Nguyên.

"chuyện buồn ngày xưa ngỡ đã quên
một lần ngồi nghe mưa nhắc tên" (dnmtb)

"em rong rêu xuôi dòng ký ức
đêm sông đưa ta vào thao thức" (dxdku)

"dĩ vãng mang tim rêu rong
sóng cuốn cơn đau ngược dòng" (dhltt)

"đời - một giòng sông em cuốn qua
vào nỗi buồn riêng ta với ta" (dnmtb)

Tôi nghiệm suy từ giấc ngủ đêm chính mình, tôi thấy Nguyên như đường dài trùng khơi theo hạt trắng gió của ký ức, của thời thơ ấu, của chốn cũ quê nhà, của xót xa tình yêu, của kỷ niệm thời gian, của những vòng cung nơi Trại cấm Chimawan, của suy tư thân phận, của dòng phù du cuộc đời...

"chỉ là một hôm nhắm mắt thấy ta quay về
với cội nguồn xưa trong giấc ngủ lãng quên thời gian" (gncy)

"đêm hư vô, và em trong giấc mơ về
đôi môi thơm nụ hôn thiên thu tái tê
vang trong tim lời yêu thương sẽ chưa lần nói
chuyện ngày xưa ngủ vùi trên cánh lá rơi
chuyện bây giờ - làn mây bay khuất xa tầm với
chuyện mai này mịt mù sương giăng cuối trời
.....
phố phường không em sỏi đá hắt hiu buồn
những hàng cây chơ vơ trong chiều gió cuốn
mãi còn trong nhau yêu thương hao gầy
mãi còn trong ta, em ơi, vơi đầy đắng cay" (dhl)


Tôi điệp khúc lời nhạc của Nguyên từ những hư tưởng của sóng điệu và dư âm vang của tâm tư. Sắc ngữ trong "Mây Trắng Bay" của Nguyên như là bản lập điệu có khai phá mới của một Thanh Tâm Tuyền thứ hai. Với tôi, Nguyên như là chiếc bóng soi bóng của một Mai Thảo hóa hình.

"hỡi ánh nắng vàng tắt !
ta đưa ta đến nơi nghìn năm với đất trời
rồi một lần hóa thân (cơn) mưa rơi trên căn phần phù sinh của thế nhân" (bmbtnn)

"ngủ yên đi hỡi ánh mặt trời để thôi đốt cháy tâm linh
và xin bóng tối trở về
một đêm ta bỗng hồi sinh" (dhmt)

Tôi mông lung trôi trên dòng nhạc của Nguyên, vọng nghe lần nữa và lần nữa những tiếng hát mây bay từ ký ức như gió trời đa dạng ráo riết chạy trên thảm mây. Nhạc của Nguyên, mạn lưới nhẹ vương của lời, vườn hoa đâm nở của ý, cùng ươm xiết con tàu rong đưa về tận cùng thi-nhạc-cõi, nơi ẩn hình đa thể của vùng suy tư miết, vẫn bay... vẫn họa thể... vẫn ray rứt đâm chiều... "khuya nao, hoài cảm ngây ngô mình, nghiệm ra, hồn nhiên đánh mất, từ suy tư về" (dnmtb).

"trên xác lá vàng rơi chiều nay
nghe năm tháng vụt xa tầm tay
chỉ một chiều ngồi yên trước sân
nhìn người về buồn vương bước chân
là một đời hồn nghe bão dâng" (dnmtb)


Nguyên với đam mê thao thức của cái gọi tư-duy-nghệ-thuật như cánh mây một màu đã đến nghìn lần từ vực trắng vô cùng, đã khẽ lời từ những bấn rung của cảm tính nửa khuya lạnh. Tôi bay theo làn điệu, lập thể đi tìm tôi trong tiềm thức qua lời nhạc phù sinh của Nguyên.

"đã có lần tôi bước chân linh hồn về mịt mù thơ ấu tôi biết có loài hoa nở ngát hương trên từng mộ phần của đớn đau" (bmbtnn)

"sẽ có lần tôi chốn xưa im ngồi cùng muộn phiền câm nín nghe ra những đường quen đã lúc đưa tôi vào cuộc vui chơi tử sinh" (bmbtnn)

Tôi thấy Nguyên như đang hôn mặt trời đêm trong vòng tay nhỏ "gối đầu lên hy vọng thì thầm trên mồ dĩ vãng" (ttt). Tôi thấy Nguyên trong hoang liêu thân phận, vẫn thao thức với giây đàn, vẫn miệt mài tô vẽ những họa hình cuồn cuộn đam mê cho tình yêu khi "biết tình yêu là cầu vòng hiện ra sau cơn mưa, dưới ánh trăng vào một mùa-đêm-thao thức" (dmmtt).

"đêm hoang liêu, tìm em trên phím dương cầm
ru đam mê vùi sâu cơn đau tháng năm" (dhl)

"khép khung trời thương nhớ lên môi
gieo cung trầm vào năm tháng trôi
đưa em vào phôi phai lãng quên một đời" (dhltt)

"đêm, có nhịp thời gian lắng im
ru đôi môi khô phai nét cười
đêm, có em trăng rằm ký ức
soi khuyết linh hồn ta, một trời đơn côi" (dmmtt)


Tiếng hát của Nguyên như đang sống bật từ nghiệt ngã thời gian trong tôi, từ đêm mưa nhắc tên dĩ vãng "em" quê hương, từ tiếng đàn đường tăng, từ loài hoa có linh hồn thứ hai... Tất cả hiu quạnh lạ trên cái nhìn mây trắng từ những đêm thật xinh, thật mơ, thật đau, thật thân quen trong tiềm thức của một người lưu vong - "khi mặt trời đã tắt, bàng hoàng nhớ mình đã sống nơi xứ người lâu hơn bên nhà. và bắt đầu yêu quê hương như yêu một người tình, đã lià xa... đã khuất... (dnmtb).

"nên ta xin yêu em
yêu bằng cõi lòng thiết tha
nên ta xin yêu em
yêu bằng một đời xót xa
nên ta muốn yêu em
như cơn gió yêu mây
xin yêu em ngày mai
hơn yêu em ngày nay
em, giờ đây đã hết rồi, đời chỉ có riêng tôi
em, giờ em đã xa rồi, sao (sao) mưa vẫn còn rơi
ôi, nồng ấm đã phai rồi, chớ để lệ hoen ướt mi
ôi, yêu thương đã hết rồi, ta chỉ còn lời phân ly" (kmtdt)

Qua những dạt dào du dương cung điệu, tôi thấy Nguyên với đêm trong lòng vừa chợt sáng, như đã có lần bị phủ đắp sau màn suy tư với những con tàu dĩ vãng, mà chính Nguyên đã lặng hiu để tìm về chính mình trên vùng vũ trụ trắng. Tiếng hát Nguyên đã đan kết từng biên giới suy tưởng, từ đêm trước cho hôm nay và ngày mai, từ ánh màu và mây thể thiên nhiên, miên man đơn dệt cho trọn cùng giấc ngủ chưa yên. Tất cả và tất cả... trong Nguyên mãi thao thức từ những khúc suy tư gầy vụn khi "chọn ngồi trong bóng đêm để ngợi ca mặt trời rực rỡ tim mình, vì nhận chân cái chết và tình yêu là hai điều tuyệt đối sau cùng. một, tuyệt đối thuộc về mình. một, tuyệt đối không thuộc về mình, khi mình tuyệt đối thuộc về một người khác" (dhl).

"những giòng sông trôi xa cội nguồn
những vòng tay cô đơn niềm mong muốn
có còn không em, cơn mưa linh hồn
có còn không em trong tim một vết thương" (dhl)

"đêm, có dòng sông trong mắt em
trôi, đưa ta rong rêu tháng ngày
đêm, có cơn mưa mùa thao thức
làm từng giọt buồn rơi lên ngón tay
.....
đêm, có nhịp thời gian lắng im
ru đôi môi khô phai nét cười
đêm, có em trăng rằm ký ức
soi khuyết linh hồn ta, một trời đơn côi" (dmmtt)

Từ tiếng hát của Nguyên, đã cuốn hút tim tôi da diết một lời ru từ quê nhà, ngọt hoang vu, ngan ngát một quê hương miền xa khơi, thật chung, thật riêng, trong mỗi người con xa xứ - "em hỏi tôi về quê hương. tôi sẽ chia cùng em những điều không nói gói kín trong tim, những đêm dài giấc ngủ chưa yên, và những bước chân chập chững cho khoảng cách thêm gần, giữa hai bờ đại dương" (gncy). Lời Nguyên thiết tha gởi đến những ai còn đó để cảm giao, để nhớ về những người mẹ già từ trùng khơi biển vắng. Những chiếc tàu ký ức trong "Ðêm Nhìn Mây Trắng Bay" đưa tôi tìm về nguồn cũ, cơn thao thức để vươn tới từ kiếp xưa ( mà với Nguyên, quê hương tuổi trẻ như một tình nhân) để truy tìm từ tiềm thức nơi có tiếng ru thật dịu và ngàn âm man mác trong đời.

"có đêm ta nằm miên man trong giấc ngủ
thấy ta quay về chốn cũ, chân bước vô tư
nầy là đường xưa, phố xá hoang vắng xa lạ
ta tìm về đây, hay trong giấc ngủ ta đã mơ
.....
có đêm ta nằm hoang mang sau giấc ngủ
bỗng nghe trong mình sao vẫn có những ưu tư
nhiều lần thèm nghe câu hát ca dao thuở nào
lời mẹ hiền ru cho ta giấc ngủ trong bình yên" (gncy)

Trôi cùng giòng nhạc thao thức chảy, tôi theo tiếng hát Nguyên để thấy trên cái nhìn về mây trắng, từ giấc mộng chưa yên, từ cội nguồn thật hiền thật sâu và thật đau ở người nghệ sĩ đa cảm như Nguyên. Và tôi say hoang với những đan tay nhạc điệu trong giấc chiều rong đưa về dĩ vãng của Nguyên trong những ngày dạy các em bé hát ca trong các lớp học ở Trại cấm Chimawan - "những tiếng cười pha lê, những giọng hát thiên thần đã mang tôi xuôi dòng ký ức măng non, xóa nhòa hàng rào đêm đen của kiếp người lưu vong, dẫu có là khoảnh khắc" (dxdku).

"em rong rêu xuôi giòng ký ức
đêm sông đưa ta vào thao thức
dù cuộc đời là niềm băng giá
yêu nhau cho nắng chan hòa tim ta
sẽ có lúc bỗng thấy nỗi đắng cay dâng tràn
sẽ có lúc chới với giữa gió mây hợp tan
sẽ có lúc bỗng thấy giấc mơ ta nhỏ bé
sẽ có lúc bão tố vẫn không nơi chở che
hãy bước đến, bước đến, bước đến bên nhau thật gần
sẽ thấy những nắng ấm với yêu thương tràn dâng
hãy cúi xuống để thấy chung quanh ta nhỏ bé
hãy cúi xuống để thấy ước mơ vụt lên cao" (dxdku)


Tiếng nhạc của Nguyên quyện xiết trong lòng khi tôi chỉ biết có tôi và nhạc. Giòng ưu tư miên miết chảy, trôi mang mênh đưa tôi vào một cõi ngời của Nguyên. Tôi thấy, trong vòng trắng của Nguyên, mây không ngừng tạo hình phù dung đa thể, hạt một màu như sương. Tôi thấy tôi trở về từ tiềm thức, của hồn, của thơ, của nhạc, gõ cửa mời chính mình từ những ray-rứt-rưng-rưng-đồng-điệu. Giòng mây trắng hôm nay của Nguyên sẽ hóa hình làm làn mây trắng ngày mai của Một-sự-chung-kết-trở-về cùng thiên nhiên. Và có nhẽ ở đó, mây trắng ước mơ của Nguyên sẽ là một cõi thật dịu lãng, thật bình yên. Cái bình yên của Nguyên rất giản đơn, không thời gian, không ưu phiền, phiêu lãng như mây như gió với chỉ một màu trắng loé thiên thu...

"đôi khi thức giấc, ngơ ngác xem chung quanh mình
sao ta vẫn thấy bóng tối vây quanh vô tình
đôi khi ta muốn ta trở về với thiên nhiên
cho những đêm dài vỗ về giấc ngủ chưa yên
.....
chỉ là một hôm nhắm mắt thấy ta quay về
ta về tìm ta trong giấc ngủ lãng quên thời gian" (gncy)



Trường Ðinh

*Bạn đọc co hể ghé xem trang giới thiệu CD Ðêm nhìn mây trắng bay tại:
http://www.vanhocnghethuat.org/NPN/Dem.htm

 

 


Cirque du Soleil
(điểm tin văn hóa nghệ thuật)


Lê Vũ Thúy Ái


Saltimbanques,

Sau buổi trình diễn (1984 ) do chính phủ bảo trợ mừng 450 năm Jacques Cartier đặt chân đến Canada, tôi vẫn theo dõi và luôn vui lúc nhận tin các bạn .

Từ đêm biểu diễn với 800 chỗ ngồi ở tỉnh nhỏ Gaspé (Quebec) Saltimbanques đã tự hoạch định chuyến phiêu lưu kỳ thú . Xuyên suốt 8 tỉnh trong nước trọn hai năm . Ðoàn dặc biệt dừng chân ở Vancouver nhân tuần hội triễn lãm . Hí trường đầy chật . Bãi đậu xe khoe rõ lượng bảng số Bắc Mỹ đổ về từ khắp nơi Quebec, Ontario, Alberta, California, Seattle, Chicago ... năm 1986, lần đầu tiên Cirque du Soleil nhận giải nghệ thuật quốc tế -- Ðài vòng mặt trời rực rỡ qúa !

Suốt 3 năm Saltimbanques viếng nước láng giềng Hoa Kỳ và lưu trình Châu Âu, tôi đã cố giữ liên lạc với các bạn qua trung gian thông tín . Vui chào buổi ra mắt Alegría và khi trở lại Dallas (Texas ) đoàn thật xứng vòng Quidam . Nỗ lực không ngừng, các bạn lập sàn "O" tại Bellagio Las Vegas . Cùng năm, Orlando (Florida) được chọn diễn tập La Nouba .
Nói đến Cirque du Soleil là nói đến kỷ lục và đặc thù khai thông nhạc thuật hoàn vũ -- Saltimbanques đạt độ chính xác từ nguyên tắc khổ luyện, kỷ luật, sự tinh xảo, cùng sức sáng tạo trong thuật đu dây, duyệt lẫn múa dẻo, dụng cụ và thẩm mỹ, không quên mươi phút biếm hài . Phép nhạc ghi - cách âm lại do các tài danh Andrew Lloyd Webber, Michael Flatley : Lord of the Dance, và có cả Tina Turner chuyên tâm chăm sóc -- Saltimbanques thật hào hoa !

15 năm sau, Saltimbanques đã đưa "Journey of Man/Passages" mừng thiên niên kỷ cùng chúng tôi . Một kết hợp hài hòa giữa "Mystère" và "O" qua những thước liệu IMAX . Chất liệu dàn dựng xoay quanh 4 nguyên tố nước, đất, không khí và lửa . Công phu, thoát mạch !
Mai này có dịp tôi sẽ trao đổi chi tiết hơn về [... " Cuộc hành trình nhân loại " . Phôi thai theo tiếng trống Taiko dồn dập, nhịp đập nên sự sống ; tiếp ý 3 chiếc chìa khoá ; kết thúc với cách người đàn ông quăng cao chiếc mũ lên không ... ] Saltimbanques nhé .

Biết Cirque du Soleil gắn liền với các giải thưởng quốc tế: Emmy, Drama Desk, Bambi and ACE awards, Gemeaux and Felix trophies, Rose d'Or de Montreux, de Monte Carlo, de Demain (France), de Vérone (Italy), de Gênes (Italy), và the Wuhan International Acrobatic Art Festival (China) .
Thán phục tài nghệ , tôi dò hiểu những nhân vật quan trọng , cật lực, chỉ ra mặt trong các buổi sơ, phúc khảo . Khởi, Reed Smoot giải đạo diễn nhiếp ảnh phim tài liệu Bí mật Kim Tự Tháp (National Geographic - Mysteries of Egypt), Frank Marshall người chịu trách nhiệm quay bộ phim tư liệu Nagano Winter Olympics . Chỉ đạo múa, Debra Brown và Sylvie Fréchette từng đoạt huy chương vàng thế vận hội . Nhạc soạn, hợp bởi René Dupéré và Enoit Jutras với hai giải nhất từ nhạc viện Montréal, giải danh dự trong Hội nhạc Quốc tế Monte Carlo 1996 ... Tất cả đã cùng Saltimbanques qua 4 lục địa với 9 chương trình tầm vóc : Alegría ,The Baroque Odyssey, Quidam, Nouvelle Expérience, Mystère, "O", Saltimbanco , La Nouba, Dralion .

" Dralion ", phép ẩn dụ nên từ ghép của Dragon và Lion -- Nhằm giải định thú vui sống ở đời đầy những bất ngờ ? hay câu chuyện thời gian giửa qúa khứ - tương lai ?
Dralion đã như ngòi pháo nổ dòn khi kết hợp xiếc Trung hoa truyền thống và mạch nước ngầm chợt vở của nhạc - thuật đu dây hiện đại . Lần đó, CBC phát rằng tiếng vỗ tay tán thưởng Cirque du Soileil đủ làm rúng động một góc tường Bắc Kinh . Tuyệt điệu !

Nhớ một chiều oi bức và đêm bừng sống của 1989, Saltimbanques đặc biệt trình diễn Saltimbanco ở Ottawa , cái nôi chính trị của Canada trước khi dựng lều tận Châu Á- Thái Bình Dương . Từ ấy, tôi không quên được các bạn .

Trổi đầu KUMBALAWÉ, lắng tiếng AMAZONIA :

" Il y a dans la ville des hommes, des femmes et des enfants. Il y a dans la ville celui qui a beaucoup. Celui qui n'a rien: celui qui s'arrange, celui qui dérange . Il y a dans la ville celui qui a des yeux et qui ne voit pas, des oreilles mais qui n'entend pas.

Dans la ville il y a les laissés pour compte et les héros de la mémerde quotidienne . Il y a dans la ville toute cette faune qui, du clochard à l'artiste peintre, en passant par l'amuseur public, enchante notre monde en voie de désenchantement .

Et puis, il y a dans la ville les SALTIMBANQUES... EN PISTE ! "

[Trong thành phố của các nam, nữ và trẻ em. Thành phố có kẻ ấp đầy . Kẻ trắng tay : Kẻ mặc lòng, kẻ âu lo . Thành phố đầy những mắt nhắm, tai ngơ .

Trong thành phố có dân vô thừa nhận, và những anh hùng của từng ngày thử thách .
Thành phố hội loạn từ lũ vô công rỗi nghề đến thợ vẽ , cùng kẻ diễn trò trước công chúng, mê hoặc thế giới của chúng mình qua cách tan ảo tưởng .

Và rồi, trong thành phố NHỮNG TAY NHÀO LỘN .... NHẬP VŨ ÐÀI ! ]

Men nghệ thuật thấm dần . Tôi choáng thiếp . Nền nhạc POKINOI và lL SOGNO DI VOLARE như chiếc gạch đỏ dưới dòng nhận định của MINOGUE " Politics is a theater of illusion " . Chập chờn bóng các bạn xoay vòng, bay nhảy, thả lỏng theo nhịp cầu dây, những cánh tay đan quyện trên không , trong sàn nước . Òa vỡ những tràng pháo tay không dứt .
Choàng mắt, RIDEAU chậm lắng, dặt dìu -- Màn hạ .

Hào quang tỏa sáng trên những khuôn mặt đang cuối chào khán giả vướng vất dáng hề của các chính trị gia đang gío chiều nào theo chiều ấy (acrobat) . HORÉRÉ UKUNDÉ !

Saltimbanques tuyệt vời giữa đài vòng ta lại hẹn tin nhau .

Trân trọng

Lê Vũ Thúy Ái, Canada
2001


 

NGẪU HỨNG VỀ PHÂN TÂM HỌC

Nguyễn Ðức Tùng

 

Tương thức

Chúng ta thường cảm nhận bằng suy nghĩ. Việc gì xảy ra nếu chúng ta suy nghĩ bằng cảm nhận? Hạnh phúc là cảm nhận. Nếu có người hỏi: anh sống thế nào, anh trả lời ra sao? Anh thay đổi khổ đau hạnh phúc bằng cách thay đổi cảm giác cuả anh, hay đổi thay suy nghĩ?

Anh sống trong một thế giới đầy màu sắc. Nhiều động vật chỉ biết có hai màu đen trắng. Cảm thức của chúng về đường nét ra sao? Anh nhìn bằng mắt, và thông tin được tiếp nhận ở não. Mất đi cặp mắt, anh có thấy bằng cách khác không? Anh trò chuyện với một người bạn, đằng sau là tiếng nhạc từ máy thu thanh vẳng ra. Lời đối thoại là hình ( figure), tiếng nhạc là nền hay cảnh( ground). Bỗng một giai điệu trỗi lên, giai điệu cuả một bài hát anh từng yêu thích, đã lâu chưa được nghe lại. Trong phút chốc, tiếng nhạc kia là hình tượng, lời cuả bạn chỉ còn là cảnh .

Nhiều người đã thấy qua bức hình lọ hoa và nhớ mãi: thoạt nhìn, anh thấy một lọ hoa trắng trên nền đen. Thoắt một cái, anh lại thấy hai gương mặt nhìn nhau, cắt trên một nền trắng. Sự thật ở đâu?

Ðọc một bài thơ: bài thơ là hình tượng, tâm hồn nhà thơ là nền cảnh. Thoáng một cái, tâm hồn trỗi lên giai điệu, trở thành hình, bài thơ chìm lắng vào hợp âm, trở thành cảnh.

Chúng ta tìm cách nhìn lại thế giới. Hi vọng bằng cách đó, chữa lành những vết thương. Vết thương nào? Cầu nguyện, tin tưởng vào Thượng đế, thú tội và tha thứ cho người khác, tham thiền vân vân là những phương cách khác nhau. Phương cách cuả thơ đâu?

Thơ vượt lên trên chỉ là một hình thức nghệ thuật. Mở mắt nhìn và nhắm mắt thấy. Thơ đổi hình ra cảnh và đổi cảnh ra hình.Thơ nối tay vào quá khứ để biến nó thành quá khứ của quá khứ. Vì ngày mai chỉ được sống trọn vẹn khi quá khứ đã hoàn tất.

Thơ là tiếng nói cuả một đứa trẻ. Tiếng nói bên ngoài mà ta đã học từ lúc bập bẹ cho đến tuổi lớn khôn, trò chuyện, diẽn thuyết, là một ngôn ngữ đổi thay. Nhưng có một tiếng nói khác, bên trong, phi thời gian, xuất hiện một lần và vĩnh viễn ở lại trong ta. Tiếng nói bí mật ấy là con đường độc đạo đưa ta vào đời.

Khi nhân cách và bản ngã cuả một người bị bẻ gãy, dưới những chấn thương tinh thần, kẻ người lớn kia gục ngã, và đứa trẻ trong lòng anh bước ra, nói tiếng nói nguyên thủy cuả mình, không ai hiểu. Tiếng nói ấy giàu nhạc điệu và hình ảnh.

Hãy tưỏng tượng cách khác: anh đi tới một hành tinh lạ, ở đó những 'người'trên hành tinh dùng một ngôn ngữ khác.

Anh hỏi: ' cho tôi xin một cốc nước'

Và được trả lời: ' bạn bước qua đám mây'

Ðám mây nào? Bước ra sao? Ðám mây trong vũng nước chăng?

Ðôi khi sự thật được tìm thấy, như thế, trong một cuộc chuyện trò dưới tàn cây, đi bên cạnh một người bạn. Khi ở cuối bià rừng kia, trước lúc chia tay, một cơn mưa muà hạ tới.

Nguyễn Ðức Tùng
tungducnguyen@sprint.ca

 


 

Thư Gửi Một Nhà Thơ Trẻ
Rainer Maria Rilke

'Rainer Maria Rilke (4.12.1875 - 29.12.1926), nhà thơ Áo, là một trong những nhà thơ hàng đầu của thế kỷ XX. Ông đi khắp Châu Âu (từng là thư ký của điêu khắc gia Auguste Rodin) và Bắc Phi, vừa sống giữa những tên tuổi lớn đương thời vừa ẩn dật, sớm nổi tiếng, sớm qua đời, để lại một cuốn tiểu thuyết duy nhất 'Những Ghi Chép Của Malte Laurids Brigge', gần hai chục tập thơ và khoảng 10,000 bức thư. Mười bức thư gửi Franz Xaver Kappus trong tập này được công bố vài năm sau khi Rilke qua đời, và từ đó đến nay không ngừng được tái bản và dịch ra hầu hết mọi ngôn ngữ trên toàn thế giới.'

Phạm Thị Hoài dịch
(ianbui giới thiệu)

----

Rome, ngày 29 tháng mười 1903

Ông thân kính,

Tôi nhận được bức thư đề ngày 29 tháng tám của ông ở Florenz, và mãi hôm nay - hai tháng sau - mới trả lời ông được. Mong ông thứ lỗi cho sự chậm trễ này, - nhưng tôi không ưa viết thư dọc đường, vì viết một lá thư đâu chỉ cần dụng cụ tối thiểu, tôi cần nhiều hơn thế: một chút yên tĩnh và cô đơn, và một khoảnh khắc không quá xa lạ.

Chúng tôi đến Rome khoảng sáu tuần trước, vào lúc thành Rome còn vắng vẻ, nóng bức, phát sốt, và thêm vào đó là những khó khăn thực tế trong sinh hoạt, khiến chúng tôi mãi không được yên ổn và chốn tha phương với nỗi thiếu quê hương đè nặng trĩu.

Ngoài ra phải kể thêm là Rome (nếu ta chưa quen) những ngày đầu buồn ngột ngạt: cái không khí bảo tàng u ám và kém sinh động mà thành phố này thở ra, đống dĩ vãng (nuôi sống một hiện tại nhỏ nhoi) mà nó moi ra và gắng gượng bảo tồn, rồi mấy thứ đã biến dạng và hư hỏng đó lại được nống lên vô tận bởi những học giả và các nhà ngữ học trợ lực cùng đám du lịch thường lệ hùa theo, mấy thứ đó chẳng qua là tồn đọng ngẫu nhiên của một thời và cúa một sự sống không phải là không nên là và sự sống của chúng ta. Cuối cùng, sau mấy tuần liên tục kháng cự, tuy còn lúng túng đôi chút, ta lại thấy ta tìm về chính mình, và tự nhủ: Không, nơi đây chẳng nhiều cái đẹp hơn nơi nào, và hết thảy những thứ đã qua bao tay thêm nếm và cải biên mà các thế hệ đều mãi ngưỡng mộ kia, chúng chẳng nghiã lý gì hết, chẳng là gì hết, chúng vô hồn và vô giá trị; - nhưng nơi đây nhiều cái đẹp, bởi lẽ mọi nơi đều nhiều cái đẹp. Những dòng nước vô cùng sống động túa qua máng cổ vào thành lớn, nhảy múa nơi những vòi phun bằng đá trắng trên bao nhiêu quảng trường và tỏa vào những bể chứa rộng thênh thang, chúng rào rạt ban ngày và rào rạt lúc đêm về, đêm ở đây mênh mông, đầy sao và mịn mềm trong gió. Và những khu vườn, những đại lộ không thể nào quên, và những bậc thang theo ý tưởng của Michelangelo, những bậc thang xây theo mẫu nước chảy xuôi, - dòng đổ rộng rãi và mỗi bậc lại sinh ra một bậc như mỗi lớp sóng sinh ra từ một lớp sóng. Ta thu nhặt bản thân qua những ấn tượng ấy, hồi lại chính mình từ đống ngồn ngộn đầy đòi hỏi đang nói năng và múa mép kia (ôi nó lắm mồm làm sao!), và học dần cách nhận ra những điều rất ít ỏi chứa đựng sự vĩnh cửu mà ta yêu và sự cô đơn mà ta có thể khẽ khàng tham dự.

Hiện tại tôi vẫn ở trong thành, trên đồi Kapitol, cách tác phẩm của Marc Aurel không xa, bức tượng kỵ sĩ đẹp nhất còn lại của nghệ thuật La Mã; nhưng vài tuần nữa tôi sẽ dọn đến một chỗ yên tĩnh và thanh đạm, một căn lầu gió cổ, khuất sâu trong một công viên, xa lánh chốn phố phường cùng những ồn ào và ngẫu nhiên của nó.

Tôi sẽ ở đó suốt mùa đông, vui với sự yên tĩnh lớn lao và chờ nó ban cho những giờ tốt lành và cần mẫn... Tôi sẽ viết dài hơn cho ông và sẽ nói về bức thư của ông khi đến đó, là nơi tôi được thoải mái như ở nhà mình hơn. Hôm nay việc của tôi (lẽ ra tôi nên làm sớm hơn mới phải) chỉ là báo lại cho ông rằng cuốn sách ông nhắc đến trong thư (có đăng những tác phẩm của ông) đã không đến tay tôi. Nó có quay về chỗ ông không, có thể là từ Worpswede chăng? (Vì: bưu kiện không được phép chuyển tiếp ra nước ngoài). Có lẽ đấy là trường hợp khả dĩ nhất và tôi rất mong là như vậy. Hy vọng nó đã không thất lạc - đáng tiếc đấy không phải là trường hợp ngoại lệ trong tình trạng bưu điện ở Ý.

Nếu không, chắc chắn tôi đã vui lòng đón nhận cuốn sách đó (như tất cả những gì mang dấu hiệu của ông); và tôi sẽ luôn đọc, đọc lại và sống cùng những dòng thơ mới của ông (nếu được ông tin cậy) với tất cả khả năng và nhiệt tình. Chào ông và chúc ông mọi điều.

Rainer Maria Rilke

Phạm Thị Hoài dịch
(ianbui giới thiệu)



 

biển đầm

mai ninh


Cánh cổng sắt sáng nay kêu rít và nặng nề hơn dưới làn mưa bụi ẩm. Tôi chưa kịp bước ra lề đường có tiếng gọi giật sau lưng: - Mai anh về? Ngập ngừng vài giây tôi mới quay lại. Hà còn áo ngủ trắng đứng dưới vòm cửa cong, những chậu cây thả lá xanh và tím trên mái tóc cô gội ướt. ánh đèn vàng dịu ấm cúng sáng từ hành lang sau lưng. Câu hỏi của Hà vẫn là câu thường lệ nhưng dường như lần này cô thực sự đợi tôi trả lời. Ðôi mắt tròn càng to, xoáy hỏi. Không, tôi nhiều tưởng tượng quá thôi. Hà vẫn như mọi ngày, người đàn bà của mọi ngày, đâu gì khác. Tôi đáp: - ừ, ngày mai. Vừa vội vàng xoay người khép cánh cổng, trong đầu tôi chập chờn: - Có thể. Khi cho chiếc chìa khoá mở cửa xe đậu bên lề, tôi lại nghe mình tự hỏi: - Ngày mai... hay bao giờ? Những tụm lá ngô đồng vàng úa đang cuộn vần trên con đường còn vắng. Tôi nhấn mạnh ga, chiếc xe phóng đi, lao theo đám lá bốc bay tan tác và cánh áo nàng vẫy gọi. Bóng lụa tím chợt ẩn chợt hiện giữa hàng cây trơ cành trong bầu trời chưa kịp sáng.
Không khí hầm rượu không nóng lắm nhưng ẩm. Những lúc tiếng nhạc chợt im bặt, ngồi sát tường tôi chừng nghe ra nước vỗ phía ngoài, đập vào nền đá hoa dựng trên những trụ gỗ thông đóng cọc dưới nước cả mấy trăm năm. Quầy rượu nằm sâu trong góc, dưới một vòng cung tuôn nhung thẫm từ trần, gắn đầy mặt nạ đủ hình thù, có cái trắng tinh, tròn xoe với cặp mắt ngây thơ nhỏ những giọt lệ, có cái ủng đen trợn trừng quỷ quyệt dưới một mớ khăn bóng xanh rờn chen màu đỏ máu. Mặt nạ thầy thuốc khoằm mỏ, đeo kính tròn ngoài hai hốc mắt treo gần một khuôn mặt công nương tuyệt vời với mái tóc tủa cao những lông chim ngũ sắc đầy kim tuyến óng ánh. Hôm tôi mới đến, thằng bạn đã dặn, ít nhất mày phải tới quán rượu ấy một lần trước khi rời Venise. Hắn chỉ nheo mắt không nói rõ điều gì. Ðã chín giờ tối, quán vẫn vắng. Ba gã thanh niên ý đang chơi bài nhưng không ồn ào lắm. ở quầy, hai người đàn ông Ðức to con tán tỉnh cô gái rót rượu, giọng tiếng Anh rồ rồ cứng đục. Cô gái ra ngồi trước quầy, vắt vẻo trên chiếc ghế đẩu cao, son phấn rực màu, quần sọt ngắn tận bờ mông tròn trĩnh, thỉnh thoảng hấc tiếng cười hăng hắc.
Ðã cạn hai ly scotch, hút dăm điếu thuốc, vẫn thấy ngoài cái quầy quyến rũ vẻ ma quái kia chẳng có gì lạ, tôi thất vọng định đứng dậy đi ra. Bỗng tiếng người ồn ào và cánh cửa mở tung. Một toán người y phục hoá trang cười đùa xô đẩy bước vào. Không khí đột nhiên bùng lên với mùi rượu nồng, tiếng nhạc và giọng hô lê rộn rã, cùng tiếng vải vóc chạm nhau sột soạt. Ða số đều đeo mặt nạ, tôi chợt nhớ ra gần đến ngày hội giả trang nổi tiếng nhất của thành phố lênh đênh sông nước này. Ba gã thanh niên đã dẹp bàn bài, bấy giờ tôi mới để ý đến tên trẻ nhất, độ hơn hai mươi với khuôn mặt nhọn và cặp mắt đen dữ dằn dưới vòng chân mày bừa bãi. Hắn cầm ly rượu lắc người theo điệu nhạc, bất ngờ đứng lại, nhìn sững ra cửa vào, đẩy một tiếng kêu khàn. Hai người đàn bà vừa bước qua ngưỡng cửa. Một người áo vàng viền xanh lộng lẫy, mặt nạ trắng mịn màng với hai vòng mắt tô xám xếch tới mang tai, mũ đen cao rộng vành, điểm những ngôi sao rực vàng vương giả.
Tôi ngẩn người khi nhận ra nàng, thiếu phụ đã cùng đến Venise, trên chuyến tàu đêm hai hôm trước. Nàng chỉ quàng chiếc áo choàng tím, một thứ lụa thật óng ả dưới sắc đèn. Nàng không che mặt, mái tóc ánh nâu cột lại bằng một vòng hoa trắng. Người đàn bà áo vàng đứng dừng một phút dường để mọi người có thời gian chú ý đến sự xuất hiện của mình. Một vài tiếng trầm trồ huýt sáo nổi lên. Sau vành miệng hở cong yểu điệu của mặt nạ, lộ hai ba chiếc răng trắng sáng. Người đàn bà chầm chậm lướt vào. Tôi đứng gần nghe mấy chuỗi hạt pha lê lóng lánh màu, treo lỏng từ vành mũ trái sang phải chạm vào nhau theo từng bước đi, vang những tiếng reo lanh canh trong trẻo. Thiếu phụ đường bệ bao nhiêu thì nàng càng dáng vẻ ngỡ ngàng khép nép, tay bám vào cánh áo bà ấy. Một gã đàn ông đi giầy ủng đóng đầy đinh bạc, giả trang trong y phục toàn đen ràng thắt lưng to bản, mặt nạ dơi choắt cheo, bộ tịch nghiêng người hôn tay thiếu phụ. Bà bật tiếng cười khanh khách, quay sang vỗ nhẹ lên tay nàng như để giới thiệu với mọi người. Nàng e dè đảo mắt chung quanh, thoáng ánh ngạc nhiên khi thấy tôi đứng dựa bờ tường. Tôi đã định ra về, tự nhiên ngồi trở lại nhìn theo hai người đàn bà ấy đi về quầy rượu. Thỉnh thoảng thấp thoáng bóng lụa vàng lấp lánh và giọng cười thiếu phụ vang vang đùa cợt. Không khí trong hầm càng lúc càng nóng hơn, nhiều người bắt đầu cởi bỏ mặt nạ. Những mái tóc, khuôn mặt thật đàn bà trang điểm rực rỡ chuyển động kỳ ảo lẫn lộn trong ánh đèn mộng mị, dưới những mặt nạ chờn vờn trên tấm màn nhung đỏ. Trong men các ly rượu kế tiếp tôi dễ dàng nhập cuộc, kề cận với những gương mặt ấy. Cọ sát vải lụa, da thịt, rộn ràng giữa tiếng nhạc lúc bùng bùng dồn dập, lúc mơn trớn mê muội. Tất cả đặc quện trong khói thuốc cuộn tròn dưới vòm trần đá.
Khi tôi đến gần quầy rượu thì cùng lúc ấy gã thanh niên chơi bài ngả nghiêng bước tới trước nàng. Gã ngoẹo đầu cười cợt, ô, bella mia, người đẹp của tôi! Một tay vờn lên vuốt đuôi tóc nhỏ. Nàng lùi giật lại, vòng hoa trắng buộc lơi trên tóc tuột theo những ngón tay dài nhọn của gã thanh niên. Hắn giơ lên khoái chí, kêu oác như quạ. Tôi và thiếu phụ cùng vội vàng bước đến. Gã ta xô đẩy tôi, la lối nhưng rồi cũng dang ra, tung vòng hoa lên trần và chụp hứng. Nàng nói nhỏ bằng tiếng Pháp với thiếu phụ, Je m'en vais, tôi về đây. Tự nhiên tôi nhìn vào hai vùng mắt xám, con ngươi trong xanh của người đàn bà áo vàng đằng sau rọi thẳng lại, tia nhìn nửa dò xét nửa giễu cợt. Nhưng bà ta không tỏ ý ngăn cản khi tôi cùng nàng ra cửa, còn ngoái trông theo.
Bến Rialto cả ngày tấp nập tưng bừng như thế, nhưng giữa mùa đông nên gần nửa đêm đã chìm vào im lặng. Một vài quán ăn còn lấp lánh ánh đèn trong lớp sương trắng dâng lên từ con kinh lớn. Chẳng mấy chốc tựa như khói lan lấn vào bờ, liếm phủ các mặt nhà cổ kính và luồn xuống những cây cầu gạch nhỏ. Chiếc vaporetto cuối cùng còn đậu ở bến, thoáng thấy bóng người, lái thuyền lên tiếng gọi. Bấy giờ tôi mới hỏi: - Cô ở đâu? Nàng đáp: -Khu nhà hát Fenice. Rồi ngập ngừng: - Nếu không phiền, anh đưa tôi về đến đó được chăng?
Tôi vội vàng:
- Ðược chứ, nhưng cần đi thuyền không?
- Chẳng xa đâu, chúng mình có thể đi bộ, thèm không khí quá.
Hai chữ chúng mình trong giọng nàng thân mật lạ, tôi lâng lâng nghĩ, nhà hát Fenice không biết ở đâu, lạy trời nó rất xa, tuốt bên kia cái thành phố bỗng dưng lúc này trở thành cỏn con. Tôi sẵn sàng đi theo tà áo tím mềm mại, trải thật nhiều con đường, qua trăm cây cầu chạm trổ muôn hình vạn vẻ, băng ngang những con lạch chi chít mà dòng nước chỉ còn là một giải thạch đẫm tối trong đêm. Chúng tôi bước đều bên nhau, tiếng gót giầy khẽ vang trên những viên gạch lồi lõm cũ mòn. Thỉnh thoảng vài ba người trờ ra từ hiệu ăn hay quán bar nhỏ. Giọng cười nói rúc rích, chừng như không thể thoát cao vì bị giam lại giữa tường đá dinh thự hay những ngôi nhà viền hai bên con đường quanh co quá hẹp. Càng xa bờ kinh lớn, sương lãng đãng hơn, lửng lơ trên mái ngói và những ngọn cây trong công trường nhỏ. Tới gần khu San Fantin chợt có tiếng phong cầm nổi lên từ lạch nước lọt giữa hai dãy nhà màu tường vàng viền những ô cửa xám. Nàng vội bước lên chiếc cầu gần đấy, gã chèo gondole ngẩng lên cười vẫy tay, cất ngay lời ca tình tứ. Chiếc thuyền lướt qua dưới cầu rồi xa dần cùng giọng hát tan biến vào bóng tối bên kia con lạch hẹp lại dần. Nàụng tựa vào những thanh sắt uốn cong của thành cầu, kéo vòng mảnh voan trắng quấn quanh cổ. Yên lặng từ nãy đến nay, bỗng nhiên nói:
- Anh du lịch một mình.
Tôi lắc đầu:
- Không, tôi đến làm việc vài ngày.
rồi tiếp:
- Venise chừng quen thuộc lắm với cô.
Nàng nói nhỏ, như chỉ cho mình:
- Vâng, tựa một gắn bó.
Tôi ngắm dáng nàng mềm cúi nghiêng dòng nước:
- Cô thường đến đây mùa đông?
Nàng mỉm nụ cười mông lung nhưng đáp thật gọn, không dính dáng gì tới câu hỏi:
- Thăm Mélisa.
- ồ, Mélisa, người đàn bà áo vàng.
Nàng chớp mắt xác định. Dưới ánh đèn lồng chiếu xuống từ hai đầu cầu, bây giờ tôi mới nhìn kỹ gương mặt đường nét dịu dàng nhưng hơi gầy, dù chiếc cằm lộ chút gì cương nghị, miệng khi cười lại thoáng trẻ thơ. ...n tượng nhất là nước da trắng xanh làm nổi bật trũng mắt đen sâu với hai đồng tử long lanh. Thật ra tôi đã xao động bởi cặp mắt này từ lúc đứng với Hà trên sân ga tối ấy. Hà líu lo dặn dò, vẫn những lời trăm lần như một khi tôi đi công tác xa, rồi kiễng chân choàng tay qua cổ. Tôi cúi hôn Hà từ giã nhưng mắt bỗng chạm phải ánh nhìn vừa lướt qua của nàng, người đàn bà mảnh mai trong chiếc áo dạ đen với mái tóc cài cao quá gáy còn lóng lánh những bụi mưa vừa đi tới. Tôi đẩy Hà ra về khi tiếng chuông báo hiệu tàu sắp chạy. Hà quay bước còn ngoảnh lại dặn với: - Nhớ chọn cái mặt nạ thật nhiều màu cho em. Leo lên bực thang tàu tôi vừa gật đầu: - Yên tâm, Signora, vừa đảo mắt tìm, nhưng chiếc áo dạ đen đã biến đi vào một toa nào đó.
Không ngờ, giữa không gian hư ảo sương mù nửa đêm, trên cõi sông nước, đá cổ mơ hồ này tôi lại đứng bên nàng, thật gần, cơ hồ chạm cả vào vuông khăn trắng cứ chực bay theo làn gió nổi đưa từ biển. Tôi định nói một câu gì thật nhẹ, lại thôi. Nàng lặng yên, quay người xuống cầu, tà áo lụa cuốn theo bước chân thoăn thoắt. Thoáng chốc bóng tím như bin như hiện chấp chới giữa các ngõ ngách đường đi lẩn khuất. Tôi có thể đi nhanh để bắt kịp nàng nhưng tôâi chậm lại, bỗng thấy nàng như con bướm đêm trở về giữa gạch đá ẩm đục của biển đầm để tìm một nhụy hoa đã mất. Cuối cùng nàng cũng dừng lại trước một khung cổng nhỏ, sau đó là khoảng sân vuông mù mờ dưới ánh đèn treo. Thấp thoáng bên trái có chiếc cầu thang cong lượn lên một hành lang nhìn xuống sân qua hàng cột tròn thẳng tắp. Nàng nghiêng người, tóc đã ướt sương, chìa tay cho tôi:
- Cám ơn anh.
Tôi nắm những ngón tay mềm hỏi nhỏ:
- Chúng ta sẽ gặp lại?
- Anh muốn thế?
Vuốt nhẹ bàn tay vẫn chưa rút về, tôi nói:
- Ngay từ trên sân ga.
Hai viền mắt chớp nhanh, nàng cười rồi bất chợt đằm lại, vẻ ngẫm nghĩ:
- Còn ở đây, anh hãy gặp Mélisa.
Ðợi nàng bước lên cầu thang và một ô cửa sau hành lang bật sáng tôi mới quay đi. Nhắm hướng ra con kinh lớn tôi lững thững trên đường về khách sạn, lãng đãng trong đầu tự hỏi, sao nàng nhắc mãi Mélisa? Qua mấy khu phố tôi cảm tưởng cánh bướm đêm vẫn chập chờn trước mắt.
Chiều hôm sau tôi trở lại cổng sân ấy. ánh sáng cuối ngày vừa đủ làm nổi những nét khắc chạm trên thành lan can và những cột gỗ bọc hành lang của tầng lầu. Quả chuông treo chỉ leng keng ba tiếng đã có một người đàn ông mập mạp nhố ra từ cánh cửa khuất dưới cầu thang. ông ta mời tôi bước lên những bực gạch, vừa tới đầu hành lang đã nghe vọng tiếng vĩ cầm kéo một giòng rồi ngừng lại. Người đàn ông mở một cánh cửa đi vào, ra dấu bảo đợi. Tôi ngửng nhìn mái trần cong mà màu mè, nét vẽ hình người bay lượn trong những giải mây đã ít nhiều phai nhạt. Mélisa xuất hiện ở ngưỡng cửa với một thằng bé độ hơn mười tuổi ăn mặc tề chỉnh tay xách hộp đựng đàn. Thiếu phụ mái tóc hung đỏ màu lá thu ấy đúng là Mélisa, vì tôi nhận ra ngay ánh mắt xanh trong chế giễu ở hầm rượu. Mélisa trẻ hơn tôi nghĩ, dù bây giờ nhẹ nhàng trong bộ quần áo đơn giản vẫn cùng cái dáng đài các. Khuôn mặt phấn son kỹ lưỡng, một người từng trải và quyến rũ. Mélisa nheo mắt, cười rất tươi như thể biết rằng tôi sẽ đến. Tôi chưa kịp hỏi, Mélisa đã nói ngay bằng tiếng Pháp, giọng đùng đục, kéo dài:
- Cô ấy sang Murano xem thủy tinh, mai mới về.
Rồi không để tôi phản ứng đã tiếp:
- Nhưng anh uống rượu với tôi chứ?
Căn phòng khách rất rộng, tường xanh nhạt trên sàn gỗ nâu bóng, Ngôi nhà thật xưa nhưng cách bài trí trong căn phòng hài hoà giữa cũ và mới. Chiếc dương cầm cạnh cửa sổ treo màn trắng mỏng manh và cây vĩ cầm trên cái bàn chân cong gần đấy. Qua vòng ly trong suốt, hai con mắt Mélisa luôn luôn cười, giọng nói là lạ bây giờ quen tai trở nên ấm áp. Tôi ngà ngà trong men rượu Amazone đặc biệt ở vùng này, đỏ đậm dậy thơm và mạnh. Tôi ngây ngây trong cách nói chuyện tự nhiên đậm đà chen những tiếng cười phá lên khanh khách của Mélisa. Khi tiễn tôi ra về, dưới chân chiếc cầu thang, một nửa đã chìm trong bóng tối, Mélisa đưa tay nắm cổ áo của tôi, đôi môi đầy áp một nụ hôn đủ lâu để tôi bàng hoàng hít tất cả mùi nước hoa và thân thể ấm trong sương lạnh. Và tôi lâng lâng trở về khách sạn, hơi nồng cùng giọng cười Mélisa tràn vang trong những phố đường quanh co như thực như hư. Nhưng đến chân chiếc cầu đêm qua, bỗng một bóng áo tím tựa từ con lạch bay lên cùng tiếng hát lẳng lơ của gã chèo thuyền, tôi dừng sững hoang mang.
Hôm sau vừa ở phòng họp ra, cô tiếp tân đưa cho tờ giấy nhỏ ký tên Mélisa, hẹn tôi ra ngay bến San Marco. Ðầu buổi trưa nắng rực trên tất cả thành phố. Nắng mùa đông hanh sáng những mặt nhà đầy màu sắc hai bờ kinh. Mélisa và nàng đang xếp hàng xuống vaporetto. Tôi ngỡ ngàng trước hình ảnh nàng trong tấm áo dạ đen và chiếc vali nhỏ như ở sân ga. Trong ánh sáng ban ngày nàng càng mỏng manh tựa thiếu nữ bên cạnh Mélisa cao lớn chững chạc với áo lông màu thú. Khi nhận ra tôi nàng rất ngạc nhiên, mắt mở to và đôi môi mấy máy. Mélisa lùi ra nhường chỗ. Những người lái thuyền ồn ả giục khách. Nàng nói:
- Tôi có việc bất ngờ phải về trước. Biết đâu lại gặp anh đâu đó.
rồi gật đầu ra dấu với Mélisa. Tôi không thốt được câu gì nhìn theo, nàng đến đứng ở đầu tàu, những sợi tóc ngang vai bay nhẹ. Bên kia cửa kinh rộng, nắng nhóa bạc trên hai đỉnh tròn Salute sừng sững, mắt tôi nhoà xám. Mélisa bỗng chạy băng xuống thuyền, ôm chặt vai nàng, thì thầm điều gì đó, rồi hôn lên trán, lên má thật đằm thắm và sau đó phớt nhẹ lên môi.
Tối hôm ấy tôi vào quán rượu, đi qua bao phố đêm với Mélisa, rồi cuối cùng ở lại căn phòng ngủ của nàng trông xuống vườn cây nhỏù. Thân thể Mélisa tràn đầy, mê rực, mãn khai. Nàng cuốn tôi vào trong thăm thẳm bạo vũ của rừng sâu, loài thú hoang gầm lên trong cuộc quần thảo chẳng nương tha để rồi dốc hết hơi thở, hất nhau ra, lịm đi sau cuộc chiến. Khi tôi mở mắt sáng hôm sau có tiếng chim hót rung rúc dưới mái ngói. Tia mặt trời len nhẹ qua tấm màn mở hé, chiếu vào chiếc mặt nạ nhiều màu lộng lẫy treo trên tường. Tôi bỗng nhớ tới lời Hà dặn, nỗi buồn đột chụp xuống cùng sự mệt mỏi chưa tan.
Lúc tôi đưa món quà, Hà thất vọng trông thấy. Chiếc mặt nạ đã mua trong buổi chiều trước khi rời Venise không màu mè rực rỡ. Khuôn mặt màu tím thật nhạt gần như trắng, trũng mắt vẽ hai viền tím đậm pha chút ánh lân tinh, mái tóc là vành voan xanh lung linh cài đầy hoa trắng. Lòng tôi nao nao ân hận khi Hà đem cất chiếc hộp vào tủ. Giá tôi đem về mặt nạ như của Mélisa, Hà sẽ hài lòng. Mélisa buông thả, đắm chìm và lộng lẫy đã tiễn tôi ra bến tàu. Cả hai không nói lời từ giã. Trong suốt ba ngày còn lại, đôi lần Mélisa đề cập đến nàng nhưng chỉ thoáng qua. Một buổi chiều, chúng tôi sắp sửa ra khỏi phòng khách, ông già béo mập đem lên những quần áo tiệm giặt vừa giao. Tôi và Mélisa cùng nhìn vào chiếc áo choàng tím. Mélisa cầm lấy ngay, đi về phiá cửa sổ còn hắt tia nắng cuối, giơ cao ngắm nghiá, rồi dịu nhẹ ôm sát vào người, chừng như không còn biết có tôi đứng đó. Bỗng nhiên thấy lại tấm áo nàng tôi nao nao xúc động, đồng thời cử chỉ Mélisa lại làm tôi lấn cấn lạ lùng, như lúc hai người họ chia tay ở bến thuyền. Mélisa chẳng bao giờ gọi tên nàng, chỉ là Cô ấy, Elle, Elle, tiếng kêu lạnh lùng, xa vắng nhưng cùng lúc như chỉ định và chiếm hữu. Từ khi trở về, trong những nửa khuya chợt thức, bên cạnh Hà tôi nhớ Mélisa, nhưng dần dần đôi mắt và giọng nói dịu dàng của nàng càng ngày càng hiện rõ trong bóng tối. Dù thế, tôi chẳng gọi Mélisa, cũng không đi tìm cánh bướm tím đêm sương.
Nhưng vô tình tôi đã gặp lại nàng mấy tháng sau trong buổi tiệc nhà người bạn. Và lần này, vừa chạm mắt, chúng tôi biết rằng sẽ rơi vào tay nhau. Không thể nào khác. Thoát ra khỏi khung cảnh cổ xưa, lênh đênh biển đầm huyền ảo, hình ảnh nàng cũng đổi thay trong không gian mới. Tôi dần dần khám phá một người đàn bà hồn hậu, dịu trầm, thông minh nhưng lãng đãng. Chúng tôi chẳng gặp nhau thường. Nàng ở cách xa, và tôi còn Hà với ân tình nhiều năm. Nhưng những lần tôi đến tìm nàng nơi vùng biển tràn xám cát mịn và những vũng đầm đầy vỏ sò lấp lánh là tôi tách rời thực tại. Ngay cả ân ái với nàng cũng vô cùng khác lạ, thân thể mong manh nhưng đằm thắm da diết, mê muội đến tận cùng. Mỗi lần buông nhau ra, tôi muốn đêm say tràn ngập và ánh sáng ban ngày là điều không cần thiết. Lúc ấy nàng thả rơi chiếc gáy mảnh mai tuôn tận đáy lưng dịu dàng, ôm cánh tay tôi tìm nhịp thở. Nhiều lần, về sáng, tôi sững sờ nhìn xuống khuôn mặt nàng thiêm thiếp sự trầm lắng của mặt nạ tím mịn đã đem về. Tôi loay hoay sống giữa hai thế giới, một Hà ngăn nắp, quá thuộc từng phần thịt da và thói quen nhàm quẩn theo vòng thời gian, và nàng, mở ra cho tôi những trao đổi bén nhạy, chụp bắt sự tinh khôi ở mỗi điều trong cuộc sống. Nhưng lạ lùng giữa tôi với nàng vẫn có một khoảng cách. Sau những giờ phút chia nhau thân xác, nàng hút tôi vào hai con mắt tinh anh hiểu biết, bàn tán giải đáp mọi thứ, văn hoá, đời sống trong trêu cợt, nghịch đùa. Chúng tôi có thể nói với nhau cả những vấn đề, ưu tư trong công việc. Nhưng khoảng cách ở mỗi một điều, nàng chẳng bao giờ hỏi tôi về mảng đời riêng khi tôi rời căn nhà ven biển ấy. Lẽ đương nhiên, như thế, tôi cũng không thể đòi hỏi điều ngược lại. Phần nào đó, nó cho tôi cảm giác được phiêu bồng trong một cõi đời huyền hoặc. Tôi lơi khơi trong ảo tưởng bình yên, tránh bị trực diện hằng ngày với tấm gương mà phiá bên kia là hình ảnh Hà lúc nào cũng sẵn đó, bền bỉ im lìm, như khuôn mặt ngàn năm vẫn thế của chính tôi.
Tôi tự lừa mình trong sự yên lòng tạm bợ như vậy cho đến một buổi chiều. Hà vác ở đâu về một tấm gương cổ bảo tôi treo lên bức tường giữa hành lang. Xong Hà mở tủ lấy chiếc mặt nạ cài trên đầu gương, ngắm nghía quay qua quay lại, gật gù:
- Kỳ nhỉ, nó giản dị thế sao bây giờ treo lên lại thu hút lạ, anh thấy thế không?
Tôi muốn bảo, tôi thấy chứ, chỉ có Hà không nhận ra điều đó ngay từ đầu. Câu hỏi của Hà vô tình dềnh lên trong tôi nỗi gì buồn, nản. Tối ấy bước qua, ngửng nhìn, tôi giật mình, đôi mắt tím buồn theo sâu đắm. Cơn mưa đổ xuống sầm sập từ chiều, thảng thốt. Trong khi Hà ngủ mê man, hơi thở mạnh vô tư, tôi thao thức. Cứ nhắm mắt lại là tưởng chừng có tiếng áo lụa đang lướt vào phòng đem theo một mùi hương, không phải ẩm nồng của lạch nước luồn dưới chân cầu đá mà là gió biển mặn thổi về từ nơi nàng ở. Lần đầu tiên tôi nhớ nàng xa xót. Tại sao có khoảng cách. Vì sao ngoài lúc đêm tối đắm chìm trong nhau, nàng chưa từng nói yêu tôi. Nàng vùng chạy băng trên bãi cát cợn đầy dấu biển, khi tôi muốn ôm nàng trong vòng tay giữa ban ngày. Lúc dừng lại, gương mặt đột nhiên mênh mang khó tả mà tôi chỉ nhận ra được một điều là nỗi buồn. Không hiểu nàng ra sao những ngày tôi không có đó. Sau gặp gỡ vội vàng, tôi quay về sống tròn trách nhiệm đời thường với Hà. Còn với nàng, vừa rời xa nhau tôi là người lạ mặt. Một tình nhân hờ hững, không xẻ chia đời sống, chẳng săn sóc âu lo. Những dằn vặt ấy được bào chữa. Có thể nàng không yêu nên chưa hề bắt tôi trải rõ lòng mình hay chọn lựa. Nàng chẳng đòi, sao tôi phải xé mình ra. Cứ tiếp tục cuộc sống trật tự bao năm khi biết mình không thể cắt đứt ràng buộc với Hà, hưởng lấy sự an lành của giờ hưu chiến. Nhưng cõi bình yên này đang ngầm cơn bão biển. Ðêm nay tôi bàng hoàng nhớ đáy mắt sâu tương phản tiếng nói có lúc nhẹ hẫng như không để người nghe thấy. Làn da nàng xanh xao dưới những sợi tóc vụt cắt ngắn cũn cỡn tựa đoạn tuyệt một điều gì, không giải thích. Gió li đập ầm ầm vào các cánh cửa. Biết đâu, nơi xa xôi kia, những đợt sóng biển đang bùng lên cuốn hút ra khơi tấm thân mong manh và tâm hồn cô đơn lạ lùng ấy. Ðể tôi chẳng kịp nói ra nỗi nhức đau vì ích kỷ, vô tình.
Sáu giờ sáng, máy cà phê đang ùng ục những giọt cuối cùng thì chuông điện thoại. Tôi vội nhấc lên, giật mình, Mélisa bên kia đầu giây, vẫn cái giọng khàn thấp nhưng run rẩy:
- Ðến ngay đi, sợ cô ấy không qua khỏi.
Tôi ngẩn ngơ:
- Chuyện gì không qua khỏi?
Mélisa lồng lên:
- Quelle question, còn hỏi! Cô ấy bệnh nặng bao năm, chẳng lẽ anh không biết.
Tôi muốn gục xuống, thẫn thờ:
- Nàng có nói gì đâu.
Tiếng Mélisa đầy phẫn nộ và nước mắt:
- Ngụy biện. Bất nhân. Biết thế tôi đã ngăn cản khi cô ấy cho biết hai người gặp lại nhau. Tôi cứ đinh ninh anh giúp nàng sống vui những ngày còn lại.
Dựa vào thành bồn rửa chén, chiếc điện thoại tít tít trong tay, đầu óc tôi choáng váng. Mélisa đã gác máy tự lúc nào. Mélisa đột nhiên từ quá khứ hiện ra sừng sững như vị thần khoác áo vàng tươi, tay giơ búa tạ. Bấy lâu nay, thảng hoặc vô tình nhắc tới người đàn bà mê hoặc này nàng thường phớt nhanh với nụ cười bí ẩn, như thể liên hệ giữa họ là cõi riêng chẳng thể chia sẻ. Tôi thắc mắc nhưng cũng không muốn nói đến Mélisa. Những đêm rượu hầm và hơi thở hực nồng gấp rút trong căn phòng nhìn xuống sân vườn quyến rũ ấy là vùng sương mù mà tôi cố tình chối từ ám ảnh.
Hà bị đánh thức, ngái ngủ bước ra, càu nhàu:
- Ai gọi gì sáng sớm?
Tôi vội nói, tôi phải đi đây. Hà mở to mắt ngạc nhiên, lắc đầu. Ðiều gì tôi có can đảm nói ra với Hà, với Mélisa, và với nàng bây giờ, đều đã muộn.

Mai Ninh


Cái kẹp tóc

Thảo Trần


Bé về đến quê thì người ta đã bỏ ngoại vô hòm, vị sư trụ trì của chùa làng đang tụng kinh, mấy cậu và dì út quì trước linh cữu. Chỉ thiếu cậu tư. Nhìn ảnh ngoại trên bàn thờ vong, nước mắt Bé trào ra, mợ ba chạy ra nắm tay Bé, mợ cũng khóc, nói:
-Ngoại đi bình yên lắm. Cậu ba rước thầy tụng kinh Di Ðà cho ngoại. Ngoại đi như người ta đi ngủ vậy.

Nhà ngoại ở cuối xóm, ven bờ sông Trà Tân, nước lúc nào cũng đục ngầu phù sa. Dòng sông khúc này bên lở bên bồi; mùa hè hoa lục bình đua nhau nở, tím ngắt thời thơ ấu của Bé. Ngoài ra, còn có ngoại, cậu ba, tư, sáu và dì út; rồi có thêm mợ ba.
Bé nhìn quanh, bà con lối xóm đều có mặt, đa số ngày trước là tá điền của ngoại. Bé lặng lẽ vô buồng trong, ngó quanh buồng. Kia là cái rương gỗ dưới gầm giường ngoại, trước khi đi tập kết, cậu tư đã đóng cho Bé. Thổi sơ lớp bụi, Bé hồi hộp mở chốt, nhìn vào trong rương, nhớ từng món đồ chơi ngày nhỏ. Chẳng còn món nào nguyên lành, Bé
iết.
Bé lấy ra cái kẹp tóc bằng nhựa, nắm chặt trong tay, nghe lại tiếng thì thầm của ngoại:
-Con à, ngoại chưa có tiền, để chờ mùa sầu riêng năm nay ngoại bán rồi ngoại mua cho con.
-Ngoại nhớ nghen, ngoại phải mua cho con cái kẹp giống như của con Na con mới chịu à.
Ừ, ngoại nhớ rồi.

Mùa sầu riêng năm đó, trái chưa kịp chín thì lũ tràn về. Con sông Trà Tân hiền hòa như vậy mà cũng hùa theo cơn lũ. Lũ rút đi, để lại cái đói, cho cả người lẫn vật.
Lúc đó Bé quá nhỏ để hiểu những nỗi lo âu của người lớn. Bé suốt ngày ngồi khóc, đòi cho bằng được cái kẹp tóc ngoại hứa mua.
Bữa đó ngoại đi chợ Ba Dừa. Bé ra bờ sông ngồi từ sáng đến chiều không chịu vô ăn cơm nhứt định chờ ngoại về.
Và đêm đó Bé ngủ ngon lành với cái kẹp tóc mới tinh trên đầu.

Sau đó, Bé từ biệt quê ngoại, về quê nội. Cơm no áo ấm nhưng cay đắng đeo đẳng trong nụ cười, trong nỗi nhớ quê ngoại.
Mấy bà cô chỉ sợ Bé chia gia tài nên càng ghét Bé.

Có tiếng mợ ba gọi ra để tang cho ngoại. Ðậy chặt cái rương, Bé tưởng như mình vừa đậy chặt tuổi thơ của mình. Những món đồ chơi này, ngày nào lóc cóc chạy theo từng nỗi vui của Bé. Ngày về nội, Bé liệng cái kẹp tóc vô xó nhà, vứt con búp bê gãy tay vô bồ lúa, và bỏ cái rương lăn lóc ngoài chòi vịt. Bé đi rồi, ngoại lượm hết mọi thứ và đem cất vô buồng. Bé khóc thành tiếng, ngoại ơi, ngoại ơi…

Từ đó Bé không có dịp nào về quê ngoại. Lâu lâu mợ Ba đi chợ Cai Lậy ghé qua nhà nội, đem cho Bé một vài thứ trái cây, một chùm ổi sẻ… Nghe mợ kể, cây ổi sẻ già nua ở cuối vườn vẫn cho Bé trái, đã bị bom chẻ làm đôi, vậy mà nó vẫn sống, trái vẫn chín mọng, không ai ăn, lâu lâu mợ ba về thấy nó, lại nhớ Bé. Cậu mợ ba lúc này đã tản cư qua cù lao Tân Phong…

Bữa nay, ở quá xa, Bé đành tự hỏi mình, không hiểu con sông Trà Tân bây giờ ra sao. Có còn một đứa bé nào vô tâm đến nỗi, cứ nằng nặc đòi cho được một chiếc kẹp tóc, đúng vào một cơn lũ lớn…

Thảo Trần

 


Ðón người từ nghìn trùng

Lê Minh Hà

 

Bố bảo mẹ tính lãng mạn dở hơi, văn chương nửa mùa, đặt tên con gái là My, tưởng gì, chỉ là con tằm. Con gái mẹ dài người, tính quái, tên Tha My là lạ, cũng thông minh, nên bạn trai có vẻ nhiều hơn bạn gái.

My ra trường thì yêu. Anh học ở Ðức; Luật rừng; cao mét tám; quần bò gấu sờn; áo lông màu bộ đội. Ðêm ba mươi tết, anh lừng lững trước cửa. Bọn con trai lườm nguýt nhau trước đó cả tiếng đồng hồ tự động nhường ghế cho anh. My ra ban công đứng, ù tai không phải vì tiếng pháo mà vì khóc.

Anh hay đèo My đi chơi trên cái Mipha màu bạc tha từ Ðức về. Poocbaga cao, vừa với đôi chân dài ngoẵng của My, nhưng lại không chở nặng được. My ngồi sau, quay qua quay lại liên tục mỗi lúc gặp bạn trên phố. Bạn My bảo xót cho cái xe. "Anh Khánh đèo mày đi chơi thế chắc ba bảy hai mốt ngày cái Mipha gẫy". My chỉ cười, cười như thế kể từ sau hôm giao thừa ra ban công đứng khóc. Cười khi cùng anh đến xem cái nhà bố mẹ hai bên góp tiền tậu cho. Cười cả khi tiễn anh ngoài sân bay. Anh sang Áo thực tập sáu tháng. Về thế nào cũng có một khoản để mông má lại cái nhà trước khi cưới.

Từ Áo, anh qua Mỹ thăm bà cô. Và viết thư về kể việc anh có thẻ xanh. Bằng cách mà ông em con bà cô gà cho. Hai năm nữa anh có thể ly hôn, và anh sẽ về khi nào hết cấm vận để đón My.

"Anh hứa!" Ðêm, My nằm hết sấp lại ngửa. Nghe giường mẹ cọt kẹt, cọt kẹt. Biết bao giờ Mỹ thôi cấm vận hả giời.

Buổi chiều mẹ anh đến chơi, than nhà bấn, xin gửi lại phần tiền bố mẹ đã góp mua nhà cho hai đứa để lấy lại cái nhà cho anh con cả. Không thấy ông anh của anh ở. Mẹ thở dài: "Ðến nhà người ta thưa thưa thôi con ạ!" Rồi đưa My tiền chẳng biết mẹ dành dụm từ bao giờ bảo mua lấy cái xe. Dạo này con gái Hà Nội kết mini Nhật.

Cái xe mua độ ấy My đi đã tã ra rồi. Con em gái có người yêu làm ở sân bay bàn: "Mua xe máy đi chị. Mua em cho tiền. Thời buổi này đi xe đạp chỉ tổ hít bụi, lại toàn hỏng việc". My lắc. Hai đứa em cười: "Bà chị mình trung thành với mốt. Thế nào mốt cũng quay lại với bà này. Như cái quần loe ngày xưa đấy." Thằng em theo đà: "Mà bà My nhà mình cũng ngày càng mốt. Y như mấy cô người mẫu. Trên dưới như nhau trước sau như một nhìn chẳng biết sắp đến hay sắp đi..." Mẹ không nói gì, nhưng nhìn kiểu gì không biết mà hai đứa đột nhiên im phăng phắc.

...Thế mà rồi Mỹ bỏ cấm vận. Buổi chiều tan họp, cô thủ thư gọi với. "Chị My chị My! Có điện thoại!" Lại còn đứng bên My thì thầm: "Anh Khánh gọi từ Mỹ hả chị?" Một giọng đàn ông quen lắm. Lâu lắm rồi... "Anh vừa về. Mai anh sẽ tới thăm em và hai bác." My rùng mình. Không phải "anh sắp về"..."Hai bác!?"...

Mẹ nhẹ nhàng: "Khánh ngồi chơi nói chuyện với My nhé." Rồi cầm tờ báo vào phòng trong. Hai đứa em đồng thanh chào râm ran: "Anh Khánh đi tư bản về mà không được màu mỡ như hồi học ở xã hội chủ nghĩa nhỉ!" Rồi cũng lên xe máy phới.

Anh ngập ngừng bảo sao ngần ấy năm mà My vẫn như xưa. My cười: "Gần như xưa thôi anh." Rồi sỗ sàng: "Phải anh muốn hỏi tại sao My làm bà cô đến tận giờ đúng không? Tại vì My là con tằm. Con tằm ấy mà..." My cười khanh khách, nghe như tiếng bát vỡ. Anh cũng cười, hơi ngơ ngác.

Mẹ lục đục làm gì ở phòng trong. My im bặt. "Tại sao? Ừ! Tại sao? Hay thật! Chẳng lẽ chỉ vì muốn chờ nhau?"

1.2.1999

Lê Minh Hà


Không Bóng

Phạm Thế Ðịnh


Hãy nhìn xuống mặt đường hay trên một bức tường nào đó khi một mình đi trên đường vắng vào đêm. Một mình, vào đêm. Hãy tìm bóng của chính mình. Nếu bạn chỉ thấy một cái bóng, điều này đã là một điều may mắn rồi đấy, thứ nữạ, phải để ý kỹ, đừng chạy, để xem cái bóng đó có đúng là cái bóng của bạn đã che khuất một nguồn sáng nào đó để hiện trên một vật khác hay không? Nhiều khi bạn không đội nón mà cái bóng đó có nón, hoặc bạn tóc dài mà cái bóng lại trọc lóc, thì coi như bạn đã bắt đầu thấy hiện tượng rồi đó. Lại nữa trong trường hợp bạn không thấy cái bóng của mình đâu nữa, mà còn nghe rõ tiếng bước của mình và nhìn quanh thì thấy đủ các bóng cây, bóng vật, trừ ... bóng của bạn, thì bạn ơi, hãy đọc kỹ những giòng chữ sau đây:

Hắn là người luôn đối xử với mọi người như ngày mai họ sẽ rời hắn ra đi biệt tích, nhưng lại luôn luôn muốn người khác coi hắn như mãi mãi còn lại trên cõi đời này. Như vậy hắn nghĩ là mình sẽ không để ai bận rộn vì hắn, nhưng ngược lại, hắn luôn luôn gìn giữ được tình cảm tốt đối với mọi người. Người quen thường nói rằng hắn sống như một chiếc bóng.

Cũng được đi, cho đến một ngày cái bóng đó biết yêu.

Hắn đã là cái bóng thì người hắn yêu lại là một "người" không có bóng nhất định. Nàng đến rồi đi không để lại ký ức, vì khi hắn nuối tiếc muốn mở hình ra coi lại thì chỗ của nàng trên đó đã được thay bằng một cái bóng khác rất lạ, những cái bóng đó thay đổi một cách ngẫu hứng.

Linh mục cho rằng gã bị quỉ ám, nhưng nếu quả vậy, thì quỉ nữ này cũng chẳng làm gì quá quắt, "nó" chỉ có tội là không biết mình là ai, hoặc thấy mình là tất cả mọi người. Sư ông nhìn hắn rồi chỉ niệm Phật, và cho rằng hắn đã bị chướng nghiệp đọa vào trong cõi vô minh. Hắn chỉ lạy tạ, mà không mảy may suy nghĩ.

Một chiếc bóng sống giữa lòng đời để đi tìm một vật thể không có bóng, cũng còn được đi, cho đến một ngày hắn gặp được một triết gia phù thủy kỳ dị.

Triết gia phù thủy đó, sau khi nghe lời khẩn khoản của hắn đã chấp nhận lời nguyện cầu tìm người yêu thực tại của hắn, với điều kiện hắn phải hoàn thành 3 điều sau:

- Từ bỏ tín ngưỡng
- Từ bỏ đất nước
- Từ bỏ gia đình

Tín ngưỡng là điều hắn sống với, nhưng không cho, vì vậy hắn chấp nhận điều này một cách dễ dàng, linh mục và sư ông biến mất trong cái bóng. Ðiều thứ hai, hắn cho là còn dễ dàng hơn nữa, vì khi ranh giới quốc gia đã bị phá, hắn sẽ biết thành con người quốc tế, hoặc biết đâu chừng, vũ trụ nữa, đất nước cũng biến trong cái bóng. Chỉ còn gia đình, hắn không thể nhẫn tâm bỏ cha, bỏ mẹ, nhưng anh em họ hàng thì dễ thôi. Cho đến ngày mẹ hắn mất thì hắn không còn kiên nhẫn được nữa, hắn đến tìm gặp vị triết gia phù thủy và đồng ý để từ bỏ mối liên hệ gia đình, từ đó cái bóng mất cả gia đình.

Sau khi vị triết gia phù thủy được toại ý, ông ta làm bùa chú để cho nàng không bóng trở về với hắn. Bây giờ đi đường đêm người ta còn có thể gặp lại nàng và hắn, và lúc đó là lúc bạn sẽ thấy bóng mình hiện ra một cách lạ lùng rồi tự nhiên biến mất.

Phạm Thế Ðịnh
phamthedinhaus@netscape.net

 


Sâu Rượu

Nguyên tác An Alcoholic Case
Của Francis Scott Key Fitzgerald
Từ The Oxford Book American Short Stories
Do Joyce Carol Oates biên soạn (*)
Nguyệt Trinh chuyển ngữ.



Giới thiệu tác giả:(*)

Francis Scott Key Fitzgerald (1896-1940) sinh ngày 24, tháng 9 năm 1896 tại St. Paul, Minnesota. Cha mẹ ông tuy nghèo nhưng có địa vị trong xã hội. Dòng họ bên nội ông từng có người là tác giả bài quốc ca nổi tiếng của Hoa Kỳ, the Star-Spangled Banner (1). Nhờ sự giúp đỡ của người cô Fitzgerald mới có đủ khả năng theo học trường tư và đến năm 1913 thì vào Princeton University. Mãi lo lắng về chỗ đứng của mình đối với xã hội bên ngoài giới sinh viên, ông quên hẳn thân phận mình còn ngồi trên ghế nhà trường. Tuy nhiên, ông có đóng góp cho hai tờ báo, The Tiger và Nassau Lit, do nhà trường xuất bản, và The Triangle Club Shows. Ông còn được đề cử vào The Cottage Club, nơi tạo cho ông một địa vị xã hội mà ông hằng mơ ước.

Năm 1917 Fitzgerald bỏ học và gia nhập quân đội. Sau khi trúng tuyển các kỳ thi đặc biệt, ông được phong trung úy. Lúc đóng quân ở Alabama ông gặp gỡ, yêu đương và đính hôn cùng Zelda Sayre tại Montgomery. Cô là con gái vị thẩm phán toà án tối cao Alabama. Ông từng miêu tả người yêu của mình là "người con gái đẹp nhất Alabama và Georgia."

Trong thời gian tại ngũ, Fitzgerald đã hoàn tất quyển tiểu thuyết mà ông đã khởi sự viết từ khi còn học ở Princeton và gửi bản thảo cho nhà xuất bản Charles Scribner's Sons, nhưng bị từ chối mặc dù biên tập viên nổi tiếng Charles Perkins nhận ra văn tài đầy hứa hẹn của Fitzgerald. Sau khi giải ngũ vào đầu năm 1919, ông về New York, vài tháng sau làm việc cho một hãng quảng cáo. Ðóng góp đáng kể của ông cho hãng này là giải thưởng viết khẩu hiệu cho công ty giặt giũ ở Muscatine, Iowa "We keep you clean in Muscatine." Cùng thời gian ấy, về đêm ông viết truyện gửi đến các tạp chí, nhưng mọi nổ lực chỉ nhận về hơn một trăm lá thư từ chối.

Trong lúc văn nghiệp của Fitzgerald hoàn toàn thất bại về tài chánh, Zelda từ hôn, và vào tháng 7 năm 1919 ông trở về St. Paul để viết lại quyển tiểu thuyết đầu tiên của mình dưới tựa đề This Side of Paradise, tác phẩm nói về lứa tuổi và thế hệ của ông. Lần này quyển tiểu thuyết được Scribner chấp nhận và xuất bản vào tháng 3 năm 1920, lúc Fitzgerald chỉ vừa hai mươi ba tuổi. Theo sau sự thành công nhanh chóng ấy, các tác phẩm của ông lần lượt được ấn hành, Flappers and Philosophers (1921), Tales of the Jazz Age (1922), quyển tiểu thuyết thứ hai của Fitzgerald, The Beautiful and Damned (1922), chưa kể vô số tác phẩm xuất sắc khác như hợp tuyển văn thơ Babylon Revisited, Winter Dream, The Diamond as Big as the Ritz. Lợi tức của Fitzgerald khoảng $20,000 một năm khi quyển tiểu thuyết đầu tiên của ông xuất bản.

Sau khi Fitzgerald trở thành nhà văn nổi tiếng, ông và Zelda hàn gắn lại chuyện tình và thành hôn tại New York vào tháng 4 năm 1920. Ngay thời điểm ấy, New York xa hoa tráng lệ là mục tiêu của hàng vạn người trẻ tuổi mang đầy hoài bảo trong tất cả mọi lĩnh vực chuyên môn và kinh doanh giao dịch. Khi nhắc về ngày tháng này, Fitzgerald đã thố lộ "chúng tôi như những đứa trẻ lạc vào nhà chứa thóc khổng lồ, nơi chưa từng được ai phát hiện đến." Trong một thập niên mà giới trẻ gặt hái được niềm ước mơ của dân Hoa Kỳ, Fitzgerald từ một người ôm ấp nhiều mơ mộng trở thành kiểu mẫu cho ước mơ ấy, đồng thời là người đã hoán đổi ước mơ ấy thành sự thật (In a decade in which youth captured the imagination of the American people, Fitzgerald the dreamer became Fitzgerald the exemplar of dreams and Americà's interpreter of those dreams.)

Năm 1924 Fitzgerald và Zelda về sinh sống ở Pháp, tại đây quyển tiểu thuyết xuất chúng The Great Gatsby được xuất bản 1925. Tuyệt tác The Great Gatsby đã được các hãng phim Hollywood dàn dựng (2), và gần đây nhất vào ngày 20 tháng 12 năm 1999 lần đầu tiên The Great Gatsby được ra mắt trên sân khấu Metropolitan Opera tại New York (3). Ngoài ra tác phẩm còn được thu thanh vào bộ sưu tập The Great Gatsby của John Harbison (4). Vào những năm cuối của thập niên 20, cuộc đời Fitzgerald đi vào bế tắc vô vọng khiến ông chẳng sáng tác được gì, và Zelda, sau thời gian khổ luyện để hoàn mỹ con đường nghệ thuật của mình, của một vũ công ballet, bà bị khủng khoảng tinh thần đến độ phải chôn vùi suốt cuộc đời còn lại trong bệnh viện tâm thần.

Tender of The Night là quyển tiểu thuyết cuối cùng của Fitzgerald được hoàn tất và ấn hành 1934. Sau đó ông về Hollywood viết truyện phim. Lúc đang viết The Last Tycoon, cơn đau tim ác tính đầu tiên của ông xuất hiện (he suffered the first of two heart attacks). Thế là The Last Tycoon dang dỡ không hoàn tất vì Fitzgerald từ giã cõi đời ngày 21, tháng 12 năm 1940, khi ông vừa bốn mươi bốn tuổi. Sau khi nhà văn qua đời, một số tác phẩm của ông lần lượt được xuất bản, The Last Tycoon (1944), tác phẩm văn xuôi (prose) mang tựa đề Crack-Up (1945).

Câu chuyện ngắn dưới đây được Esquire ấn hành đầu năm 1937. Tách rời hẳn diễn biến thay đổi đột ngột và lối kể chuyện thu hút, câu chuyện vẫn có sức quyến rũ mê hoặc, và còn được xem như một tư liệu về lối tự phân tích đầy thương tâm (apart from its fluid, gripping narrative, it is fascinating as a document of rueful self-analysis). Chúng ta thấy ở đây hình ảnh tay nghiện rượu, chàng họa sĩ hoạt hình nổi tiếng, người nghệ sĩ bị số kiếp khổ ải của mình đày đọa dưới cái nhìn của cô y tá, người chăm sóc cho hắn. Ðây là tác phẩm được viết thật đơn sơ và ít mang chất ủy mị ướt át nhất trong số 178 truyện ngắn của Fitzgerald. Có thể nói, câu chuyện dưới đây chưa hẳn đã bị quên lãng.

**********

- Buông ra cho tôi, làm ơn đi.

- Ðừng uống nữa. Ðưa chai cho tôi mau.

- Tôi đã bảo tôi sẽ tỉnh táo đưa cô mà.

- Nếu ông còn làm như thế, mai kia về nhà sẽ ra sao ?

- Làm ơn trả cho tôi. Tôi hứa chừa nửa chai cho cô.

- Cả đêm giằng co với ông mệt nhừ. Ừ, muốn uống thì uống cho chết đi.

- Cô uống bia nhé ?

- Không ! tôi không thích rượu bia gì cả. Trời ơi ! lại nhìn ông say sưa nữa.

- Vậy tôi uống coca cola nhé.

Người con gái dậm chân, nàng hỏi:

- Ông không tin tưởng điều gì sao ?

- Chẳng có gì đáng để tin tưởng. Làm ơn, đổ rồi nè.

Nàng quá tuyệt vọng, chẳng kham nổi nữa vì tên say sưa này hết thuốc chữa. Họ giằng co thêm một lúc, sau đó hắn ngồi tay ôm đầu thật lâu trước khi chực quay lại. Nàng liền nói:

- Một lần nữa ông còn giành giật với tôi, tôi sẽ quẳng chai rượu này vô tường tức khắc. Tôi sẽ quẳng ngay lên tường men trong buồng tắm.

- Thì tôi bị đạp lên mảnh chai, hoặc cô.

- Vậy ông bỏ ra đi. Ông đã hứa với tôi ...

Thình lình nàng buông chai rượu thật mạnh. Vuột khỏi tay nàng, chai rượu loé ánh sáng hai màu đỏ và đen cùng hàng chữ SIR GALAHAD, DISTILLED LOUISVILLE GIN. Ðống mảnh chai tung toé trên nền nhà. Sau một lúc tất cả rơi vào im lặng, nàng bắt đầu lo lắng, sợ bước vào buồng tắm và bị đứt chân. Nàng cứ cúi xuống ngẩng lên, vừa đọc quyển tiểu thuyết Cuốn Theo Chiều Gió (Gone With the Wind), câu chuyện viết về những điều tuyệt đẹp xảy ra thời xa xưa, vừa trông chừng hắn. Nàng đã buồn ngủ, khi nãy nàng nhìn lên thấy hắn khóc, trông hắn như lão già người Do Thái mà nàng chăm nom dạo trước ở California. Nàng nản công việc này quá rồi, nhưng lại nghĩ "Nếu không cảm mến hắn có lẽ mình đã bỏ cuộc." Lương tâm ray rứt khiến nàng đứng dậy đặt chiếc ghế trước cửa buồng tắm. Nàng muốn ngủ lấy sức vì hắn thường bắt nàng dậy sớm để lấy tờ báo có tường thuật các trận đấu Yale-Harvard cho hắn, và đến giờ này nàng còn chưa được về nhà nghỉ ngơi. Lúc trưa, thân nhân hắn đến thăm, và nàng phải chờ bên ngoài. Trời se lạnh mà nàng chẳng kịp choàng thêm chiếc áo len bên ngoài bộ đồng phục. Hắn ngồi ngủ gật gờ bên chiếc tủ con nhiều ngăn, chân quỳ một gối. Nàng khoác chiếc áo choàng lên vai hắn và đến ngồi trên chiếc ghế ngựa. Cơn buồn ngủ đã qua, nàng còn nhiều việc phải theo dõi trên mấy tấm đồ biểu. Nàng cầm cây bút ghi xuống.

* Nhịp 120
* Hơi thở 25
* Nhiệt độ 98-98.4-98.2
* Ghi chú: Giật chai rượu. Ném bể nát.

Xong nàng lại sửa, "Giằng co làm rơi chai rượu, bệnh nhân hơi khó khăn," và ghi thêm vào bản báo cáo của mình "Tôi không bao giờ muốn trông nom bệnh nhân nghiện rượu lần nữa." Viết thế nhưng nàng chưa có ý định ấy. Nàng biết mình sẽ thức dậy lúc bảy giờ, dọn dẹp sạch sẽ trước khi hắn tỉnh giấc. Khi ngồi xuống ghế, nàng ngắm nhìn khuôn mặt trắng nhợt nhạt và mệt lả của hắn. Nàng đếm hơi thở ca hắn lần nữa, và tự hỏi sao đến nông nổi này. Sáng nay hắn thật ngoan ngoãn, đã vẽ một số hình hoạt họa cho đỡ buồn chán sau đó còn mang cho nàng. Nàng dự định sẽ đóng khung treo trong phòng mình. Nàng nhớ cổ tay ốm tong của hắn khi vặn tay nàng, lời ghê gớm hắn thốt ra và câu nói của bác sĩ bảo hắn hôm qua, "ông là người rất tử tế đàng hoàng, đừng tự hành hạ mình như thế."

Nàng quá mệt mỏi chẳng muốn lau dọn các mảnh vỡ trong buồng tắm vì nàng còn chờ hơi thở của hắn điều hoà trở lại và dìu hắn lên giường, nhưng sau đó nàng quyết định lau dọn trước. Nàng quỳ gối tìm các mảnh vỡ\, nghĩ ngợi "Lẽ ra mình đâu cần làm điều này. Lẽ ra hắn đâu phải như thế." Bất mãn, nàng đứng dậy nhìn hắn. Nét mặt gầy nhom, mũi phát ra tiếng ngáy nghe như tiếng thở dài, bất an. Bác sĩ đã lắc đầu một cách chỉ có ông ta mới hiểu được, nhưng giác quan cho nàng biết trường hợp của hắn thật sự ngoài khả năng của nàng. Hơn nữa, trên tấm danh thiếp của nàng ghi rõ ràng lời khuyên nhủ của đàng chị "Sâu rượu, xin miễn." (No Alcoholics.). Nàng đã cố gắng làm hết trách nhiệm của mình. Nhớ lúc nàng và hắn giằng co với nhau về chai rượu, hắn đã dừng lại vài giây hỏi nàng có đau khi tay va vào cửa. Nàng đã giận dỗi trả lời, " Chẳng cần biết ông nghĩ sao về mình. Ông phải hiểu người khác nói về ông thế nào chứ.

Các mảnh vỡ được nhặt sạch sẽ, nàng tìm cây chổi quét kỹ lần nữa. Nàng chẳng hiểu vì sao hắn ra nông nổi này. Trên bàn làm việc của hắn còn bức hình người vợ trẻ và hai thằng con kháu khỉnh, đã năm năm qua rồi ... Nàng dán miếng băng keo vào chỗ tay bị đứt khi nhặt các mảnh vỡ và quyết định từ đây về sau không chăm sóc bệnh nhân nghiền rượu nữa.

Nàng bước lên xe, ngồi phía sau nơi dành cho dân da màu vì tên phá phách nào đó đã đập cửa kính xe làm nàng lo sợ mảnh nứt văng trúng mình. Trời đã tối khiến nàng không thể đổi tấm chi phiếu bệnh nhân vừa trả lương. Trong túi nàng chỉ còn vỏn vẹn hai mươi sáu xu. Hai cô y tá quen biết đứng đợi ngay hành lang văn phòng bà Hixson.

- Cô đang nhận bệnh gì thế ?

- Nghiện rượu. (alcoholic case)

- Nhớ rồi ! bà Gretta Hawks có nói cho tôi biết, cô đang chăm sóc ông họa sĩ hoạt hình phải không ?

- Thưa vâng.

- Ông ấy quậy lắm hở ?

- Chưa làm phiền gì tôi cả. Mình đừng nên vơ đũa cả nắm.

- Ðừng giận nghe, tôi nghe đồn thôi mà. Nghe nói mấy tay say sưa muốn giỡn mặt với mình.

- Im đi ! (Be quiet)

Nàng nạt ngang và ngạc nhiên về nỗi bực dọc vô cớ của mình. Lúc sau bà Hixson bước ra bảo hai cô y tá chờ giây lát và ra hiệu cho nàng theo vào phòng. Bà phân trần.

- Tôi thật tình không muốn giao mấy người trẻ tuổi trường hợp như thế này đâu. Nhận điện thoại của cô tôi lo quá.

- Thưa bà, chưa đến nỗi nào. Thật ra, ông ấy chẳng biết mình muốn gì và cũng chưa làm phiền đến tôi. Cả ngày qua ông ấy rất ngoan ngoãn, còn vẽ cho tôi ...

Bà Hixson đưa tay thoăn thoắt lên chồng hồ sơ.

- Tôi không muốn giao cô ca này. Thôi để đổi người khác cho cô. Ðây rồi, nhận ông T.B được không ?

Ðiện thoại reng không ngừng. Bà Hixson cầm ống nghe, từ tốn:

- Tôi sẽ cố gắng hết mọi cách, nhưng phải do bác sĩ quyết định nữa ... Ngoài khả năng của tôi rồi ... Ồ, Hattie đó hở ? không được đâu. Nè, chị biết cô y tá nào có kinh nghiệm với bệnh nhân nghiền rượu không ? Một bệnh nhân ở khách sạn Forest Park đang cần người đến giúp. Thôi nhé, nhớ gọi ngay cho tôi.

Bà đặt ống nghe xuống.

- Ông ấy sao ? Nói nghe coi, không đứng đắn hở ?

- Không phải, ông ấy chỉ giữ tay tôi không cho tôi chích thuốc.

Bà Hixso càu nhàu.

- Trời, thật là tên vô dụng. Ðáng cho vào nhà thương điên hết cả lũ. Nè, tôi giao cho cô ca khác dễ dàng hơn. Chăm sóc một bà cụ nhé.

Ðiện thoại lại reng.

- Ồ, Hattie đó hở ? được không ? cô Svensen thì sao ? Cô ấy đủ khả năng chăm sóc mấy tên sâu rượu mà ... Vậy Josephine Markham thì sao ? Ðưa máy cho cô ấy dùm tôi. Jo ! cô làm ơn nhận dùm ca này nhé. Một họa sĩ nổi tiếng đó. Tôi không rõ, đó là bệnh nhân của bác sĩ Carter, và ông ta sẽ có mặt khoảng mười giờ.

Chừng như cuộc điện đàm sẽ kéo dài không ngừng.

- Tôi hiểu tâm trạng của cô. Không gì nguy hiểm cả, chỉ hơi khó khăn tí mà thôi. Ðược rồi, để tôi tìm người khác vậy. Không sao, cám ơn nhé.

Bà Hixson cúp máy và ghi chép vội vàng xuống cuốn sổ trước mặt. Bà là một người với đầy đủ năng lực, đã từng làm y tá và trải qua nhiều trường hợp tồi tệ nhất. Bà hãnh diện, thực tế, từng là một bác sĩ tập sự làm việc siêng năng nổ lực, nhưng bị tổn thương vì các bác sĩ nội trú và số bệnh nhân đầu tiên của bà cho rằng bà cần phải qua thêm vài khoá huấn luyện ngay lập tức vì lối phục vụ người lớn tuổi của bà còn non nớt. Bà đứng dậy.

- Thật tình cô muốn ca nào nói tôi nghe ? Tôi đã bảo cô về một cụ bà.

Ðôi mắt cô y tá sáng lên trong vùng suy nghĩ, hồi tưởng lại cuộn phim nói về cuộc đời của Pasteur và sách viết về Florence Nightingale khi họ còn là sinh viên trường thuốc. Với niềm kiêu hãnh của mình, họ dầm mưa dãi nắng và cả băng mình trong sương tuyết tại Philadelphia General, hãnh diện về chiếc áo choàng mới tinh khôi của người đang chập chững bước vào nghề dưới lớp áo khoác lông khi hướng đến buổi dạ vũ. Nàng trả lời giữa tiếng reng chói tai của hồi chuông vang từ chiếc máy điện thoại.

- Tôi ... Tôi muốn nhận lại ca này. Nếu bà chưa tìm được ai thì xin giao cho tôi.

- Cô làm tôi phát điên mất. Nửa phút trước bảo không nhận mấy tên say rượu, nửa phút sau lại đổi ý.

- Có lẽ tôi đánh giá sự khó khăn về công việc này hơi quá đáng. Thật tình, tôi nghĩ mình có thể giúp ông ấy.

- Tùy cô. Nhưng nếu ông ấy còn hành hung cô lần nữa thì ...

- Không sao. Nhìn tay tôi nè, tôi chơi bóng rổ ở Waynesboro High hai năm liền. Tôi đủ sức chăm sóc ông ấy mà.

Bà Hixson nhìn nàng hồi lâu, đoạn bảo:

- Thôi được, nhưng nên nhớ đừng bao giờ tin vào mấy tên say sưa cả. Rượu nói chứ không phải hắn nói đâu mà tin, vì hắn nói vậy nhưng chẳng phải vậy (But just remember that nothing they say when theỳ're drunk is what they mean when theỳ're sober). Tôi trải qua nhiều rồi. Nhớ xếp đặt dặn dò người làm trong nhà có chuyện thì mình còn nhờ họ tiếp tay. Chẳng thể nào biết trước chuyện gì sẽ xãy ra. Một số sâu rượu tuy say nhưng còn đằm thắm, một số chuyên môn quậy phá lè nhè. Nói chung thối tha cả lũ (some alcoholics are pleasants and some of them are not, but all of them can be rotten.)

- Tôi sẽ ghi nhớ.

Nàng bước ra cửa khi trời về đêm trong vắt, mưa tuyết rơi nghiêng nhè nhẹ khiến một vùng trắng thênh thang giữa bầu trời xanh đen mịt mù. Chiếc xe khi nãy đưa nàng xuống, trờ đến. Kính xe bị vỡ thêm vài khung cửa. Người tài xế đang bực dọc, hăm he nếu tóm được lũ trẻ sẽ dần cho chúng một trận nên thân. Nàng biết người tài xế chỉ phàn nàn vu vơ, nhưng nàng cứ ngỡ ông ta cáu kỉnh về mấy tên say sưa. Nàng xuống xe, bước nhanh về khách sạn. Gió lạnh làm nàng run rẩy. Nàng phải chăm sóc cho hắn vì chẳng ai nhận, vì lòng tận tụy và bản năng nghề nghiệp của mình. Người tài giỏi trong lỉnh vực này, ai cũng thích thú nhận công việc khó khăn mà người khác từ chối. Nàng gõ cửa. Hắn bước ra, trong bộ quần áo lịch sự, còn thêm chiếc mũ quả dưa (a derby hat). Hắn ngượng ngập.

- Chào cô, cô trở về hay quá. Tôi thức dậy hồi lâu và muốn ra ngoài một lúc. Cô tìm được y tá trực đêm cho tôi chưa ?

- Tôi trực đêm được và quyết định trực ở đây cả ngày đêm hai mươi bốn tiếng.

Hắn mỉm cười ôn hoà.

- Lúc nhìn cô đi, thâm tâm tôi nghĩ thế nào cô cũng quay về. Tìm dùm tôi chiếc kim cài khuy trong mấy chiếc hộp đằng kia. Dù sao, tôi cứ sợ cô bỏ đi luôn.

- Tôi cũng dự định như thế.

- Cô nhìn lên bàn kia. Tôi vừa vẽ thêm một số hoạt họa ... vẽ cô đó.

- Ông đi gặp ai giờ này ?

- Thư ký riêng của tổng thống. Tôi vụng về đến giờ chưa chuẩn bị xong, định bỏ cuộc thì cô về. Cô có thể gọi dùm tôi một ly rượu trắng ?

- Một ly thôi nhé.

Vào buồng tắm nàng nhận ra vẻ nhợt nhạt trên mặt hắn và còn ngửi ra mùi kẹo bạc hà lẫn với rượu trong hơi thở hắn. Nàng hỏi:

- Ông về ngay không ? mười giờ bác sĩ sẽ đến đó.

- Không, cô phải đi với tôi.

- Tôi ? ăn mặc vầy đi đâu ?

- Thế ... tôi không đi !

- Tốt, vậy mời lên giường ngay, đó là nơi chốn thâm tình của ông. Ngày mai ông gặp họ không được sao ?

- Dĩ nhiên không.

Nàng bước theo, đưa tay thắt cà vạt cho hắn. Nhìn chiếc áo nhăn nheo, nàng bảo.

- Sao không thay áo khác. Ăn mặc nhăn nheo vầy đi gặp ai ?

- Ðược rồi ! nhưng để tôi làm một mình.

- Sao không cho tôi giúp ? Nhiệm vụ của tôi mà.

- Ừ ! muốn làm gì làm đi !

- Nè, đừng vặn tay tôi ... rồi lại nói xin lỗi.

- Ðừng lo, không đau đâu, tí cô sẽ thấy.

Nàng chuẩn bị xong nào áo măng tô, áo khỉ, và chiếc sơ mi ủi thật thẳng, nhưng chưa kịp tròng chiếc áo vào đầu hắn thì hắn rít điếu thuốc câu giờ. Hắn bảo.

- Nhìn đây ! một hai ba !

Nàng vội kéo chiếc áo lót của hắn ra, đúng lúc hắn ấn mạnh đầu lửa đỏ như muốn lụi vào tim phổi, đâm mạnh vào phiến kim loại nhỏ bằng đồng xu bên sườn trái của hắn. Hắn kêu lên "úi đau !" khi tia lửa toé rơi xuống bụng.

"Ðến giờ chướng" (Now was the time to be hard-boiled), nàng tự bảo. Nàng biết hắn có ba chiếc huy chương từ thời tham chiến mà hắn cất giữ trong hộp nữ trang, nhưng bản thân nàng cũng từng mạo hiểm nhiều phen, chứng lao phổi hay lây lang nơi ấy, đôi khi gặp phải căn bệnh ghê gớm hơn mà nàng không hề hay biết, và nàng chẳng bao giờ tha thứ cho vị bác sĩ đã dấu diếm không báo cho nàng biết trước. Nàng hỏi bằng giọng ôn tồn khi lau chùi cho hắn:

- Vết thương khiến ông đau đớn lắm hở ? Không lành nổi sao ?

- Không bao giờ ! bọc đồng đó.

- Nhưng cũng đâu phải là lý do để ông tự hành hạ mình.

Hắn đưa đôi mắt nâu nhìn nàng đau đớn, cách biệt và lạc lõng. Trong một giây ngắn ngủi hắn ra dấu cho nàng biết ước nguyện của mình "sẵn lòng đón nhận cái chết" (He signaled to her in one second, his Will to Die), và bằng tất cả quá trình được huấn luyện đào tạo và kinh nghiệm riêng nàng thấu hiểu được mình hoàn toàn bất lực, chẳng thể làm bất cứ điều gì để cảm hoá được hắn. Hắn đứng dậy vững vàng một mình, hướng đôi mắt về phía trước.

- Có tôi ở đây, ông đừng hòng rớ vào chai rượu !

Nói dứt câu, nàng nhận ra chẳng phải hắn đang tìm kiếm chai rượu như nàng nghĩ. Hắn nhìn trừng trừng về phía góc buồng tắm nơi nàng ném chai rượu khi sáng này. Nàng chăm chú theo dõi gương mặt đẹp của hắn, yếu ớt nhưng bướng bỉnh, nàng sợ hãi chẳng dám nhúc nhích nửa bước vì hiểu tử thần đang hiện diện nơi ấy. Nàng biết được thần chết, nàng nghe về điều ấy, ngửi ra điều ấy không chút nhầm lẫn, nhưng nàng chưa từng bao giờ chứng kiến được giờ phút thần chết gõ cửa bất cứ ai. Nàng tự hiểu, người đàn ông trước mặt mình đang đối diện với tử thần nơi góc tường trong buồng tắm. Thần chết đứng yên lạnh lùng nhìn hắn ho tiếng ho yếu ớt tội tình, khạc ra chút đọa đày oan khiên, đoạn chùi vào quần. Ánh chớp chợt loé một màu thê lương, rạn nứt tiếng kêu khẽ khàng vụn vỡ trong nửa khoảnh khắc, như làm bằng chứng cho động tác cuối cùng của đời hắn. (She knew death - she heard it, she smelt its unmistakable odor, but she had never seen it before it entered into anyone, and she knew this man saw it in the corner of his bathroom: that it was standing there looking at him while he spit from a feeble cough and rubbed the result into the braid of his trousers. It shone there ... crackling for a moment as evidence of the last gesture he ever made.).

Sáng hôm sau, nàng cố giải thích cho bà Hixson.

- Xin đầu hàng, không cần biết mình đã cố gắng tận sức cỡ nào cũng chẳng thể vượt qua nổi. Hắn vặn tay tôi đau điếng đến khi kéo ra được mới thôi. Nhưng tôi không màng, không kể. Chỉ buồn một điều, mình thật sự vô phương chẳng cứu giúp được họ. Tôi cực lòng chán nản, cuối cùng bao cố gắng nỗ lực đều công toi.

Nguyệt Trinh
Feb. 22, 2001


*
Hơn nửa chi tiết lấy từ The Great Gatsby, by F. Scott Fitzgerald

1. Francis Scott Key (1780-1843), author of The Star Spangled Banner (http://www.kn.pacbell.com/wired/fil/pages/listthenatimr.html)

2. 1974, do đạo diễn Jack Clayton (03/01/1921 - 02/26/1995) và các tài tử Robert Redford, Mia Farrow, Sam Waterston 2000, do đạo diễn Robert Markowitz và các tài tử Mira Sorvino, Toby Stephens

3. http://www.schirmer.com/composers/harbison_gatsby.html

Dưới đây là trích dẫn cuộc phỏng vấn giữa phóng viên Paul Solman của đài WGBH-Boston và các nhà nghệ thuật đã thực hiện vở kịch Opera hiện đại The Great Gatsbỵ
http://www.pbs.org/newshour/bb/entertainment/jan-june00/gatsby_1-6.html
http://www.pbs.org/newshour/bb/entertainment/jan-june00/gatsby_1-6.html
Paul Solman: Âm nhạc trong vở kịch The Great Gatsby được ông soạn theo tiết tấu và lối trình bày thật mới lạ. Ðó có phải là thử thách to tát đối với ông khi chuyển thể quyển tiểu thuyết qua lối viết độc đáo của Fitzgerald. (Harbison's Gatsby is full of new music sung in new ways. The great challenge: How to transpose Fitzgerald's famous writing style).

Nhà soạn nhạc John Harbison (Composer): Ngôn ngữ tuyệt vời nhất của tiểu thuyết không phải chỉ ở lời nói trên môi nhân vật trong câu chuyện. Mà đó là trình tự của sự chuyển biến khéo léo, liên hợp và cách diễn tả sống động. Tất cả cách điều phối hài hoà ấy mới thật sự tạo nên tiếng nói từ nội tâm nhân vật (The most beautiful language in the novel is not in the characters' mouths; it's in the transitional and connective and descriptive material. And it's only occasionally that can be moved over into the characters' speeches themselves.).

Paul Solman: Ðiều khó khăn là làm thế nào khiến khán giả làm quen được với nền âm nhạc mới mẻ lạ lùng. Có phải cách đổi mới này cần nhiều thời gian giới thiệu để thuyết phục khán giả và điều này tùy thuộc nhất thiết vào khả năng của người nghệ sĩ. (how hard it is to create an appetite for modern music when audiences can feast on Mozart instead. Do you think almost any new artwork needs repetition before an audience really gets it. And that means the artists themselves must make the case.)

Ðạo diễn nghệ thuật và sân khấu, nhà soạn nhạc James Levine (The Maestro, Artistic Director, Metropolitan Opera): Ðối với sự chuyển thể sân khấu Opera đưa khán giả từ giòng nhạc Mozart cổ điển đến giòng nhạc Opera hiện đại, trước nhất phải từ người nhạc sĩ. Nhiệm vụ họ là phải biết yêu mến và tin tưởng vào từng phần một của tác phẩm, nổ lực tìm tòi khai thác cái mới lạ và biểu diễn liên tục. Theo ý tôi, âm nhạc sẽ chết dần mòn nếu cứ bị lập đi lập lại những điều cũ rích nhàm chán quá quen thuộc với chúng ta (The musicians have to love and believe in the piece and keep trying to find ways to schedule it, to perform it ... I mean, the art form would die if all it was, was repeating something with which we were already familiar.).

Paul Solman: Âm nhạc mới lạ của Harbison trong vở opera The Great Gatsby đã gây nhiều sự chú ý. Dưới cái nhìn của một đạo diễn, ông có nghĩ đây là dấu hiệu đầy khích lệ đối với nền kịch opera trong thị trường âm nhạc hiện đại. (Harbison's Gatsby has received for an opera a huge amount of attention. And for director Mark Lamos, at least, that is further evidence of encouraging uptick in the market for modern music).

Ðạo diễn Mark Lamos (Director): Dấu hiệu khả quan cho thấy hiện nay nhiều nhà sản xuất đã uỷ thác cho các soạn giả (composer) sáng tác những kịch bản Opera thời đại. Tôi từng dàn dựng nhiều vỡ kịch opera hiện đại này ở St. Louis, và lúc nào nhà hát cũng đầy ắp khán giả. Họ như đã sẳn sàng tham dự vào cuộc phiêu lưu. Họ hào hứng chấp nhận điều mới lạ mà không cần phải nghe qua trước, chẳng cần học hỏi ghi nhớ, chẳng cần phải thật sự biết nhiều gì cả. Họ chỉ việc ngồi xuống thong thả và lắng nghe, dù chỉ là lần đầu tiên. Tất cả đã nói lên bước tiến của nền văn hoá Hoa Kỳ hiện nay (The healthy things is more companies commissioning living American composers to write new operas. I do a new opera at the opera theater in St. Louis, the place is packed. Theỳ're ready for an adventure. Theỳ're eagerly accepting a new work without having heard it before, without having a recording to study, without having really knowing much more about it than they do when they just sit down and hear it the first time. That's saying a lot about American culture right now.

4. http://www.schirmer.com/composers/harbison_works.html

Selections from from "The Great Gatsby"
Gatsby Etudes (1999)
for piano
Three etudes based on music from the opera

Gatsby Songs (1999)
for voice and piano
Fourteen popular songs, with lyrics by Murray Horwitz, from the opera
Remembering Gatsby (1985)





Bức Tường Cố Chấp

Thu-Thuyền

Cô và em Hương lúc nào cũng là cặp bài trùng. Thuở nhỏ, có lần Hương nghịch bị bắt quả tang. Em sợ đòn, chạy vào phòng tắm trốn. Mẹ cầm chổi phất trần đi "truy kích". Thấy cô đang quay lưng chơi đồ hàng, bà vụt cho một roi quắn đít (chỉ vì hai đứa mặc bộ đồ màu hoa cà giống nhau!). Cô giật mình quay lại. Nhìn khuôn mặt ăn năn của mẹ, cô biết mẹ lầm, bèn lăn ra ăn vạ. Thế là mẹ cô phải thường cô một quả bắp nướng, ly sâm bảo lượng và nửa miếng ô mai. Mãi đến tuổi dậy thì, mẹ cô vẫn còn mua quần áo cùng kiểu, cùng màu. Mặc vào, bạn bè ác miệng chọc: "Trông chúng mày như hai đứa trẻ mới bước ra khỏi viện mồ côi." Mẹ cô biết được an ủi: "Giống sinh đôi các con ạ." Từ hôm đó, mẹ mới chịu bỏ thói quen này!

Sang Mỹ, cha mẹ anh chị em cả thảy tám người, mỗi người lìa một ngả. Chỉ có Hương vẫn chịu khó rù rì điện thoại với cô, hai người cà kê từ chuyện chồng ngủ ngáy bể nhà đến chuyện con trở chứng đi tướt. Ngay cả tới tháng, đau bụng cũng đem ra tả oán... Thế mà thành thói quen, không nói chuyện nó hổng chân làm saó? Rồi nói chuyện qua điện thoại cũng chưa đủ. Mỗi độ Hè sang, chị em cô gọi nhau ơi ới, hẹn ngày lành tháng tốt đưa bầu đoàn đi Florida xả hơi. Ðể mặc lũ con nít chơi chung, hai chị em ngồi nói chuyện đời. Những lúc này, Hương hay tâm sự: "Em có cảm tưởng chị em mình là hai người duy nhất còn lại trong nhà. Càng ngày càng thấy xa cách cha mẹ và những anh chị em khác!". Cô cất giọng kẻ cả, phân tích: "Ðầu dây mối nhợ, cũng vì không chịu khó liên lạc với nhau thường xuyên. Không cứ gì bạn bè, người yêu. Cha mẹ anh chị em ruột cũng vậy. Cổ nhân bảo là... là... Xa Mặt Cách Lòng mà!" Mỗi khi bàn đến gia đình, cô và Hương đều bị kẹt cứng. Mấy lần hai cô nghĩ cách kéo gia đình lại gần nhưng cuối cùng, những vấn đề... không quan trọng thường bị quên lửng ngay sau khi bàn bạc!

Ðùng một cái, cha cô bị tai biến mạch máu não, phải nằm nhà thương cả tháng. Ông nhăn mặt khi cô gọi điện thoại hỏi thăm, "Bố sợ nằm liệt trong bệnh viện còn hơn sợ chết con ạ!". Nghĩ sao, ông thở dài: "Gia đình vợ chồng con cái bây giờ mỗi người một nơi, thật khó đi thăm. Bây giờ bố chỉ mong có dịp gặp lại cả nhà cùng một lúc!". Có lẽ đây chính là cơ hội cho gia đình xích vào nhau. Cô nhanh nhẩu: "Tưởng gì chứ chuyện đó dễ thôi. Con sẽ tụ tất cả lại, chụp một lô hình, có mẹ và sáu anh chị em. Bố ngồi giữa chưng đủ mười ngón tay ra ngoài." Rồi cô cười cợt hẹn bừa một ngày gặp gỡ ở Tiểu Saìgòn cho bố vui. Nói chuyện với bố xong, cô kể ý định cho chồng rồi kết luận: Ðiều bố mong muốn quá đơn giản. Không làm được thì thật đáng tiếc. Chồng cô gật gù, "Gia đình lúc này còn đông đủ, không lo gặp nhau, sau lỡ có chuyện gì, ăn năn không kịp. Nói dại, không chừng đây là ước nguyện cuối của bố đấy!"

Tối, cô gọi điện thoại một tua. Kết quả không mấy khả quan như cô tưởng. Cô rầu rĩ kể lể với Hương:

"Rủ mẹ đi, mẹ thoái thác ngay."

Hương hỏi:

"Mẹ có nói tại sao không?".

Sẵn đương bực mình, giọng cô dấm dẳn:

"Lý do nào cũng vậy. Không i vẫn hoàn không đi!"

Tự nhiên thấy mình gắt gỏng với em cũng kỳ, cô nhỏ giọng lại:

"Thì bận và mệt ấy mà!".

"Thế còn chị Hoàng, anh Ánh?"

Cô cười gượng:

"Chị Hoàng phải trực nhà thương, không hứa chắc. Còn anh Ánh thì Ô kê ngay nhưng chị nghi cái ông lông bông nói "ừ" cho qua chuyện."

Hương an ủi:

"Mẹ không đi thì sáu anh chị em cố gặp bố vậy. Ðược người nào hay người ấy chị à!"

Cô miễn cưỡng đồng ý. Trước khi đặt ống nghe xuống cô cẩn thận dặn em:

"Kéo được anh Ánh, chị Hoàng là tạm coi như đầy đủ. Hai đứa ở Cali, chị giao cho Hương. Em nhớ nói sớm kẻo chúng bỏ đi chơi hoang vào ngày hội ngộ thì khốn!"

Hương đùa:

"Nghe rõ trăm phần trăm. Xin tuân lệnh xếp!"

Cô phì cười!

Tưởng mọi sự xuôi buồm thuận gió, tháng sau Hương báo hung tin: Mạc, em út trai muốn cùng vợ con đi Mễ Tây Cơ chơi đúng tuần cả nhà xum họp. Cô kêu ầm lên trong điện thoại: "Cho nó hay trước mấy tháng trời để có thì giờ tính toán và thay đổi chương trình đi chơi nếu cần. Giờ lại muốn cái gì kỳ vậý? Ðể chị kêu chị Hoàng nói chuyện với nó." (Trong nhà, Mạc ngán nhất chị Hoàng!). Hương được dịp, lồng lên mắng rủa: "Nhiều người phải bỏ tiền mua vé máy bay để gặp nhau còn nó thì cơm mời tận miệng, không phải lê xác đi đâu, thế mà bây giờ còn nổi chướng bất tử không chịu ngồi yên hưởng. Cái thằng tình nghĩa to như hột na. Trái tim chui tọt xuống đít, cứt lộn lên đầu... sau này con cái đứa nào cũng bất hiếu cho biết thân!". Cô nhẹ nhàng khuyên Hương: "Chắc Mạc thể nào cũng có lý do rất chính đáng. Mình thông cảm cho nó, Hương ạ! Ðàng nào cũng là em, thôi độ lượng hỉ xả để đức cho con mà...". Nói thế nhưng cô cũng nóng tai lắm. Tội nghiệp cho bố, con cái bố thế đấy, nuôi cho lớn, bây giờ muốn gặp cũng không xong. Thảm quá!

May ghê, chị Hoàng không biết đe nẹt những gì, ông con trai út hoảng vía đổi ý, hứa sẽ ở nhà chờ phó hội bàn đào. Cô vừa thở hắt xong là lo hối anh Ánh mua vé máy bay. Cô gọi nhắc anh ngày một. Lần nào cô cũng la toáng lên:

"Trời ạ! Anh chờ phú lít thổi còi mới chịu gọi hãng hàng không sao đây!"

Anh cô vẫn xuề xòa:

"Còn ối thời giờ. Chưa chi đã la làng!".

Cô loay hoay vất vả như con thoi. Vừa nghe tin anh mua được vé thì cô nhận điện thư của chị Hoàng: "Tên đồng nghiệp nhận lời giúp chị, bị lên bàn mổ đúng tuần trực. Chắc không đi được em à!". Cô nghe đến đây, buông người đánh phịch xuống đất. Chán nản. Chiều đến, chị cô gọi điện thoại nhắn, "Mới kiếm ra đứa khác chịu trực dùm, nhất định chị sẽ đi được." Cô có cảm tưởng ngồi trên chuyến xe đầy những mô đất và ổ gà. Nó nhồi cô đến gần đứt hơi!

Cuối cùng cái ngày đẹp trời ấy kết nụ đơm hoa: Bố cô đáp máy bay xuống là được cả nhà dàn hàng chờ sẵn. Thiếu mẹ, mặt bố tối lại nhưng khi ông ôm các con trong lòng, đôi mắt ông như có lửa, sáng rực. Cô Út, con gái rượu của ông, đề nghị ra công viên bách bộ cho dãn gân. Ông đồng ý ngay. Thế là mấy anh chị em ra công viên bày trò nhố nhăng, xếp hàng từ lớn đến nhỏ tuổi nhất coi có khác thời nối đuôi chờ tiền mừng tuổí? Nhìn những mái đầu cao thấp không đều, em út lớn xác hơn chị cả, anh lùn hơn em cái đầu... Cha cô ôm bụng cười ngất, mái tóc bạc rung phất phơ. Kéo thêm lũ cháu nội ngoại chất chung quanh ông, lô nhô lốc nhốc, đông như một đội bóng rổ. Thế là bấm máy chụp hình loạch xoạch. Lũ con gái chụp với bố riêng, lũ con trai chụp tấm khác, khuỳnh tay gác chân lên gốc cây cho oaí . Rồi bố ra chụp hình với cả trai lẫn gái, ông ngồi với các cháu nội ngoại... tính ra không thiếu kiểu nào. Tấm nào cũng thấy bàn tay mười ngón của bố đặt trên đùi. Ông hể hả, móm miệng cười mãi!

Trong bữa cơm gia đình (tạm gọi là đông đủ), cô tiếp cho cha một miếng nấm đông cô, khề khà nhắc: "Mới ngày nào ở Ðàlạt, anh Ánh phi cái chất gì không biết mà lái xe leo lề, tông hết cây mai này đến cây mai khác. Út Thái cả ngày lang thang với hai mẹ con chó Mực. Hương thì chuyên môn vô bếp phụ chị Ba, làm chị ấy cứ khen nó đảm đang. Nghe mãi phát nhột trong bụng.... Chị Hoàng bây giờ còi người chỉ vì hay đi bộ đi chợ. Tay vác giỏ nặng, chân leo dốc cao. Nhìn hai bắp đùi chị lên gân cuồn cuộn mà... thương vì biết chị ráng tiết kiệm để mua quà chợ cho lũ con nít." Nói đến đây, cô quay qua khoe chồng: "Anh biết không? Chị Hoàng hồi xưa còn là tay vô địch chạy bộ, chuyên vác roi rượt đánh Mạc. Giờ đây nó lớn tướng, một vợ hai con, đi đứng chững chạc lại thêm bộ ria Hitler. Bố bảo cũng không dám gây sự!"

Chị Hoàng cười méo mó. Không tưởng tượng hồi xưa mình dữ đòn với Mạc thế. Lấy cả cọc mùng phạng vào chân em. Cọc mùng gãy làm hai, em chị vừa đi cà nhắc vừa khóc. Bây giờ con hư, chị không nỡ động đến sợi tóc của chúng! Nghĩ tới đây chị rưng rưng lệ. Những kỷ niệm cách đây gần ba mươi năm kéo về cùng với hình ảnh những lằn roi hằn trên lưng em. "Vết thương lòng của Mạc chả biết có còn rát?", Chị tự hỏi. Rồi chị âm thầm nhìn Mạc đang cùng cả nhà tranh nhau nhắc lại chuyện cũ, lòng ngập tràn một cảm giác êm đềm. Chị tưởng tượng mình như một con chim chắp cánh bay quá xa, mệt mỏi rã rời. Tình cờ tìm thấy đàn. Bừng nhựa sống, dựa vào đàn chim cùng lao vào... Tiếng cụng ly kéo chị trở vào... bàn ăn! Chị đưa ly lên cao, tuyên bố: "Khi nào muốn xum họp gia đình, nói chị một tiếng, chị sẽ bỏ hết công việc để đến với cả nhà. Có cơ hội ngồi bên nhau mới thấy quý những phút giây không ai mua nổi..." Ðến đây, giọng chị nghẹn lại. Cô chớp đôi mắt mọng: Những cố gắng của cô đã được đền bù!

Mạc nâng ly cười cười, "Chắc chị Hoàng vẫn bị lương tâm cắn về vụ đánh đòn em? Hồi đó em chạy còn dở, sau vụ cọc mùng là chị hết rượt nổi em. Hà hà. Em còn nhớ Tết nào cũng thuổng tiền lì xì của chị Hương, chị Thu. Còn chôm tem sưu tầm của chị Thu đem bán nữa!". Cô nghe đến đây, lặng người. Những bộ tem của cô hồi đó không cánh mà bay, cô lật cả nệm giường kiếm vẫn không ra. Quay quắt như điên như loạn. Bây giờ mới lòi ra thủ phạm. Cô nuốt miếng cơm không vô nổi. Nhớ đến những ngày khó nhọc, bao nhiêu mồ hôi nước mắt bỏ vào từng con tem hiếm. Ðội nắng ròng rã đi xin bì thư có dán đủ loại cò chết để đem bán cho dân buôn tem. Rồi những buổi trưa oi nực, cô nhoài người đào đất nhổ cỏ dại trong vườn nhà. Ðược mẹ trả công cho ít chục để mua những bộ tem đóng dấu ngày phát hành đầu tiên. Chắt chiu ơi là chắt chiu. Thế mà nó vác cả mớ đi phát mại cái sột. Ðã vậy, còn chưa chắc bán được giá mới đau chứ! Cô gượng cười cay đắng tự an ủi. Thôi chuyện cũ xì mốc thếch, bây giờ mấy con tem đó cũng chẳng đưa qua được tới Mỹ. Bụng nói thế mà lưỡi cô sao cứ chát lè?

Tàn buổi tiệc, cả nhà chia tay bịn rịn ở cửa rất lâu. Mạc lại gần cô. Ngần ngừ vài phút, Mạc rụt rè khoác tay lên vai cô siết nhẹ, khẽ nói: "Cám ơn chị nhiều. Em sẽ không quên ngày hôm nay!". Cô định giơ tay đón em vào lòng nhưng có một sức mạnh vô hình chặn lại. Cô than thầm, "Khổ quá! Phải chi đây là Hương thì đỡ biết mấy." Với Mạc, cô vẫn còn hận đứa em bất hiếu, thà đi Mễ Tây Cơ chơi còn hơn ở nhà gặp người thân. Sau đó, lại chen thêm những chuyện phụ: Ăn cắp tiền, bán tem... Cô thấy Mạc lúng túng đến đáng thương nhưng cô vẫn cúi đầu, không đáp trả vòng tay của em.

...

Máy bay cất cánh vào khoảng không gian đen quánh. Bên trong, ngoài tiếng máy bay ì ầm, chỉ có tiếng thở dài, lùng bùng ở tai cô. Cô nhớ buổi gặp gỡ ngắn ngủi, nhớ khuôn mặt thân yêu bắt đầu héo tàn của cha, nhớ dáng dấp, giọng cười của các anh chị em và đặc biệt là vòng tay thương yêu của Mạc. Càng soi lại lòng, càng giận mình tâm địa hẹp hòi. Bao lâu cứ tưởng "độ lượng" đã chảy vào tim, hòa trong máu. Hoá ra nó chỉ được cô dùng để thoa phơn phớt lên môi làm dáng với đời! Gục mặt vào tay, cô tưởng tượng quay trở ngược lại cảnh cũ. Chưa chắc cô đã phá được bức tường cố chấp để ôm lấy Mạc. Từng giọt nước mắt bất lực chợt vỡ ra từ khoé mắt cô...

Thu-thuyền
(4/2000)
thuthuyen@yahoo.com



Truyện Rất Ngắn

Nguyễn Ngự Bình



1. Ðổi Ðời I

Làng tôi nghèo lắm, nên nhà nào có con gái cũng đều ước mơ có mơ có Rể Việt Kiều đến hỏi.
Nhà chị cũng không ngoại lệ. Mặc dù rất nghèo, nhưng Ba chị không cho chị giãi nắng dầm mưa mà chỉ để chị quanh quẩn trong nhà làm chút việc nhà thôị Ba chị muốn chị thêm trắng da dài tóc, đặng có Việt Kiều đến rước.
Một hôm, có người hàng xóm dắt một anh bà con Việt Kiều từ Ðức sang chơi. Dáng anh thấp thấp đen đen, mặt thì rỗ chằng rỗ chịt. Anh cho biết ý định muốn hỏi cưới chị, vì anh nghe đồn chị đẹp nết lại đẹp người. Ba chị nghe thế thì vui lắm, tức tốc nhận lời mà không cần hỏi qua ý kiến của chị. Sau đó chỉ nói với chị rằng:
- Ðẹp trai đi bộ cũng không bằng mặt rỗ đi xe hơi đâu con. Con phải thuận ưng, trước là được nhàn nhã tấm thân, sau là để cho Ba Mẹ và các em có cơ hội được đổi đời với người ta. Ðó cũng là cách con báo hiếu cho Ba Mẹ.
Chị không nói gì, chỉ lặng lẽ gật đầu rồi vào phòng. Ðám cưới đám hỏi rình rang, sau đó thì chị xuất ngoại theo chồng qua Ðức.
Ngày chị qua Ðức, tôi có biết và có điện thoại hỏi thăm chị, hẹn chị sẽ đến thăm chị sau.
Gần một năm qua, mãi đến hôm nay tôi mới có dịp lên thăm chị bởi chị ở cách tôi cả gần 600 cây số.
Chị tiếp tôi có một mình vì anh đi làm chưa về. Nhìn chị mà tôi nghẹn lời. Trước mắt tôi bây giờ là một người đàn bà gầy rạc, già nua xấu xí, tóc tai luộm thuộm lại còn móm. Trên người lại có nhiều vết bầm tím.
- Chị có viết thư về cho hai bác biết không ?
- Viết làm gì em, chỉ làm cho nhà thêm lo laị cũng giúp được chị gì đâụ Vã lại, chị đang đổi đời mà, em không thấy
sao?
Nói xong, chị gục đầu vào vai tôi, nức nở ......



2. Ðổi Ðời II


Ở Việt Nam, nhà chị có của ăn ca để, chị lại đẹp người, nhưng chị nói chị phải sang nước ngoài để tìm kiếm màu hồng, chớ chị ở Việt Nam thì suốt đời cũng chỉ thấy màu đen. Bởi con trai quốc nội hiện nay rất có nhiều điều kiện ăn chơi, hư hỏng, bia ôm, nhậu nhẹt nọ kia. Nên nếu ở Việt Nam chị sẽ khó kiếm được một tấm chồng tốt để gởi thân.
Chị được toại nguyện. chị đi du lịch qua Hòa Lan, sau đó chị trốn qua Ðức ở lậu nhà Dì ruột và chị đã quen được anh, một sinh viên mỹ thuật sắp ra trường.
Tình cảm hai người tiến rất nhanh, anh rất yêu chị, anh chiều chị lắm, chị thích gì chị muốn thứ gì anh cũng ráng đáp ứng được cho chị. Rồi chị có thai, anh phải bỏ việc học nửa chừng để đi làm nuôi chị nuôi con và lo giấy tờ cho chị Anh làm tất bật, thêm giờ thêm ca đủ thứ, khi về đến nhà còn phải phụ chị nấu cơm dọn dẹp, vì chị than chị hay bị nhức đầu. Chị thường nói với Dì của chị:
- Con đố Dì anh Tuấn dám bỏ con, con có lừa dối ảnh chuyện gì, nói ra ảnh cũng bỏ qua. Mấy lần rồi đó Dì.
Dì chị không nói gì, chỉ khuyên chị cẩn thận khôn khéo mọi chuyện. Chị dạ dạ mà lòng nghĩ Dì lẩn thẩn khéo lo xa. Gần sắp đến ngày sanh, chị nói với anh là đứa bé không phải là máu mủ của anh, tác giả là ai chị cũng không biết. Anh ngỡ ngàng, đến nước này thì anh không còn nhịn được nữa, anh xách gói bỏ nhà ra đi. Chị dửng dưng, ỷ y là anh sẽ không dám bỏ chị đi lâu, lát nữa về không chừng còn phải xin lỗi chị.
Lần này thì chị đã lầm, anh trốn đi luôn không về. Chị bàng hoàng vội đi tìm kiếm để năn nỉ, không gặp. Anh , chị đã khóc thật nhiều.
Ngày chị sanh, không có ai bên cạnh, ngay cả Dì của chị cũng từ chị luôn không nhận bà con họ hàng nữa.
Sanh xong, chị phải đưa con vào viện mồ côi vì bị trở về Việt Nam bởi chị chưa xong giấy tờ ở lại hợp pháp. Ngày lên máy bay, có người thấy dáng chị đổ dài liêu xiêu trên mặt nắng chiều gần tắt rồi bước vào phòng cách ly, mất hút ... tối thui ......


Tùy Bút

3. Viết Nhật Ký Cho Mẹ


Ngày ...Tháng ...Năm...
Mẹ sinh ra trong một gia đình giàu có lại là con một nên được cưng chiều hết mực. Năm Mẹ 3 tuổi thì bà ngoại bị bịnh qua đời . Với nỗi đau mất mát ấy đối với Mẹ lúc đó vẫn chưa cảm nhận được . Ngày đám tang bà, Mẹ vẫn vô tư cười khi thấy người nhà cột vành khăn trắng lên đầu cho mình.

Ngày ...Tháng...Năm...
Mãn tang bà ngoại . Tháng sau ông đưa một người đàn bà về nhà rồi nói Mẹ gọi là "Dì", ông còn nói vì ông phải đi làm ăn xa không có nhiều thời gian chăm sóc Mẹ, tương lai Dì sẽ thay ông làm việc đó. Nhưng người xưa đã từng nói: "Mâý đời bánh đúc có xương , mấy đời Dì Ghẻ mà thương con chồng " . Tuy bà ngoại kế không cay nghiệt và ác độc như Tào Thị trong chuyện Phạm Công - Cúc Hoa nhưng cũng làm cho cuộc đời của Mẹ thay đổi.

Ngày ...Tháng...Năm...
Mới 10 tuổi mà Mẹ đã quen việc đồng áng , nấu cơm, bổ củi. Không lúc nào Mẹ được nô đùa với các bạn đồng lứa. Hết phải làm cái này đến làm cái kia , vậy mà vẫn bị tiếng chì tiếng bấc. Phải chi bà ngoại còn sống thì Mẹ đâu bị già trước tuổi, ai nhìn Mẹ cũng tưởng Mẹ đã 15-16 tuổi rồi. Mẹ vừa gầy vừa đen . Ông ngoại đi buôn mấy tháng thậm chí nửa năm mới về một lần, lần nào cũng mang sơn haò hải vị, bào ngư vi cá về cho Mẹ tẩm bổ. Những thứ đó Mẹ có khi nào được nhìn thấy đừng nói đến ăn . Ngày nào Mẹ cũng ăn cá lòng tong kho mặn và chút canh cặn. Mẹ không dám than với ông vì sợ ông buồn cũng như sợ những lằn roi của Dì khi ông vưà bước ra khỏi cửa .

Ngày ...Tháng ...Năm....
Chiến Tranh .
Mẹ bị thất lạc, theo giòng người xô bồ, Mẹ di tản vào Nam với gia đình ông chú. Ông hay tin vội chạy đi tìm Mẹ về nhưng lúc đó Nam - Bắc đã chia đôi không cách nào đi lại.
Ngàỵ..Tháng...Năm...
Mẹ lấy chồng năm 18 tuổi . Cuộc sống lứa đôi với trách nhiệm làm dâu , làm vợ và làm mẹ của Mẹ lại đổ lên vai gầy của Mẹ.

Ngày ...Tháng ...Năm...
Mùa Hè đỏ lửa, tất cả mọi người đều trong cơn khủng hoảng không biết số phận mình và đất nước ra sao. Ở nhà Mẹ đứng ngồi không yên, Mẹ lo cho Ba sợ Ba xảy ra chuyện gì không.

Ngày ...Tháng ...Năm ...
Miền Nam bị mất , Ba cũng như các bạn đồng nghiệp được đi "đếm lịch" . Mẹ ở nhà với 5 đứa con thơ và ông bà Nội. Ðôi vai của Mẹ vốn gầy nay gầy thêm. Ðôi mắt đã sâu giờ thêm vết hằn . Mẹ buôn gánh bán bưng, làm quần quật suốt ngày mà vẫn bữa đói bữa no, còn phải lo thăm nuôi cho Ba . Ðời sống khó khăn nhọc nhằn như thế mà chưa bao giờ thấy Mẹ than mệt hay tủi thân cho số phận của mình .

Ngàỵ..Tháng...Năm...
Ông ngoại vào Nam thăm Mẹ.
Ông đã bị phá sản, đấu tố. Dì cũng đã bị khủng hoảng đến độ suy nhược thần kinh . Mẹ khuyên Ông và Dì vào Nam sống với Mẹ nhưng Ông không chịu. Ông không nỡ xa miền Bắc cũng như không nỡ xa quê, nơi mà Ông đã gắn bó gần hết cuộc đời. Mẹ chạy đi vay được cho Ông 100 đồng rồi tiễn Ông ra xe, hôn Ông. Ðó cũng là lần cuối cùng Mẹ gặp Ông.

Ngày ...Tháng ...Năm...
Ba được thả sau gần 10 năm trời, không biết trong những ngày đó Ba đã sống như thế nào mà giờ thân thể Ba tàn tạ quá đỗi.

Ngày ... Tháng ...Năm...
Gia Ðình dừng chân trên đất khách . Ðã đến bến bờ tự do. Nhưng ...
Nếu ở đời không có chữ "nhưng" thì hay biết mấy. Vừa đến xứ người Mẹ phải vào cấp cứu ở nhà thương. Cả nhà nóng ruột chờ ở ngoài vì không biết Mẹ bịnh gì. Khi bác sĩ ra báo bịnh trạng của Mẹ khiến cả nhà kinh hoàng : Mẹ bị ung thư bao tử, đã đến giai đoạn cuối .
Giọng nói đau lòng của Ba cứ văng vẳng bên tai tôi " vướng vào ung thư thì không thể sống lâu được, không biết Mẹ của các con sẽ đi lúc nào ". Trời ơi, không .., không thể nào, Chúa ơi ! Xin hãy cho Mẹ con hưởng điều ngoại lệ ....


Nguyễn Ngự Bình



NỬA VẦNG TRĂNG XẾ

CHU SA LAN


Nguyễn ngồi im.Ly cà phê phin nhỏ từng giọt chầm chậm.Thứ bảy.Sáu giờ chiều.Nắng hanh vàng rơi rớt trên tàng cây me xanh lá ngoài đường.Rút điếu thuốc Lucky,gõ nhè nhẹ lên mặt bàn,thong thả đưa lên miệng anh bật diêm.Khói thuốc lãng đãng trong không khí ẩm ướt.Trời như muốn mưa.Tiếng sấm gầm xa thật xa.
Nguyễn khẽ thở dài.Ðời giáo chức của tỉnh Biên Hòa nhàn hạ.bình lặng.trống rỗng.nhàm chán.Ngày hai buổi tới trường.nhìn thấy những khuôn mặt quen thuộc.nhai đi nhai lại hằng ngày những lời giáo huấn mà anh biết sẽ không còn có nhiều ảnh hưởng với học trò.Ðám học trò đệ nhị.đệ nhất đang có nhiều lo âu và suy tư hơn môn học công dân giáo dục.Ðám học trò mới lớn của anh chúng bận tâm về chiến tranh.về tình yêu.bàn tán về chuyện thi rớt phải bị bắt đi lính.Chiến tranh đang trùm phủ lên toàn đất nước.nghe hoài hủy trên đài phát thanh.đọc nhan nhản trên báo chí.
Nguyễn ngước nhìn người lính Biệt Ðộng Quân bước vào quán.Bộ quân phục bạc màu.Ðôi giày trận lấm bùn.Mái tóc vàng cháy.Khuôn mặt xạm nắng.Ðôi mắt ngác ngơ.Người lính trận trông xa lạ.lạc loài.Nguyễn liên tưởng tới bạn bè.tới anh mình.Ðâu đó nơi vùng hẻo lánh hoang vu.Ðâu đó trong rừng rậm ngút ngàn.Ðâu đó trên núi cao chớn chở.Ðôi mắt lờ đờ thiếu ngủ.Quần áo nồng mồ hôi lâu ngày chưa giặt.Anh ngồi co ro trong hố cá nhân.Anh vật vã dưới cơn pháo kích.
Ngồi xuống ghế bên cạnh người lính chiến gật đầu cười chào Nguyễn.Nụ cười thật buồn.thật bơ vơ.Nguyễn cũng cười hỏi:
    -Anh từ đâu tới?
Ðốt điếu thuốc hít hơi dài người lính Biệt Ðộng Quân giơ tay chỉ vào rặng núi xa mờ.
    -Trong đó...Ba tháng mười một ngày...
Nguyễn cười:
    -Anh nhớ kỹ...
Người lính gật đầu:
    -Tôi đếm từng ngày...
    -Chắc đánh nhau với Việt Cộng dữ lắm...
    -Mỗi ngày...
Nhìn Nguyễn giây lát người lính nói:
    -Nếu không có chi phiền tôi mời anh mấy chai bia...
    -Cám ơn anh...
Cầm ly cà phê Nguyễn ngồi vào bàn của người lính.
    -Tôi tên Hoàng...
    -Nguyễn...
Hoàng gọi hai chai 33.Rót bia vào ly anh nhìn Nguyễn:
-Mời anh...
Hoàng cạn ly.
-Ở trong rừng lâu quá đâm ra thèm đủ thứ.Thèm tô canh chua.cá kho tộ.chén cơm trắng...
Ðón lấy chai bia Hoàng cười tiếp:
    -Thèm tô phỏ Pasteur.thạch chè Hiển Khánh...Phải đi xa.đi lâu mình mới nhớ Sài Gòn...Anh ở Sài Gòn?
Nguyễn gật đầu:
    -Làm sao anh đoán tôi ở Sài Gòn?
Hoàng cười nâng ly bia.
    -Tôi ngửi được mùi Sài Gòn nơi anh...
Hoàng cạn ly.Nguyễn nhận thấy người lính chiến mới quen dường như uống không phải để vui mà để say.để quên điều gì muốn nhớ.hoặc để tận hưởng thời gian quí báu.ngắn ngủi nơi thành phố.
Trời tối.Người đi lại thưa thớt.Uống cạn ly bia Nguyễn mời Hoàng về gác trọ của mình uống tiếp.Hoàng nhận lời không do dự.Tạt vào tiệm tạp hóa Nguyễn mua bia.thuốc lá.mấy con khô mực.mấy trái bưởi.
Hai người ngồi nơi lan can.Ánh trăng thượng tuần mông lung vàng đổ.Cây hoàng lan lất lây trong gió đêm.Không gian im vắng.Hai người im lìm uống.Chỉ có đầu thuốc cháy đỏ.Nguyễn liên tưởng đến hai câu thơ của thi sĩ Bích Khê:" Ngồi suốt đêm trường không nói năng.Ngậm ngùi chén rượu ánh vầng trăng..."
Hoàng chợt buông tiếng thở dài hắt hiu.Diêm quẹt cháy bùng.Qua ánh sáng mờ mờ Nguyễn thấy mắt người bạn mới quen dường như có lệ.
    -Anh chắc đã yêu?
Hoàng hỏi.Nguyễn gật đầu.Uống hơi bia giọng anh chầm chậm:
    -Quen nhau từ trung học.Lớn lên càng thấy cách biệt.Dường như tôi với nàng đều đổi thay.Rồi cuộc tình đổ vỡ dù hai đứa muốn hàn gắn.Tôi nghĩ hàn gắn cũng vô ích.Rồi nàng đi lấy chồng.Thế thôi...
Hoàng lại thở dài.Tiếng thở dài buồn. thật buồn.Nguyễn không đủ ngôn từ để diễn tả tiếng thở dài này.Hoàng rót bia đầy ly.Anh đưa ly bia lên ngắm nghía.Anh uống cạn ly.Suốt đêm đó dưới ánh trăng thượng tuần vàng đổ trên áo.trong cơn say chập chờn gãy vỡ. Hoàng kể cho Nguyễn nghe một chuyện tình...
Nắng trưa vàng hực.Gió man mát.Hoàng đứng nơi chân đồi.Ðốt thuốc.hít hơi dài.nhả khói từ từ.anh nhìn quanh quất.Trước mặt rặng Trường Sơn xanh mờ.Sau lưng biển mênh mông.Bên phải đầmTràỔ nước xanh biêng biếc.Bên phải con đường đất đỏ uốn khúc.Không gian tĩnh mịch.Mái ngói rêu mốc của ngôi chùa hiện ra.Hoàng suy nghĩ bâng quơ.Sau khi đánh bật Việt Cộng ra khỏi làng Sa Huỳnh trung đội của Hoàng đóng dưới chân đồi giữ an ninh cho tới khi nào tình hình yên ổn sẽ bàn giao lại cho đơn vị bạn.Lúc này chiến sự đã đi vào giai đoạn cuối cùng của tổng công kích Mậu Thân đợt 2 nên anh có nhiều thời gian rỗi rảnh.Uống rượu hoài cũng chán.Nằm võng đọc sách báo mãi cũng chán Hoàng muốn làm gì khác cho qua thời giờ.
Anh định lên thăm ngôi chùa của làng Sa Huỳnh.Theo con đường mòn anh thong thả leo đồi.Cỏ mọc um tùm.Hoa dại lấm tấm.Trời xanh ngắt.Chốc sau anh lên tới đỉnh đồi.Ngôi chùa cũ kỷ hiện rõ.Chiếc cổng xiêu vẹo.Sân chùa cỏ mọc lan khắp nơi.Hoàng đi vòng qua bên hông.Anh dừng lại nơi giếng nước.Kéo một gàu Hoàng vốc nước rửa mặt rồi đưa gàu lên uống.
    -Mô Phật...
Hoàng ngước lên.Nắng đổ chan hòa.Trong màu nắng lung linh hiển hiện khuôn mặt của một ni cô trẻ tuổi.Ðường nét thanh tú.dịu dàng.Ánh mắt thăm thẳm.long lanh.Nụ cười buồn.thật buồn.Hoàng đứng im.tâm hồn bềnh bồng.trôi nổi vào vùng trời xa la ngạt ngào hương phấn.có lá có hoa.có cỏ có cây.âm thanh thoảng đưa mơ hồ.giọng cười mật ngọt.trầm ấm.thiết tha.
    -Mô Phật...
Tiếng nói của người ni cô đưa Hoàng ra khỏi mộng mơ.Hơi có vẻ thẹn thùng khi thấy người lính chiến xa lạ nhìn mình đăm đăm người ni cô cất giọng thánh thót:
    -Tôi mời ông vào trong chùa dùng chén trà và đàm đạo cùng sư cụ...
Hoàng lẳng lặng gật đầu bước theo.
    -Thưa...Chùa này tên là gì thưa ni cô?
Hoàng hỏi nhỏ.
    -Mô Phật...Chùa tên Sa Huỳnh thưa ông...
    -Thưa ni cô pháp danh là gì?
Ni cô quay lại nhìn Hoàng mỉm cười.Người lính Biệt Ðộng Quân trưởng thành trong khói lửa chiến tranh cảm thấy tâm hồn xuyến xao.rung động.Nụ cười có sức mạnh hơn quả lựu đạn nổ ra hủy phá từng tế bào trong cơ thể.Hoàng như mê.cơn thiếp mê bằn bặt của đời lính khô cằn.bọt bèo.ngắn ngủi.
    -Thưa ông...Pháp danh của bần ni là Sa Huỳnh...
    -Thưa ni cô...Tôi tên Hoàng...Tôi đóng dưới chân đồi...
Giọng nói trầm ấm song chất chứa buồn rầu của ni cô Sa Huỳnh vang vang trong nắng:
    -Tôi biết...Mấy hôm trước nghe súng nổ tôi sợ lắm.Sau đó mới yên tâm vì được ông giải thoát khỏi tay kẻ vô thần.Tôi xin cám ơn ông...ông Hoàng...
Quay lại nhìn Hoàng thật nhanh rồi ni cô Sa Huỳnh cúi đầu bước.Hai người vào tơi hậu liêu.Vị sư trụ trì đứng đón nơi cửa.
    -Mô Phật.Thay mặt tất cả tăng ni sư sãi trong chùa bần tăng xin cám ơn thí chủ cùng các chiến hữu đã giải thoát cho mọi người khỏi bàn tay sắt máu của kẻ vô thần...
    -Thưa sư cụ...Tôi chỉ làm nhiệm vụ của một người lính trận...
    -Bần tăng kính mời thí chủ vào hậu liêu dùng trà và đàm đạo mấy câu...
Sư cụ mời Hoàng ngồi.Ni cô Sa Huỳnh đứng hầu trà.
    -Thưa sư cụ tôi thấy chùa dường như không có ai trừ...
Hiểu ý của Hoàng sư cụ ôn tôn giải thích:
    -Khi Việt Cộng về chiếm làng chúng bắt sư thì cầm súng hoặc đấp mô gài mìn còn ni cô phải khiêng đạn.Vì thế có người bị chết hoặc lén lút trốn ra vùng an ninh của quốc gia.Chỉ còn bần tăng và ni cô Sa Huỳnh không đi được nên nấn ná ở lại đây...May có ông cùng anh em tới kịp lúc nếu không bần tăng...
Sư cụ thở dài nhìn ra khung cửa sổ.Ðèn dầu mờmờ.Hoàng thấy đôi mắt của ni cô Sa Huỳnh lung linh mờ ảo trong góc tối thầm lặng.Không khí tịch mịch.cô liêu.buồn tẻ.Thật lâu sư cụ mới nói:
    -Bần tăng mời thí chủ lưu lại chùa để dùng bữa cơm chay đạm bạc chiều nay.
Hoàng nhận lời không do dự.Trời xâm xẩm tối ni cô Sa Huỳnh dọn lên bàn bửa cơm chay.Trong lúc ăn uống sư cụ nói cho Hoàng biết chùa Sa Huỳnh thuộc thiền phái mà tổ sư sáng lập chính là thiền sư Vô Ngôn Thông.Hai người một tăng,một tục;tuy mới gặp nhau song trò chuyện rất tương đắc.Sư cụ tỏ ra kinh ngạc cho sự hiểu biết của Hoàng về triết lý Phật giáo nhất là những giai thoại lý thú về thiền.Ngược lại Hoàng cũng thán phục những tư tưởng mới mẻ,cởi mở của vị sư già khi nói tới khía cạnh nhập thế của kẻ tu hành.Sau bữa cơm lại tới tuần trà.Hoàng lưu lại tới gần nửa dêm mới ra về.Sáng mai anh trở lại chùa mang theo nào gạo,muối,đèn nhang và các vật dụng linh tinh mà anh biết ni cô Sa Huỳnh và sư cụ rất cần trong cuộc sống hàng ngày.Không muốn nói mình xuất tiền túi ra mua nên Hoàng nói là của anh em trong trung đội hùn nhau lại mua biếu chùa.Sư cụ hoan hỉ thu nhận.Từ đó Hoàng trở thành người khách quen thuộc.Dù vẫn còn khoảng cách của kẻ tu người tục song ni cô Sa Huỳnh và Hoàng có nhiều dịp trò chuyện,thăm hỏi để hiểu biết và thông cảm với nhau.Riêng Hoàng càng gần gũi,quen biết anh càng cảm thấy xao xuyến.luyến lưu nhiều hơn.Tình cảm như cơn nước lũ mùa mưa theo thời gian lớn dần...
Rồi một buỗi chiều Hoàng lên chùa gặp sư cụ báo tin đơn vị của anh sẽ rời làng vào sáng sớm ngày mai.Sư cụ ôn tồn bảo:
    -Có tụ thời phải có tan.Cái duyên hội ngộ giữa bần tăng và thí chủ sẽ là một giai thoại.Bần tăng sẽ cầu Phật tỗ che chở cho thí chủ trên bước đường chinh chiến...
Nói lời cảm tạ Hoàng xin phép sư cụ đi gặp ni cô Sa Huỳnh để từ giã.Vòng ra hậu liêu Hoàng thấy ni cô Sa Huỳnh đang đứng bên giếng nước.
    -Thưa ni cô...
    Ðạ ông Hoàng...
Ni cô Sa Huỳnh ngước nhìn Hoàng.Ánh mắt người thăm thẳm.
    -Tôi biết sẽ có ngày ông rời khỏi đây...
    -Thưa ni cô...Không biết tôi còn có dịp nào gặp lại ni cô không...
Ni cô Sa Huỳnh cúi đầu nhìn xuống lòng giếng nước:
    -Tôi hiễu...
Giọng nói của người ni cô nhỏ như tiếng thì thầm.tiếng nghẹn ngào.Giọng nói của Hoàng nghèn nghẹn tựa tiếng lòng đang thổn thức:
    -Thưa ni cô...Nếu không có chi phiền tôi xin được viết thư thăm hỏi...
Ni cô Sa Huỳnh im lặng.Thái độ băn khoăn.do dự.
    -Ông cứ viết...Phần tôi...Tôi chắc không thể hồi âm cho ông được.Ông cũng hiễu tôi là một kẻ tu hành...
    -Thưa ni cô...Tôi hiểu...
Hoàng đột ngột nắm lấy bàn tay của ni cô Sa Huỳnh.Người ni cô để yên.Hai người nhìn nhau.Không gian im lặng.Thời gian ngừng động.Rồi Hoàng chậm bước xuống đồi.Ni cô Sa Huỳnh nhìn theo bóng người lính đần khuất.Dường như có vài giọt nước mắt nhỏ xuống lòng giếng âm u...
Hoàng ngừng kể.Nguyễn thở dài.Anh thấy mắt người bạn mới quen long lanh ngấn lệ.Uống hơi bia,đốt điếu thuốc,Hoàng lấy trong túi áo trận ra xấp thư và quyển sổ tay.Trao cho Nguyễn anh cười buồn:
    -Mấy phong thư do tôi viết còn quyển sổ là nhật ký của ni cô Sa Huỳnh.Anh đọc đi...
Dưới ánh trăng thượng tuần vàng nhạt,qua ánh đèn dầu lù mù:Nguyễn thức trắng đêm đọc thư của Hoàng và nhật ký của người ni cô...
Bình Long ngày...tháng...năm...Thưa ni cô...Dùụ biết sẽ không bao giờ nhận được thư hồi âm của ni cô.Dù biết những dòng chữ của tôi sẽ quấy rầy một kẻ tu hành như ni cô.hoặc sẽ làm xáo trộn đời sống bình an.thanh thản của một người đang ở trong cửa Phật sân chùa.tôi vẫn muốn viết thư cho ni cô.Tôi không thể nào cưỡng chống.ngăn cản được lòng mình.Từ khi rời xa làng Sa Huỳnh tôi vẫn luôn hoài mong một ý nghĩ.trở lại chốn cũ nơi xưa.để ngày ngày ngồi nghe sư cụ thuyết giảng triết lý thiền.nghe tiếng chuông.tiếng tụng kinh êm êm.nhất là được thấy lại ni cô.nghe nụ cười thánh thót họa hoằn lắm tôi mới được nghe.nhìn ngắm nét buồn rầu man mác ẩn sau khuôn mặt thanh thản,bình an.đầy từ bi của ni cô.Những phút giây hiếm hoi.Những kỷ niệm quí báu.không những không nhạt nhòa.mờ phai mà đời đời hiện hữu trong tâm hồn tôi.Tôi cưu mang.gìn giữ.ấp ôm kỷ niệm khi ngồi co ro trong giao thông hào.ngước nhìn vầng trăng xế qua đầu.Tôi tưởng tượng tới hình bóng của ni cô trong lúc gối đầu lên ba lô ngủ giấc ngủ đầy trở trăn bên cạnh hốc đá của vùng Dầu Tiếng hoang vu.Tôi nhớ tới ánh mắt thăm thẳm.gây trong lòng tôi vô vàn xuyến xao.rung động.Thưa ni cô.Người ta bảo xa mặt cách lòng.Riêng tôi.càng xa chừng nào tôi càng cảm thấy gần chừng đó.gần như tôi và ni cô thường đứng bên giếng nước chuyện trò....
Phước Long...ngày...tháng...năm...Thưa ni cô...Lá thư thứ nhất gửi đi đã lâu.Tôi khắc khoải chờ mong.Tôi thấp thỏm ngóng trông.Tôi chờ từng ngày.Tôi đợi từng đêm.Tôi mong từng phút.Tôi ngóng từng giây thư trả lời của ni cô dù tôi biết không có chút mảy may hi vọng.Tôi sống trong mộng tưởng.Ðêm đêm nằm bên bờ ao.vũng nước.nhìn trời sao lấp lánh.tôi mơ.tôi mộng.một đời sống bình yên.một tình yêu mật ngọt chín mùi.Tôi cũng biết đời lính gian truân.ngắn ngủi.cho nên chỉ xin được sống một ngày trọn vẹn...Trở về sau những chuyến hành quân tôi hi vọng nhận được thư của ni cô như đứa bé ngồi nhà chờ mẹ đi xa mang quà về cho mình.Thưa ni cô...Tôi nhớ vô cùng bữa cơm chay với đậu hũ kho.Bửa cơm tuy đạm bạc song đầy săn sóc.tuy nghèo song giàu tình tự luyến thương.Tôi nhớ chén trà cúc.mà mỗi lần nhìn vào tôi thấy khuôn mặt của ni cô lung linh.nhạt mờ.Tôi nhớ tới lần từ giã.lần nắm tay đầu tiên và sau cùng.gây trong lòng tôi những mê man.đắm đuối ngàn đời không thể lãng quên...
Ban Mê Thuộc...ngày... tháng...năm...Thưa ni cô...Không biết tôi đã gửi cho ni cô bao nhiêu thư rồi.Có lẽ nhiều.nhiều lắm.như lửa đang nung nấu tim tôi.Một đêm dừng quân bên trảng tranh mênh mông.Sương lạnh ướt vai.Tôi ngồi bó gối nhìn sao.Ý tưởng bừng cháy như hỏa châu đột nhiên rực sáng trong bóng tối thâm u.Yêu.Tôi yêu...Thưa ni cô...Tôi yêu ni cô từng sát na.Tôi yêu trong tiếng hú của hỏa tiển 122 sắp nổ trên đầu.Tôi yêu ni cô trong tiếng súng M16.Tôi yêu ni cô trong ánh hỏa châu bập bùng soi khuôn mặt hốc hác.ánh mắt lạc thần sợ chết của người lính trong trung đội.Tôi yêu ni cô trong nỗi sợ chết đầy ắp tâm não.khi sờ tới làn da lạnh ngắt.đôi mắt mở trừng của người lính bên cạnh.Tôi yêu ni cô trong nỗi nhớ thương diệu vợi.nhiều hơn cơn mưa rừng của vùng cao nguyên.Tôi yêu.và tôi nhớ ni cô quay quắt lạ lùng.nhớ một người yêu ngàn đời cách ngăn.nhớ một tình yêu sao quá nghiệt ngã.đòi đoạn.Tôi yêu một kẻ tu hành.nguyện dâng hiến đời mình cho phật pháp nhiệm mầu.Tôi yêu làm chi một người có cuộc đời riêng biệt.cách ngăn.không bao giờ cùng tôi chung bước dù chỉ là một quãng đường đời ngắn ngủi.Tôi chỉ có 1 mong ước nhỏ nhoi.trở lại chốn xưa.nhìn thấy ni cô một lần rồi ngàn đời chia cách.Tôi không thể quấy rầy ni cô.Chúng ta mỗi người một ngả đời để sống.Ni cô sẽ sống bình an trong ánh sáng nhiệm mầu của đức Phật.Phần tôi.tôi sẽ.tôi phải hoàn thành cái nghiệp chiến binh của mình với niềm cô đơn gặm nhắm từng ngày.một tình yêu mà mỗi lần nghĩ tới chĩ biết ngậm ngùi.xót xa...
Nguyễn gấp thư lại.Anh cảm thấy mắt mình cay cay.Anh ngắm nghía quyển nhật ký của người ni cô.Ngay chính giữa quyển nhật ký hiện ra một lỗ tròn bằng ngón tay và bị cháy nám vàng.
    -Trong một lần đụng độ với Việt cộng ở Pleiku tôi bị bắn ngay ngực.Viên đạn xuyên qua quyển nhật ký của ni cô Sa Huỳnh nên tôi không chết mà chỉ bị thương nặng.Tôi nghĩ...
Hoàng bỏ lửng câu nói.Nguyễn im lặng lật trang đầu của quyển nhật ký...
    -Ông Hoàng...Tôi gọi tên ông nhiều lần.thật nhiều lần...
Tôi gọi tên ông trong nỗi cơ đơn héo úa từng ngày.Tôi gọi tên ông với niềm hiu quạnh trống vắng ngày một lớn dần.Tôi nhắc thầm tên ông trong trí não.trong lúc lần tràng hạt.Ông đã đi xa.thật xa.mà tôi tưởng chừng như ông vẫn còn quanh quẩn đâu đây.Tôi tưởng như ông còn ngồi trước mặt tôi trong bữa cơm chiều đạm bạc đậu hũ muối dưa.Ông đi để lại trong tôi chút trống vắng mà hàng vạn câu kinh.hàng ngàn tiếng kệ,hàng trăm trang sách Phật không thể lấp đầy.Ông đi rồi tôi mới biết sự hiện diện của ông cần thiết tới mực độ nào.Còn ai giúp tôi dựng lại chiếc cổng chùa xiêu vẹo.ngả nghiêng.Còn ai xách đầy lu nước.Còn ai lợp lại mái chùa bị dột.Còn ai bửa củi.Còn ai cùng tôi thổi lửa nấu bữa cơm chiều.Còn ai kể cho tôi nghe đời chiến binh nhiều hiểm nguy gian khổ mà cũng nhiều sôi nổi.hào hứng...
Ông Hoàng...Ông rời xa chùa không lâu mà tôi tưởng chừng thời gian dài hơn một kalpa.Ðêm đêm ngồi đọc kinh.tôi để tâm hồn mình bềnh bồng.nổi trôi vào mộng mơ.Tôi nhớ tới ánh mắt thiết tha.trìu mến của ông.Ánh mắt nồng nàn tình tự yêu thương của ông nhìn tôi.khiến tôi cảm thấy xuyến xao dịu nhẹ.Ông Hoàng...Ông đến rồi ông đi.song hình ảnh của ông vẫn hằn đọng trong tâm tưởng của kẻ tu hành này.Ông làm tôi nhớ tới quãng đời cũ đã chìm mất theo tháng ngày tụng kinh niệm Phật.Nhiều lần tôi đứng trước tượng Phật tổ từ bi.xin người ban cho tôi sức mạnh hầu giúp tôi quên ông.như tôi đã lãng quên quá khứ.quên đi cuộc đời cũ.Than ôi...ông vẫn còn đây.vẫn ở trong tôi như một hiện hữu ngàn đời không thể bôi xóa...
Ông Hoàng...Ông đến rồi ông đi.Ông đến làm xáo trộn đời sống bình an.thanh thản của tôi.Ông gieo vào tâm hồn của một kẻ tu hành thứ tình cảm mới lạ.một cảm giác không thể.không ngôn từ để diễn tả.Dù không nói tôi vẫn thầm mong ước được đọc thư của ông.đọc những dòng chữ do ông viết.mà tôi biết ông sẽ gữi gấm vào đó trọn vẹn tâm hồn của ông.Tôi ước ao được nghe ông kể chuyên đời lính.như trước đây tôi đã ngồi im lắng nghe ông kể chuyện vui.Ông đi đã lâu.Tôi chờ mõi mòn.Tôi đợi hụt hơi.Tôi ngóng dài cổ.Tôi trông hoài mà tin ông vẫn biệt ngàn âm tín.Tôi nghĩ chắc ông quên.Ông làm sao nhớ tới ngôi chùa nhỏ bé vô danh.có một người đang âm thầm.khoắc khoải chờ tin một người...
Ông Hoàng...Hôm nay sư cụ gọi lên trao cho xấp thư của ông.Người cũng khuyên tôi hãy cố gắng tu hành đừng để sa thân vào tình nghiệt.Dạ dạ mấy lời tôi ôm xấp thư vào ngực mà nghe cỏi lòng ấm áp.Dù chậm bước tôi cũng nghe được từng bước chân xôn xao.nhảy múa trong lòng.Tôi đọc từng chữ.Tôi nuốt từng lời.Bên tai tôi văng vẳng giọng nói trầm ấm.thiết tha.Tôi hình dung đến ông.đang co ro ngủ bên bờ ao hốc đá.Tôi tưởng đến ông.Tôi biết ông đang sống trong nỗi cô đơn mà tôi đang hứng chịu.Tôi biết ông đang ray rứt trong nỗi nhớ. cũng như tôi đang oằn oại trong niềm thương mà tôi cố gắng quên lãng.Một kẻ tu hành như tôi không thể để cho tình cảm quấy rầy.Tôi không thể yêu.Tôi không được phép yêu ông.ông Hoàng.dù tôi biết ông yêu tôi.Tôi biết tình yêu của ông mênh mông hơn đại dương.bát ngát hơn trường giang.mạnh hơn cuồng phong.dai dẳng hơn thời gian.Nhưng tôi làm sao đây ông Hoàng.Tôi làm sao để trả lời tình yêu của ông.Tôi không thể bỏ ngang con đường tôi đã.đang.và sẽ đi.Tôi không thể dứt bỏ cuộc đời mà tôi đã chọn lựa.một nguyện tâm là đem ánh sáng nhiệm mầu của Phật chiếu rọi khắp nơi hầu giải thoát chúng sinh khỏi trầm luân bể khổ...
Ông Hoàng....Tôi nhớ ông trong nỗi nhớ muộn màng.khi ngồi trong hậu liêu vắng vẻ.nhìn ánh trăng thượng tuần dọi qua khung cửa sổ.Tôi gọi tên ông.ông Hoàng.gọi tên ông hoài hủy.Tôi đọc thư ông nhiều lần.Càng đọc tôi càng cảm thông. càng cảm thông tôi càng xót thương ông.vì cũng như ông tôi đang ở trong tình nghiệt.thứ tình cảm oái oăm khiến mình sầu đau.quên ăn lười ngủ.quên đi giờ tụng kinh.phút cầu nguyện.Hằng đêm trong bóng tối lặng thầm tôi ngồi bên cửa sổ tưởng tới ông.nhớ đến ông.hình dung tới một người áo trận bạc màu.súng trên vai.đi giữa trời mù sương.Ông có nhớ đến tôi không ông Hoàng.Ông có gọi tên tôi không ông Hoàng.Tôi nhớ ông thật nhiều.Tôi gọi tên ông hoài hủy.Tôi yêu ông.ông Hoàng.Tôi khẳng định điều đó.Tôi yêu ông.Tình yêu tới tự nhiên như mặt trời mọc rồi lặn.như trăng đầy rồi trăng khuyết.như ngày lên chiều xuống.Than ôi...Tôi bật khóc khi biết tôi yêu ông.Tôi phải làm sao đây ông Hoàng.Dù thế nào đi chăng nữa tôi cũng không thể cởi chiếc áo nâu sòng đang mặc để yêu ông.Tôi không thể bỏ con đường tôi đã chọn.một chọn lựa thật đau lòng.Ông hiễu cho tôi ông Hoàng.Tôi yêu ông.song ông lại là kẻ đến sau.ông đến quá muộn trong đời tôi.Tôi biết ông không thể quên tôi.cũng như tôi không bao giờ quên ông.nên tôi xin ông hãy đem tình yêu làm thành sức mạnh giúp ông vượt qua mọi hiểm nguy trên bước đường chinh chiến.Phần tôi.tôi cũng sẽ.cũng phải đi nốt đoạn đời còn lại mà hình bóng ông là niềm an ủi cho tôi trong những lúc muộn phiền.Ðêm đêm tôi cầu nguyện cho ông.cầu Phật tỗ từ bi mang cho ông mọi an lành để ngày nào đó tôi gặp lại ông...
Trời hừng đông khi Nguyễn đọc tới trang cuối cùng của quyển nhật ký.Hoàng nằm ngủ co ro.Nguyễn thở dài nhắm mắt.Khi anh thức dậy Hoàng đã bỏ đi.Từ đó anh không bao giờ gặp lại người lính tên Hoàng nữa.
Nguyễn ngồi im trên chiếc băng đá công viên dọc theo bờ sông Ohio.Mặt sông bốc mờ mờ sương.Nước sông đục phù sa lặng lờ chảy.Biến cố 30-4-75 khiến anh thành một người xa xứ.thành một kẻ lang thang miệt mài tìm kiếm những gì đã mất trên xứ sở lạ hoắc.Lạ từng con đường hàng cây.Lạ từng khu phố xóm nhà.Lạ từng tiếng nói tên gọi.Còn đâu sông Hương.sông Trèm Trẹm.sông Trà Khúc.sông Hàm Luông.sông Sài Gòn.sông Ðồng Nai.Nguyễn chợt nhớ tới hai câu hò một chiều nào anh đã nghe trên dòng sông Soài Rạp."Nhà Bè nước chảy chia hai...Ai về Gia Ðịnh,Ðồng Nai thì về..."
Gió lạnh se sắt.Trời hắt hiu buồn.Lá vàng bay tản mác.Tuy mới giữa tháng mười mà dường như mùa đông đã về trên vùng cực bắc của tiểu bang Kentucky.Nguyễn không hiễu sao mình lại lạc tới thành phố này
    -Tâm Ấn...thôi về con...chắc ba mong mẹ con mình lắm...
Nghe tiếng người nói ngôn ngữ của quê hương Nguyễn quay lại.Anh thấy một thiếu phụ đang nắm tay dìu đứa bé đi chập chững.
    -Xin lổi bà là người Việt Nam?
Thiếu phụ mĩm cười nhỏ nhẹ:
    Ðạ...Thưa ông tôi là người Việt Nam.Chắc ông cũng ở trong phố này?
Nguyễn lắc đầu:
    -Thưa bà không...Tôi từ xa tới...
    -Chắc ông đến thăm người quen?
    -Thưa bà không...Tôi tình cờ ngang qua đây thấy phong cảnh đẹp nên dừng lại đôi ngày...Tôi sang Mỹ một mình nên lang thang khắp nơi...
Dường như thông cảm và ái ngại cho hoàn cảnh bơ vơ của người đồng hương,thiếu phụ mỉm cười:
    -Nếu ông không ngại tôi mời ông đến nhà dùng bữa cơm chiều.Chồng tôi rất vui khi gặp người đồng hương...
    Ðạ cám ơn bà.Tôi...
Nguyễn ngập ngừng.Hiểu ý thiếu phụ ân cần nói:
    -Ông đừng ngại.Gần cả năm rồi hai vợ chồng tôi không có gặp người đồng hương...
Nguyễn nhận lời.Ra tới bãi đậu anh mời thiếu phụ lên xe.Xe chạy quanh co vài ngả đường rồi dừng trước ngôi nhà nhỏ.cũ kỹ.nằm khuất dưới tàng cây rườm rà.
    -Nhà của người bảo trợ cho hai vợ chồng tôi ở không mất tiền.Mời anh vào...
Thiếu phụ mở cửa.
    -Sông Thu đấy ư...
    Ðạ...Em xin lỗi để anh chờ...
    -Anh chỉ sợ có chuyện gì xảy ra...
Nguyễn cau mày.Tiếng người nói nghe thật quen.Một người đàn ông mang kính đen,tay cầm gậy chầm chậm bước ra phòng khách.Nguyễn nhận ra liền.Vóc dáng đó.Khuôn mặt đó.Anh không bao giờ quên.
    -Hoàng...Anh Hoàng...
    -Anh là ai mà biết tôi...
Nguyễn thở hơi dài:
    -Nguyễn...Tôi là Nguyễn...Chắc anh còn nhớ đêm nào ở Biên Hòa...Tôi với anh uống rượu rồi anh kể cho tôi nghe chuyện tình yêu của anh với ni cô Sa Huỳnh...
Ðang bế con Sông Thu,vợ của Hoàng quay lại nhìn người khách mới quen rồi cúi đầu bước vào phòng ngủ.
    -Thế ư...Xin lỗi tôi bị mù nên không nhận ra anh.anh Nguyễn...
Nguyễn gật đầu tươi cười:
    -Tôi rất mừng được gặp lại anh...Sau đêm đó tôi thường băn khoăn về anh...
Hoàng cười.Dù bảy năm xa cách Nguyễn nhận thấy Hoàng vẫn còn nguyên vẹn nụ cười.Người lính Biệt Ðộng Quân ốm yếu và già nua hơn xưa nhiều lắm.Qua một cuộc bãi bể hòa nương dâu ai lại không đổi thay.
    -Mời anh Nguyễn ngồi...
Sông Thu nói rồi đặt xuống bàn hai lon bia với hai cái ly.Quay sang Hoàng nàng nói với giọng thật trìu mến:
    -Anh ngồi tiếp anh Nguyễn nghe anh.Em làm cơm đãi anh Nguyễn.Anh muốn ăn món gì.Em làm bò tái chanh thật ngon cho anh say một bữa...
Hoàng cười lớn nói đùa:
    -Em định hối lộ anh phải không.Em muốn anh kể chuyện tình người ni cô cho em và anh Nguyễn nghe...
Sông Thu nói trong lúc bước ra sau bếp:
    -Chuyện ni cô Sa Huỳnh anh không cần kể em cũng biết rồi...
Nguyễn nhìn Hoàng:
    -Xin lỗi anh.Chị trông quen lắm...Dường như tôi có thấy.có gặp chị đâu đó một lần...
Hoàng gật đầu cười:
    -Mời anh...Bảy năm rồi tôi mới gặp lại anh.Chắc anh đã có gia đình?
Nguyễn cười buồn:
    -Tôi mới vừa hứa hôn định cuối năm 75 sẽ làm đám cưới song mình tính không bằng thiên hạ tính...
Hoàng uống ngụm bia:
    -Tôi với Sông Thu lấy nhau hồi tháng 7 năm 75...Anh với tôi uống say đêm nay rồi tôi kể tiếp chuyện tình người ni cô cho anh nghe...
Hai người ngồi nhắc lại thời gian sau tháng 4 năm 75.ôn lại quá khứ.kỷ niệm.Sông Thu dọn cơm xong mời Hoàng và Nguyễn qua bàn ăn.Hoàng có vẻ vui mừng khi gặp lại Nguyễn.Song Thu cũng vậy.Vừa gắp thức ăn cho Hoàng nàng không ngớt hỏi han Nguyễn về gia đình,cha mẹ,anh chị em....
Ðêm xuống.Dường như trời sắp bão.Gió hú ngoài sân.Dọn dẹp xong ba người ra phòng khách.Hoàng ngồi tựa lưng vào vách cạnh lò sưởi.Sông Thu ngồi ngả đầu vào vai chồng.Cạnh nàng bé Tâm Ấn nằm ngủ say.Nguyễn cũng ngồi tựa lưng vào vách đối diện với Hoàng.Lửa cháy tí tách.Căn phòng khách nhỏ ấm cúng.Uống ngụm bia Hoàng từ từ kể:
    -Vợ tôi theo đạo Phật...
Sông Thu xiết chặt bàn tay Hoàng.Nàng nhìn chồng với ánh mắt long lanh.thăm thẳm.ngời cháy tình tự.nồng nàn yêu thương.Hoàng cúi nhìn Sông Thu.Tuy anh không thấy được gì song Nguyễn có cảm tưởng tia nhìn của bạn chứa đựng một cảm thông vô bờ.và chan chứa thương yêu.Hai người là vợ chồng song quấn quít.luyến lưu.khắn khít nhau như tình nhân.Họ quí trọng nhau từ lời nói.Họ mê đắm nhau trong đầu mày cuối mắt.Mỗi người là một bảo vật vô giá trong mắt của người kia...
    -Tuy làmột kẻ không có đạo song tôi tin vào luật nhân quả.Tôi nghĩ mọi hành động của chúng ta dù nhỏ nhặt.sớm hay muộn đều gây ra hậu quả sẽ ảnh hưởng tới đời sống của chúng ta trong tương lai.Chuyện tình của tôi với ni cô Sa Huỳnh đã ảnh hưởng bởi luật nhân quả...
Hoàng nhìn đăm đăm vào ánh lửa cháy.Quá khứ như từng trang giấy được lật chầm chậm.
    -Sau đêm gặp anh tôi trở về đơn vị.Sầu đau.khổ sở.tuyệt vọng.tôi lăn xả vào chiến trận như một kẻ đi tìm cái chết.Có thể nói với tôi chết là một giải thoát.Ra trận tôi ôm đại liên chạy trước.Lạ lùng thay tôi không chết mà cả trung đội của tôi cũng vậy.Lính của tôi cùng lắm chỉ bị thương thôi.Dường như có một sức mạnh thiêng liêng mầu nhiệm che chở cho tôi khỏi nguy hiểm.Từ đó tôi có biệt danh Hoàng Ðiên.Sau một chiến thắng lớn mà trung đội của tôi giữ phần quan trọng,vị tiểu đoàn trưỡng đề nghị với cấp trên cho tôi theo học khóa sĩ quan tại Thủ Ðức.Một năm trong quân trường dài hơn một kalpa...
Nguyễn cười ngắt lời Hoàng:
    -Tôi nghe ni cô Sa Huỳnh và anh nói tới danh từ kalpa song không hiểu rõ lắm...
Hoàng mỉm cười cúi nhìn vợ đang gối đầu vào vai mình:
    -Sông Thu...Em là người theo đạo Phật vậy em hãy giải thích chữ kalpa cho anh Nguyễn...
Hơi cựa mình Sông Thu cười nói với Nguyễn:
    -Thưa anh kalpa là một đơn vị đo lường thời gian trong triết lý Phật giáo.Chữ kalpa tạm giải thích như thế này.Mỗi một năm có một nàng tiên trên trời bay xuống trần thế dùng vạt áo quét lên tảng đá có chiều dài,ngang và cao một dặm.Thời gian mà nàng tiên dùng vạt áo quét cho tảng đá bằng với mặt đất chính là kalpa.Anh Nguyễn giàu tưởng tượng vậy anh hãy tưởng tượng ra một kalpa dài bao lâu...
Nguyễn cười uống ngụm bia.Giọng nói của Hoàng vang chậm và đều:
    -Những ngày trong quân trường Thủ Ðức là thời gian dài nhất.khổ nhất trong đời tôi.Tôi nhớ ni cô Sa Huỳnh vô cùng.Tôi nhớ nàng đến lịm người.Tôi nhớ nàng quay quắt cả tâm hồn.Buổi trưa nơi bãi bắn.Ðêm di hành.Hình bóng nàng lung linh nhạt mờ.Giọng nói nàng thoảng bên tai.Ánh mắt nàng thăm thẳm dìu tôi vào trời mộng mơ diễm ảo.Tôi gọi thầm tên nàng.Hai chữ Sa Huỳnh được tôi ân cần.nắn nót khắc lên báng súng.được tôi viết vào gốc cây bàng.Bằng tất cả yêu thương.quí mến.tôi khắc tên nàng vào trong tâm não ngày một mỏi mòn.nhọc mệt của tôi.Ni cô Sa Huỳnh biến tôi thành một kẻ tình-si-khá-giả-nhất-thế-gian...
Sông Thu cười thánh thót.Tiếng cười vỡ ra trong hạnh phúc.Nguyễn thầm thắc mắc tại sao nàng không tỏ ra ghen tức hoặc ganh tị với người ni cô.Dường như nàng mãnh liệt tin tưởng vào tình yêu của Hoàng đối với nàng.
    -Tôi được trở về đơn vị cũ sau khi mãn khóa.Ðược tiểu đoàn trưởng cho chỉ huy đại đội tôi đánh giặc như điên.Trong vòng một năm tôi được thăng chức lên trung úy.Khoảng cuối năm 74 tiểu đoàn của tôi được lệnh tăng viện cho vùng 1 chiến thuật mà vùng trách nhiệm là Bồng Sơn.Tôi hồi hộp.thấp thỏm vì trở lại nơi xưa chốn cũ.Dường như tôi nghe tiếng ni cô Sa Huỳnh gọi tôi trong nắng sớm.trong gió đêm.Ðứng trên ngọn đồi cao sương mù lãng đãng tôi ngóng về hướng làng Sa Huỳnh.mường tượng tới mái chùa rêu mốc.hình bóng người ni cô thương yêu lặng lẻ ra vào.cảm thấy lòng chùng xuống nhịp buồn tả tơi.nỗi nhớ nhung rả rời thân xác.Tình hình ngày càng thêm bi đát.Việt cộng chiếm đóng khắp nơi và quân ta lui về thế thủ.Làng Sa Huỳnh cũng bị lọt vào vòng kiểm soát của địch.Tâm tư bị nung nấu vì ý định gặp lại ni cô Sa Huỳnh,tôi tìm tiểu đoàn trưỡng xin phép đi Sa Huỳnh.Không những chấp thuận ông ta còn cho phép tôi dẩn đại đội đi theo.Không có yểm trợ của phi pháo,với đạn dược gần cạn tôi cùng đại đội chạy dưới cơn mưa pháo,vượt qua lằn đạn AK tới Sa Huỳnh.Ðóng quân xong tôi chạy lên đồi.Ngôi chùa đổ nát,vắng tanh không bóng người.Ni cô Sa Huỳnh không còn nữa.Nàng trôi dạt về đâu.còn sống hay đã chết.Ngồi tựa lưng vào thành giếng nước tôi nghe lòng mình bật khóc...
Tin di tản lan ra.Từ Sa Huỳnh tôi cùng đại đội rút về Phù Cát,về Bình Ðịnh rồi theo làn sóng di tản xuôi về Qui Nhơn.Ở đâu tôi cũng hỏi thăm,tìm kiếm tin tức về người ni cô.Tuy nhiên nàng như cánh chim bạt ngàn với gió.Qui Nhơn.Dân trộn với lính.Lính pha với dân.Ðủ mọi thành phần dân chúng.Ðủ mọi sắc lính lạc đơn vị.mất cấp chỉ huy.lang thang.lạc lõng.Tất cả bằng mọi cách.mọi phương tiện rời khỏi thành phố sắp sửa lọt vào tay giặc cộng.Dặn dò người đại đội phó sẵn sàng,mang theo khẩu M16 phòng thân tôi đi tìm ni cô Sa Huỳnh.Bãi biển chật người.Nắng cháy da.Người người ngồi.đứng.nằm.chờ đợi với hi vọng tàu hải quân sẽ đón họ vào Sài Gòn.
    -Ông Hoàng...
Tiếng gọi thật nhỏ.như tan trong gió.trong tiếng ồn ào.nhưng tôi nghe được.Tâm tư tôi chờ nghe tiếng gọi này từng sát na.Trong bộ nâu sòng nhầu nát.bẩn thỉu.khuôn mặt bụi bặm.hai gò má xạm nắng.ni cô Sa Huỳnh đứng bơ vơ giữa trời trưa nắng gắt.Ánh mắt thăm thẳm nhìn tôi.Tia nhìn của người ni cô chiếu rọi một điều giá trị hơn ngọc ngà châu báu.Tôi yêu ông.Tôi chờ ông.đợi ông.tìm ông.kiếm ông.và mừng vui khi gặp lại ông.Tôi ôm chầm lấy ni cô Sa Huỳnh.Nàng gục đầu vào vai áo trận nồng khói súng và mồ hôi.
    -Ông Hoàng...
    -Thưa ni cô...
Ni cô Sa Huỳnh ngước nhìn.Tôi cảm thấy bao nhiêu khổ sở.phiền muộn đằng đẵng cưu mang chợt tan biến vào nụ cười mênh mông tình cảm không thể hiểu.không thể nói bằng ngôn từ trần thế.
    -Thưa ni cô vẫn mạnh?
Tôi không biết hỏi câu gì khác hơn.Người ni cô thì thầm:
    -Không... tôi bị bịnh nặng lắm...
    -Thế ư...Tôi phải đưa ni cô tới bệnh viện...
    -Bịnh của tôi khó chữa lắm...
    -Ni cô bị bịnh gì vậy...
Tôi hỏi với giọng thật lo âu.Ni cô Sa Huỳnh thì thầm vào tai tôi.
    -Tương tư...
Bật cười sung sướng tôi nhìn vào mắt người ni cô.
    -Tôi cũng gần chết vì bịnh này...
Ni cô Sa Huỳnh cúi nhìn xuống rồi nói nhỏ:
    -Sư cụ yếu lắm.Tuần lễ nay không có cơm nước gì hết...
Tôi gật đầu nắm tay người ni cô.
    -Ni cô đi với tôi về chỗ đóng quân rồi tôi sẽ đưa ni cô và sư cụ về Sài Gòn...
Vượt qua bao nhiêu ngày đói khổ,chết chóc,cuối cùng tôi đưa ni cô Sa Huỳnh,sư cụ và binh sĩ trong đại đội về tới Vũng Tàu.Trải qua biến cố tình cảm giữa tôi với người càng thêm thắm thiết.đậm đà.Liên lạc được với tiểu đoàn tôi được lệnh kéo đại đội về trấn đóng Long Thành ngăn không cho địch tấn công thủ đô.Lần nữa chúng tôi phải chia lìa.cách xa.và có thể không bao giờ gặp lại.Ðứng nhìn người lính trận lê bước trên con đường nhựa ni cô Sa Huỳnh nghe trái tim trĩu nặng giọt sầu.
    -Hoàng...Hoàng ơi...
Tiếng khóc của người ni cô bật lên qua làn môi mím chặt.
Dù không sợ chết.dù lính bắn tới lúc hết đạn.tôi và đại đội cũng không thể cản được địch.Từ Long Thành tôi cùng đại đội chạy bộ về Thành Thủy Hạ.Trận đánh cuối cùng diễn ra.Tôi bị mù mắt vì đạn B40.Những người lính may mắn không bị thương đã dìu tôi và đồng đội bị thương vượt qua sông về Sài Gòn.Biến cố ngày 30-4 xảy ra.Không còn cách nào hơn binh sĩ dưới quyền dẫn tôi xuống tàu ra biển...
Hoàng ngừng kể.Không khí im lặng trừ tiếng lửa cháy trong lò sưởi và tiếng thở của bé Tâm Ấn.Uống ngụm bia Hoàng nói:
    -Sông Thu...Em hãy kể cho anh Nguyễn nghe tiếp đoạn cuối chuyện tình của anh với ni cô Sa Huỳnh...
Hoàng lắc lắc vai vợ như thúc hối.Sông Thu ngồi dậy.Giọng nói thánh thót của nàng hòa lẫn trong tiếng gió hú ngoài sân:
    -Sau khi chia tay với Hoàng ở Vũng Tàu Sa Huỳnh sống những ngày dật dờ mộng tưởng.Nàng lười ăn biếng ngủ.quên giờ tụng kinh.đốt nhang lễ Phật.Ngày ngày nàng leo lên tượng Thích Ca Phật Ðài ngó mông con đường đẫn về Long Thành.mõi mắt hoài trông một người đi bạt ngàn xa.Nàng gọi tên người đó.Nàng khóc âm thầm.lặng lẻ.Ni cô Sa Huỳnh bây giờ chỉ là người.thật người.khổ đau vì tình.Nàng nhớ tới hai câu thơ:"Ta nhớ người xa cách núi sông...Người xa xa có nhớ ta không..."Bây giờ nàng mới thấm thía hai chữ tình nghiệt mà sư cụ cố gắng giải thích cho nàng nghe.Than ôi...Chậm mất rồi.muộn quá rồi.Người lính chiến tên Hoàng đã trở thành một thực thể .một hiện hữu không thể bôi xóa.Rồi nàng phải làm sao.phải làm gì khi đời sống tu hành của nàng bị xáo trộn.khi mà câu kinh tiếng kệ không còn đủ sức mạnh để lấn át tiếng cười.giọng nói của Hoàng.Hoàng ơi...
Chiều ngày mồng một tháng năm năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm.Sa Huỳnh nhớ không bao giờ quên.Ngày thành phố Vũng Tàu bắt đầu thấp thoáng bóng những người lính xa lạ, vô tình cảm.Sa Huỳnh biết mìnhphải ra đi vì không thể sống với những người mà nàng sợ hãi.Sa Huỳnh lặng lẻ dìu sư cụ xuống bãi biển.Thương hại kẻ tu hành người chủ thuyền cho nàng và sư cụ một chỗ trong góc.Trời nước mênh mông.Sa Huỳnh gọi thầm trong trí não tên Hoàng.Nước mắt của nàng nhỏ xuống lòng đại dương xanh thẳm.Náng biết sẽ không bao giờ gặp lại Hoàng.
Tạm trú ở đảo Guam nàng không biết làm gì hơn cho qua ngày thàng trống rỗng bằng cách tham gia phái đoàn Phật giáo đi ủy lạo đồng bào tị nạn.Một bửa tới thăm khu quân nhân và gia đình nàng lịm người đi vì hình ảnh của một người.Ðơn độc.bơ vơ.nét mặt ngác ngơ tội nghiệp.Hoàng của nàng ngồi đó...
    -Hoàng...
Người lính Biệt Ðộng Quân ngơ ngác.Ðôi mắt nồng nàn tình tự yêu thương không còn nữa..
    -Xin lỗi tôi không nhận ra...
Sa Huỳnh bật khóc.
    -Hoàng...Hoàng...Tôi là Sa Huỳnh...ni cô Sa Huỳnh...
Giọng Hoàng nghèn nghẹn:
    -Thưa ni cô vẫn mạnh...
Hoàng đưa tay ra.Sa Huỳnh nắm lấy tay Hoàng đặt lên mặt mình.Hai dòng nước mắt từ từ ứa ra trên khuôn mặt già nua.hốc hác của người lính tật nguyền.
Từ đó mỗi ngày.sáng.trưa.chiều.tối.Sa Huỳnh tới lui thăm viếng.chăm sóc cho Hoàng.Nàng lo cho Hoàng từng bữa cơm.giặt giũ quần áo.dìu Hoàng ra bãi biển ngồi ôn lại chuyện cũ.Rồi một hôm Sa Huỳnh được tin nàng có tên trong danh sách chuyến bay sang Mỹ.Tâm hồn nàng ngổn ngang.Rồ Hoàng sẽ ra sao.Hoàng sẽ làm gì với đôi mắt đã mù.Còn ai lo cho Hoàng miếng ăn.Còn ai lo cho Hoàng manh áo.Rồi ai sẽ dắt dìu Hoàng vào đời sống lạ xa nơi đất khách quê người.Nàng không thể nào thanh thản bình yên để tu hành khi nghĩ tới hoàn cảnh của người mà nàng yêu thương.Nàng đi tu là để làm vơi nỗi khổ đau của chúng sinh. Hiện giờ.ngay tại đây có một người đang khổ sở.cần sự giúp đở của nàng.Hoàng đã từng hi sinh mạng sống che chở.giúp đở cho nàng.Ðây chính là lúc nàng phải hi sinh để đền đáp.Sa Huỳnh suy nghĩ để chọn lựa.dứt khoát.sau cùng đi tới một quyết định.Rồi ni cô Sa Huỳnh cởi bỏ áo tu hành để thành Hồ Thị Sông Thu...
Nguyễn nhẹ thở dài.Sông Thu nhìn chồng mỉm cười.Nụ cười của nàng tắm đẫm hạnh phúc.thứ hạnh phúc hình thành từ tình yêu chân thật nhất...Lửa tắt dần.Bóng tối lung linh nhạt mờ.Sáng hôm sau Nguyễn từ giã Hoàng với Sông Thu.Anh cảm thấy lòng thanh thản vì biết dù hai mắt đã mù Hoàng đã có một kẻ đồng hành lý tưởng cho quãng đời còn lại của mình.


CHU SA LAN
chusalan@bellsouth.net


Sen trong cát bụi

Hạc Tú


gửi Dr Panza
                   
Bệnh viện dã chiến của cơ quan Y sĩ không biên giới (Médecins Sans Frontières) tại trại tị nạn Sikiew, Thái Lan là một dãy nhà lợp tôn, chia làm bốn phòng. Một dành cho bệnh nhân nằm, có vài chiếc giường sắt cũ và một cái bàn gỗ để dụng cụ y khoa. Một phòng khám bệnh. Một phòng dành cho y sĩ thiện nguyện. Phía ngoài là một hành lang hẹp dành riêng cho bệnh nhân ngồi chờ khám bệnh.
Y sĩ thiện nguyện trong trại có ba người, mang ba quốc tịch khác nhau. Một ông bác sĩ người Nhật, một cô bác sĩ trẻ người Miến Ðiện hình như vừa mới ra trường, chuyên về khoa sản, và một ông bác sĩ trưởng, Doctor Panza, người Pháp gốc Ý. Tất cả đều theo Cơ đốc giáo. Họ săn sóc bệnh nhân tận tụy, tuy trong trại thiếu thốn mọi thứ, nhất là vào thời gian sau này, khi có chủ trương đóng cửa các trại tị nạn.
Phía sau bệnh viện còn một phòng dành riêng cho sản phụ.
Bên phải bệnh viện là nhà tù. Bên trái là ngôi thánh đường. Phía trên đồi là văn phòng MOI, tên gọi tắt của bộ nội vụ Thái Lan phụ trách an ninh ở trại.
Viên trưởng MOI giữ an ninh trại là một người Thái đã từng tham chiến ở Việt Nam, đã từng sống ở Ðà Nẵng 5 năm, rất sành sõi tiếng Việt. Cao Ủy mướn anh ta giữ an ninh trong trại. Hung dữ, tàn ác, dâm dục, và rất khôn ngoan, thâm hiểm khi sử dụng một số đàn em, cũng người Việt tị nạn, để cai trị đa số còn lại. Chính vì vậy mà có người cho rằng, anh ta ít ra còn hiền, không tàn nhẫn như đám lâu la đệ tử.
Khẩu phần cho mỗi người gồm 2 ký rưỡi gạo, một khúc củi, 2 con cá nhỏ, 1 miếng thịt heo, một lát thì đúng hơn vì nó mỏng như tờ giấy, và một ít rau đã bị hư thối, tất cả những thứ này là để ăn trong một tuần, nhưng ít khi đồng bào nhận đủ, gạo thì may ra còn được 2 ký, còn những thứ khác thì khi có khi không. Bọn tay sai của Thái đã ăn chận ngay từ trong kho, họ cũng là người Việt tỵ nạn, nhưng sẵn sàng làm chó săn cho bọn Thái để có thêm một lon gạo, một con cá, họ sẵn sàng chà đạp những người cùng cảnh ngộ để được thêm một chút thịt bạt nhạt hay một miếng rau thừa...
Qua thư từ, tin tức trao đổi giữa những người tị nạn với thân nhân, hoặc bà con ở bên ngoài, hoặc ở những trại tị nạn khác, Sikiew nổi tiếng là khủng khiếp, vì đây là một Trại Cấm, không ai được vượt hàng rào ra bên ngoài. Trong trại có đủ các thành phần tị nạn, từ giới quân cán chính của Việt Nam Cộng Hòa, giới bộ đội Miền bắc, giới Cán bộ CS, cho đến giới lao động nghèo khổ... Họ được Cao uỷ tỵ nạn xếp thành 4 loại. Loại 1 đang chờ kết quả thanh lọc, loại 2 đang chờ tái thanh lọc, loại 3 đã rớt thanh lọc hai lần đang chờ hồi hương và loại 4 đã đang ký hồi hương vì không chịu nổi cực khổ, và cũng tự biết chắc rằng không thể qua nổi màn thanh lọc mà tỹ lệ chỉ có 1 phần trăm.

Ba hôm rồi trại không có nước. Nắng như đổ lửa, nắng như trút hết cơn giận dữ nóng bỏng xuống những mái tôn thấp lè tè, mà sức chứa hơn 100 người, già cả lớn bé vì thế sau bửa ăn trưa là họ túa hết ra ngòai, giành nhau từng bóng mát, hằng chục chiếc võng, ghế bố, và những manh chiếu xuất hiện la liệt dưới những tàng cây, họ giành nhau từng tí bóng râm. Nhiều người đi đi lại lại, nhiều người khác ngủ gà ngủ gật. Phía xa trước cổng chùa, pho tượng Ðịa tạng Vương Bồ tát cởi Kỳ lân tay cầm thiền trượng, sừng sững trong cái nóng hầm hập của khung cảnh ngột ngạt làm người ta liên tưởng đến địa ngục.
Ông Panza, y sĩ trưởng của bệnh viện, giờ này theo thường lệ thì đã rời trại về thành phố nghỉ ngơi, để sáng hôm sau trở lại làm việc, nhưng hôm nay người ta thấy ông vẫn còn ở văn phòng, đi đi lại lại có vẽ bồn chồn, thỉnh thoảng lại ra đứng ngoài hành lang, gỡ cặp kính cận xuống lau, dáng điệu như che giấu một tâm trạng bối rối, hay đang suy nghĩ điều gì quan trọng. Ông nheo mắt nhìn ra ngòai kia, nắng vẫn vô tình đổ lửa xuống những con người bất hạnh đang khao khát từng giọt nước, từng nhóm trẽ đủ cỡ tuổi đứng tụm năm tụm ba ở những gốc cây chung quanh bệnh viện, đứa nào cũng cầm trong tay một cái chai, một cái bình nhựa, mắt lấm lét nhìn về phía bọn " MOI VN" đang đứng trên văn phòng. Nạn dịch tả đang hoành hành trong trại, gia đình nào cũng có người bệnh, có người bị nặng, chưa kịp chở đi bệnh viện đã chết. Ông Panza là người đau khổ nhất. Là y sĩ nhưng ông cũng đồng thời là Mục sư, đã phát nguyện trước Thiên Chúa là khi nào trên thế gian này không còn người đau khổ thì ông mới nghĩ đến hạnh phúc cá nhân của mình.
Từ lúc rời khỏi trường tới nay đã gần 20 năm, ông đã dâng hiến hết cái tuổi trẻ của mình cho những việc làm từ thiện, bất cứ nơi nào trên trái đất này cần đến ông là ông có mặt. Phải chăng đức hạnh đó chỉ có những vị Thánh mới có thể có được, như Ngài Ðịa tạng vương Bồ tát đã phán" Khi nào dưới địa ngục không còn ngạ quỹ thì ta mới lên cõi niết bàn".
Trong văn phòng an ninh, tên ác quỷ người Thái đội lốt người vẫn ngồi chễm chệ, vắt chân chữ ngũ, tay cầm cây côn chạm hình con rồng nổi vung qua vung lại, chung quanh là những tên chó săn, sẵn sàng vâng vâng dạ dạ một điều "anh hai" hai điều cũng" anh hai". Tiếng nước dội ào ào từ phòng tắm của bọn chúng chẵng khác nào như những tiếng thét xé lòng ông, trong khi dân tỵ nạn trong trại không có một giọt nước uống, phải uống cả nước rong nước rêu đục ngầu mà xe chỡ nước vét từ những hồ nước ao tù ở phía ngoài trại. Ông đau khổ nhìn giòng nước cuồn cuộn chảy từ trên xuống đường mương, ông có cảm giác rờn rợn như nước có màu đỏ, màu của máu, ông lắc đầu , gở kính xuống lau và nhìn kỹ lại giòng nước đục ngầu đang chảy ào ào từ trên xuống, ông chạy vào phòng, ôm ngực quì xuống gục đầu lên cây thánh giá, để mặc cho những giọt nước mắt đang lặng lẽ rơi trên má.
Sau khi tự pha cho mình một ly cà phê tan ngay, ông trấn tĩnh và quyết định, ông nói với người y tá Việt Nam làm việc thiện nguyện ở trại, anh này thông thường giờ này cũng đã rời bệnh viện, nhưng hôm nay thấy ông Bác sĩ trưởng chưa về nên anh cũng nấn ná ở lại xem ông có việc gì cần đến không, anh độc thân nên cũng không bận bịu gì. "Hãy gọi những đứa trẻ ngoài kia vào từ từ từng đứa một cho chúng nó nước uống". Từ sau cửa sổ nhìn ra ông mỉm cười sung sướng khi nhìn những đứa trẻ gầy còm vì thiếu ăn khúm na khúm núm giấu chai nước nhỏ bé vào trong bụng, mắt trước mắt sau, len lén chạy về lều.
Tin bệnh viện cho nước uống lan nhanh, dân chúng lũ lượt kéo đến bệnh viện dù họ có dấu diếm cỡ nào cũng đâu làm sao qua mắt nổi bọn "MOI". Tên trưởng an ninh lồng lên như chó điên, hắn xách xe rượt đuổi mọi người, rồi lái vòng ra phía sau nhà thờ để tới bệnh viện. Hắn sai bọn đàn em rượt bắt mấy đứa nhỏ, một đứa bé chừng 8 tuổi, gầy như bộ xương, hai tay ôm chặt chai nước vào bụng, thấy xe của tên hung thần tới nó hoãng sợ phóng mình chạy, rồi vấp rễ cây ngã xuống, và chiếc xe tàn nhẫn hất tung nó lên, đần va vào gốc cây, chai nước bể tan, nước tràn ra hòa lẫn với giòng máu đỏ lòm của đứa trẻ thơ vô tội, đọng lại thành vũng, ghê rợn. Sau khi băng bó câp cứu cho đứa bé, Dr Panza kêu điện gọi xe cấp cứu của bệnh viện Tỉnh đến để đưa nó đi.
Trong khi đó tên hung đồ tức giận xông vào bệnh viện, la hét:
-Ai cho phép mày cho nước tụi nó?
Anh y tá run giọng:
Ðạ, ông bác sĩ trưởng.
Sau cái hất hàm của hắn, bọn chó săn đàn em lôi tuột anh y tá ra khỏi bệnh viện. Những tiếng van xin hoà lẫn với tiếng đấm đá tàn nhẫn vang lên từ văn phòng MOI khiến ông Panza rùng mình, ông biết rằng tên khát máu kia không làm gì nổi ông nên đã trút đòn thù lên người cộng sự đáng thương kia. Không thể ngồi yên, ông chạy vội lên văn phòng MOI, xô cửa bước vào để thấy anh y tá đã ngất xỉu, mình mẩy đầy máu me mà tên côn đồ vẫn tiếp tục đấm đá. Ông hét lên:
-Stop it !
Hắn trừng mắt nhìn ông:
-Việc của tôi không liên can gì đến ông, nó vi phạm luật trại thì phải chịu kỹ luật.
Bác sĩ Panza vẫn từ tốn:
-Lỗi của tôi, chính tôi sai anh ta làm việc đó.
Tên trưởng an ninh ra lệnh cho bọn tay sai mời bác sĩ Panza ra ngoài, ông nhất định không đi và nài nỉ xin được săn sóc cho nhân viên của mình. Hai tên MOI Việt Nam nhào tới lôi ông đi, ông chống cự, liền bị ngay một cú đấm vào mặt, té nhủi xuống đất, cặp kính cận văng qua một bên. Ðau lòng thay người vừa đánh ông lại là một người Việt tỵ nạn, đã từng được ông săn sóc an ủi và luôn dành cho những liều thuốc hiếm có được ông mang từ ngòai vào không có trong danh sách thuốc điều trị cho dân tỵ nạn vì hắn bị bệnh tiểu đường, trước ngày việt cộng chiếm miền Nam hắn ta là trung sĩ thông dịch viên cho Mỹ, đến trại tỵ nạn này đã 4 năm, đã rớt thanh lọc đợt 1, nghề nghiệp hiện tại của hắn là cận vệ cho trưởng an ninh trại, cộng thêm nghề tay trái là săn lùng gái đẹp cho chủ, sẵn sàng bán rẻ những người cùng chung số phận của mình để đổi lấy vinh vang huê hạ nhất thời trong cái trại tạm dung này.
Nghe tin bác sĩ Panza bị MOI đánh vì đã cho nước đồng bào, đồng bào trong trại ùn ùn kéo lên văn phòng để coi, sợ có lộn xộn, tên trưởng an ninh Thái ra lệnh giới nghiêm, cấm mọi người ra khỏi khu vực mình ở cho đến khi có lệnh mới, hắn cũng ngừng tay không đánh đập anh y tá nữa mà ra lệnh nhốt anh vô xà lim.
Hôm sau Bác sĩ Panza về Bangkok thật sớm, ông đến gặp Cao Ủy tỵ nạn, xin can thiệp cho anh y tá được tự do và cũng để trả lại thẻ thiện nguyện, ông bảo ông khó lòng mà ở lại để chứng kiến những thảm cảnh của đồng bào mà ông bất lực không giúp đở gì cho họ được.
Suốt tuần lễ cuối, ông sắp xếp công việc bàn giao cho Bác sĩ phụ tá người Nhật, ông rất buồn. Gần hai năm qua ông đã tận tâm tận lực phục vụ cho đồng bào Việt Nam tỵ nạn ở đất Thái này, những mong đem lại một chút an ủi hạnh phúc cho tha nhân, hầu đền đáp ân sũng mà Thiên Chúa đã ban cho ông.
Ngày chia ly, bất chấp lệnh của MOI cấm tụ tập quá 5 người, đồng bào vẫn len lén đưa nhau đến bệnh viện để mong được nhìn thấy một lần cuối vị lương y đã từng lo lắng giúp đở họ trong lúc bệnh tật. Ông đưa tay vẫy họ, nước mắt chực trào ra. Khi xe đã ra đến cỗng, ông còn ngoái đầu lại nhìn mọi người lần cuối. Những vòng rào kẽm gai lùi lại phía sau, một lớp, rồi hai lớp... rồi bụi mờ che khuất những con người khốn khổ, chỉ vì hai chử tự do mà sa vào địa ngục trần gian, không biết đến bao giờ mới được giải thoát.
Nắng vẫn đổ hừng hực, bụi đỏ bay mù sau xe, Bác sĩ Panza không còn nhìn thấy đám người tỵ nạn đáng thương nữa, mắt ông nhòa đi, vì nắng vì bụi, hay vì nước mắt.

Trai ty nan 1992
Hạc Tú


Chủ biên: Phạm Chi Lan
Phụ biên tập: Phạm Thiên Mạc * Nguyễn Phước Nguyên
Ðinh Trường Chinh * Nguyễn Tiến Dũng * Sung Nguyễn * Ðinh Yên Thảo

Homepage:  http://www.vanhocnghethuat.org
E-mail: vhnt@vanhocngehthuat.org

Copyright 001 VHNT Publications. All rights reserved.