vhnt_bnr.gif (16671 bytes)

 


 





  
Số
562- 22 tháng 4, 2004


 
Nguyễn Ngọc Tư

Mối tình xưa


Đoàn làm phim tài liệu về nhà báo liệt sỹ Nguyễn Thọ tạm trú ở trụ sở ấp văn hóa. Họ đã ở lại Mỹ Hưng thêm năm ngày, nhưng vẫn chưa mời được dì Thấm tham gia. Trần Hưng, tác giả kiêm đạo diễn phim, vốn là người kỹ tính, cầu toàn, anh bảo, làm phim Nguyễn Thọ mà không quay được chân dung người yêu ông, mối tình năm cũ của ông thì thà ở nhà chăn heo cho vợ còn sướng hơn. Nên cả đoàn phải nán chờ trong căn nhà bỏ phế bấy lâu, đất nền bị heo ủi lục cục lòn hòn, bìm bìm leo xanh rờn một bên rèm cửa.

Mấy ông già trong xóm lại thấy cảnh tình nheo nhóc, thở dài, tụi bây ở lì vậy không biết có ăn thua gì hôn đây, thằng Mười, chồng con Thấm tính tình khó khăn, ngang ngược, hổng giống ai.

Nên chỉ con người này thản nhiên khi thấy đài truyền hình Xê Tê tới, thản nhiên biểu vợ từ chối. Ngoài ông Mười ra, ở đây, ai cũng muốn được vô phim để kể về một Nguyễn Thọ anh dũng, tài hoa, đứa con thương nhớ của vùng đất Mỹ Hưng này, cho nói chút xíu thôi cũng được. Với Nguyễn Thọ thì làm phim nhiều tập mới xứng, nhóc chuyện. Hai mươi sáu năm rồi, nhưng mỗi ông già bà già đều nhớ thằng Thọ về lần nào cũng chui vô bếp lục cơm nguội ăn với mắm sống, có bộ đồ nhuộm pin đèn mặc chết bỏ luôn. Đám bạn đồng lứa nhớ Nguyễn Thọ hồi nhỏ đen thui, mặt mũi lúc nào cũng đóng rong rêu vì mới lặn lội dưới đìa lên, hiền mà cộc dễ sợ. Mấy ông bạn cùng tổ công tác vừa đọc truyện Mối tình nho nhỏ của Nguyễn Thọ vừa khóc, 'Hỏng có nhà văn nào được như nó, viết truyện ngắn mà ai cũng mê, thuộc lòng như bài ca cải lương, đám cưới, đám giỗ, đám ma đều đem ra làm văn nghệ được hết'. Có ông khóc tồ tồ, 'Cuống rún thằng Thọ còn chôn ở đất này mà tụi ác ôn không biết đã thủ tiêu xương cốt nó ở đâu?'. Trần Hưng rất hài lòng với những đoạn phim vừa thu được, nó nổi bật lên phần đời của người chiến sỹ này, giản dị mà cao quý, bình thường mà phi thường. Và chỉ thiếu một câu chuyện tình nữa thôi, một chân dung nữa thôi, bộ phim sẽ sâu sắc, xúc động lắm. Chỉ cần dì Thấm thôi.

Nhưng đã cầu cứu chính quyền, thằng Thảo từ bên ngoại dong về năn nỉ má nó, lớp trưởng bối ở xóm cũng lại bảo: 'Thằng Mười mầy cho con Thấm lễng víi quị khụ sao?) vộ còng vừ cịch ềng dỰy thỪng Tho (ệịng lỳ con cựa NguyÔn Thả phi ệễĩc nẹng niu, chiÒu chuéng). Mẳt mộy thừ thẹm sừ, kh nó đi một lần nữa thôi. Chuyện làm phim phiếc nầy nọ coi vậy cũng là làm việc nước' nhưng ông Mười vẫn nín thinh, ngồi vấn thuốc, uống trà, nhìn xa xôi. Mấy ông già dội ra, chống gậy te te về, bụng chửi, cái thằng, coi mặt chữ điền bự vậy, cái miệng rộng vậy mà ích kỷ, hẹp hòi. Nó không cho con Thấm đi chắc tại ghen chớ gì. Thằng Thọ chết ngắc rồi mà còn ghen.

Bảy năm trước, lúc ông Mười gom hết thảy bốn chín cái thư của Nguyễn Thọ gửi dì Thấm đem đốt hết, cũng không ai cản được. Mấy ông viết sử của tỉnh kêu trời, đồng đội đồng chí của Nguyễn Thọ cũng kêu trời, phải chi còn, đem in vô tập những bức thư tình hay nhất mặc dù chưa ai được xem Nguyễn Thọ viết ra làm sao). Nhưng thư đã thành tro rồi, ông Mười nói ông không cần biết chuyện giữ gìn bút tích của Nguyễn Thọ để làm tư liệu lịch sử, lưu lại cho thế hệ mai sau gì hết, ông thấy chướng mắt nên đốt, có bậy thì đem ông bỏ tù đi.

Nhưng có ai bị bỏ tù với lý do lãng xẹt như vậy đâu. Chỉ thằng Thảo, con của dì Thấm và Nguyễn Thọ là buồn lòng, bỏ về ngoại ở. Dì út Thía không chồng ôm đứa cháu nhỏ vô lòng, biểu mai mốt lớn rồi cháu hiểu. Có gì mà phải đợi lớn, hồi đó tới giờ, thằng Thảo có chọi chết gà nhà nào, có bẻ trộm trái ở vườn ai, bà con đều xuề xòa bỏ qua, nó là con Nguyễn Thọ mà, tội nghiệp. Họ còn bảo ở ngoài tỉnh nhiều đứa cậy ông cha mình có công còn làm chuyện bậy dữ hơn nữa kìa. Chỉ có ông Mười là răn đe, dạy dỗ, ghìm nó như ghìm con ngựa bất kham. Thằng Thảo dần trở thành một đứa đàng hoàng, tử tế, nhưng gặp bất cứ chuyện gì, trong lòng nó cũng có vết tì, tại mình hỏng phải là con ruột của ổng. Lâu ngày, ý nghĩ ấy đầy như nước lên tròm trèm trên mặt đập. Và khi ông Mười ngồi dựa cái cà ràng đốt xấp thơ của ba Thọ, nước đã vỡ bờ, nó lầm lì xếp hai cái quần cụt với mấy cái áo bỏ xuống bến đón tàu. Dì Thấm không thể giữ nó lại. Ông Mười lặng lẽ ngồi đốt thuốc, ngó cái lưng tôm của thằng Thảo dưới bến, lòng trĩu như đeo đá. Ông mà không thương nó à, không thương nó sao? Ông thương nó bằng chang con ruột ông đó chớ. Bây giờ nó không hiểu, chừng nào nó lớn, yêu thương ai đó, nó sẽ biết mà. Thằng Thảo đi rồi, nhà thành ra nặng nề, dì Thấm, người hiểu ông Mười nhất cũng giận, không thèm nói chuyện, có gọi thì cũng trống không, 'Coi nhà giùm cái', 'Còn thuốc gò hút hôn? Đi chợ nè' 'Cơm chín rồi nghen', ông Mười buồn cười quá, hỏi 'Cơm ai nấu?', dì trả lời '... nấu chớ ai'.

Chuyện nguôi nguôi đi, nhà vẫn buồn, nhưng ông Mười không đau lòng như những bữa từ ngoài ruộng về, ông nhìn thấy vợ cầm xấp thư ở góc nhà, ngồi khóc lặng. Ông thương vợ, cứ như hoài vầy thì đời được mấy ngày vui. Ông đem thư đi giấu trong kẹt bồ lúa, dì vẫn tìm ra, vẫn những bữa đi đâu xa về, dượng thấy đôi mắt vợ mình sưng húp. Buộc lòng ông đem thư đi đốt. Chỉ còn cách đó mới tìm lại nụ cười nhẹ nhõm đậu trên khuôn mặt nhẹ nhõm, vô tư lự như những ngày dì Thấm mới mười tám, hai mươi.

Cả đời, ông chỉ mong người trong nhà hiểu mình chứ trông gì người thiên hạ. Với cái tánh lầm lì, lạnh lùng, ít nói, có nói cũng chậm rãi, hưỡn đãi, thật khó để bộc bạch mình trước người. Về Mỹ Hưng với dì Thấm từ sau giải phóng, ông chưa cãi cọ, mếch lòng ai, suốt ngày chăm chút cho mảnh ruộng miếng vườn, cho bốn đứa con vừa chung vừa riêng nhưng đất quê vợ mãi mãi không yêu ông như một đứa con ruột thịt. Vì ông lấy người yêu duy nhất của Nguyễn Thọ làm vợ (đáng lẽ phải để dành), rồi sau đó không cho vợ đi dự những cuộc họp mặt, hội thảo về Nguyễn Thọ (làm vậy không phải là quay ông biết vui hay buồn, già đầu rồi chưa nói câu nào nghe ngọt ngào với vợ. Ông Mười nghe, buồn quá mà cười.

Ngay bữa đầu Hưng đến, vừa bảo làm phim về Nguyễn Thọ, ông Mười đã chụp cái nón lá lên đầu, bảo phải đi cưa củi. Hưng nấn ná lại với dì Thấm, hỏi dì có ngại không khi kể một chút về Nguyễn Thọ, đoạn ổng với dì yêu nhau ấy mà. Dì cười, ngẩng lên, khóe miệng nhẹ tênh, lắc đầu. Dì không ngại, với làng xóm láng giềng và cả với chồng. Thương người tử tế như anh Thọ thì ngại gì với bà con, lấy ngay thằng ác ôn nào mới mắc cỡ chớ, còn với ông Mười, dì kể rồi, bộc bạch hết chuyện xưa rồi, từ hồi hai người gặp nhau ở nhà máy chà Xã Chọt. Dì thuật tường tận những chỗ hai người gặp nhau, cả những lời thề hẹn. Dì rót trà mời Hưng, rồi bần thần nhìn ra sân, chỗ ông Mười hì hụi kéo cưa một mình, lưng đầm mồ hôi, dì bảo, thiệt tình tui hỏng có gì giấu ổng đâu, nhưng chuyện hồi đó với anh Thọ tôi nhớ hỏng hết. Già rồi...

Khách ra về thì trời đổ mưa to, mưa mà nắng vẫn chang chang trên đầu, trời hầm hập nóng, dì Thấm đi te ra chỗ đống củi, tần ngần nhìn chồng một chút rồi đằng hắng. Ông Mười không ngẩng lên. Dì lại e hèm, ngoảnh nhìn quanh quất kiếm chuyện để nói:

- Củi bằng cườm tay để tui bửa cũng được, ông cưa chi mắc công hôn?

Ông không ngẩng lên:

- Mắc công gì mớ bình bát nầy khô quá, tôi có bửa thử, nghe dội búa, sức tôi còn vậy, ốm yếu như bà sao chịu nổi.

Dì không nói nữa, ngồi dưới gốc ô môi, bới lại cái bới tóc nhỏ teo ngắt như trái cau. Ông Mười chợt ngẩng lên, đưa khuỷu tay lau mồ hôi chảy tràn trên mặt, hỏi:

- Tính đi không?

- Không. Đi gì mà đi, lu bu muốn chết. Lên phim hỏng biết nói cái gì, hư truyền hình của người ta.

Giọng dì tỉnh rụi, như để bảo chồng đừng lo, chuyện phim gì đó dì không để bụng, không thèm quan tâm đâu.

Tối sau, Trần Hưng rủ thêm vài người tới nhà dì Thấm, anh không quên xách theo chai rượu với mớ khô cá kèo mua đằng đầu xóm. Anh nghĩ con người này không dễ thuyết phục đâu, đem rượu lại coi có mở lòng ổng ra được không. Nhưng anh lầm, càng uống ông Mười càng im lặng, chỉ có đôi mắt là dữ tợn lên, đỏ ngầu ngầu dưới hai đám lông mày rậm rì chớm bạc phát ra những tia nhìn như xoáy thấu người khác. Nhậu đã đời cả đám cà xình cà xang về chỗ trụ sở ấp văn hóa mà không nói được gì hết, không thể nói. Trần Hưng nằm ngẫm nghĩ, thấy vừa rồi mình giống như con diều hâu ngồi nhậu với một con gà trống đang xù lông thủ thế bảo vệ vợ con nó.

Lần thứ ba Trần Hưng lại nhà dì Thấm, anh đi một mình. Và thêm một chai rượu nữa. Anh thôi làm diều hâu mà là một con gà trống hiểu biết khác, anh nói anh tới để từ giã, ngày mai đoàn phim về để làm hậu kỳ cho kịp ra mắt Ngày báo chí Việt Nam. Anh cười xòa, bị trắc trở như vầy cũng buồn, nhưng không sao đâu, có lần đi làm phim tụi tôi còn bị người ta vác đá rượt. Làm công việc này có lúc cũng đi moi móc nỗi đau của người khác ra, dày đi dày lại... Tôi cũng thương vợ như anh Mười đây, nhìn thấy vợ nó đau khổ, buồn bực chuyện gì, tôi cũng xót ruột lắm. Đôi mắt ông Mười dịu lại, ông xoay mãi ly rượu trong tay, rồi hớp từng hớp một, từ tốn như uống trà. Một hồi Hưng khật khừng đứng dậy từ giã, ông Mười mới lên tiếng, 'Mai vợ chồng tôi lại'. Hưng nghe mừng như đánh lôtô trong bụng, thì ra trên đời nầy, ai cũng khao khát gặp được tri âm, gặp được người hiểu lòng mình.

Sáng sau, ông Mười lấy xuồng đưa dì Thấm theo kinh Cỏ Chát ra Gò Cây Quao. Nghe chồng biểu thì đi vậy chớ lòng dì Thấm cũng bần thần. Cuối vàm con kinh này là nhà ngoại dì Thấm, nhưng lần nào qua cúng giỗ, dì đều chèo vòng qua kinh Nhà Lầu để về. Bởi vì mỗi lần đi ngang, dì đều không nén được nỗi đau. Dưới kinh ngó lên, có thể thấy chòm cây xanh rì giữa đồng khơi. ở đó, hồi xưa là chỗ hẹn hò, dì quen thuộc từng bụi cây ngọn cỏ, từng bờ đất. Nguyễn Thọ cũng đã hy sinh ở đó, chỗ mé đìa lục bình, bên cây quao cụt ngọn.

Vì vậy mà Trần Hưng mới dắt mọi người ra Gò Cây Quao để quay cảnh kết, anh còn chu đáo rước cả thằng Thảo về. Đất đồng mùa này đã cày, bờ mẫu chơ vơ những bụi cỏ ống, bụi rạ bị đốt cháy nham nhở. Một đoàn người lặc lè đi dưới cái nắng tháng ba như chó le lưỡi. Ông Mười ngồi lại dưới xuồng, đốt thuốc, đăm đăm ngó khói lên trời.

Tới chỗ chòm quao lớn giữa đồng, họ dừng lại. Trong khi đoàn làm phim đang chỉnh trang máy, chọn góc quay, mọi người xúm lại cái cây có nhiều vết đạn nhất, kéo thằng Thảo lại, nhắc chuyện cũ mèm, 'Hồi đó ba mầy núp ở đây nè, một mình nó ở lại chặn cho tụi thằng Ninh dẫn đám thanh niên rút. Để coi hồi đó là là tháng năm hen, anh Tám, cả xóm lúc đó cà núp cà ló vừa dòm chừng máy bay vừa cấy lúa'. Dì Thấm cứ lựng bựng không biết đứng đâu, ngồi đâu. Thằng Thảo kéo tay dì, tí ta tí tởn: 'Ba Thọ chết ở đây nè má, lại coi đi'. Dì rầy, có gì mà coi, chuyện ba nó hy sinh mà. Trần Hưng lôi ra trong túi áo xấp hình Nguyễn Thọ đưa dì Thấm, đây là tư liệu quý giá nằm trong mớ hồ sơ bên Mỹ mới gởi ngược về. Trên những tấm hình trắng đen cũ kỹ hiện lên một mình người nằm cạnh cây súng đã gãy (nghe nói chính anh đập gãy sau khi bắn đến viên đạn cuối cùng). Một vuông ngực vỡ toác. Đôi mắt và đôi tay bị bọn ác ôn băm nát. Cái lồng ngực từng chứa một trái tim đỏ thắm, đôi mắt đã từng nhìn người yêu chan chứa, đôi tay đã từng iu ấp một đôi tay... Dì Thấm run rẩy nhìn những bức hình, hức lên một tiếng rồi rủ xuống như tàu chuối héo.

Trần Hưng chỉ chờ có vậy, anh là tay trùm trong việc dẫn dắt cảm xúc, anh hối người quay phim hướng vào khuôn mặt của dì Thấm đang đầm đìa nước. Trời ơi, cảnh này xúc động lắm, chân thực lắm, mấy nhỏ diễn viên chuyên nghiệp nhìn đây mà học. Trong một tích tắc, thằng Thảo lặng đi, nó nhìn không ra, không hiểu được người mẹ hồn hậu mủ mỉ hay cười của nó mới đây bỗng biến mất đâu rồi, chỉ còn lại một người đang quay quắt đau thương, vắt kiệt mình như cọng rạ cuối nắng.

Mãi dì Thấm không mở lời nói được, chỉ khóc là khóc, nức nở ồ ồ, nhìn cảnh mọi người xúc động, hỉ mũi rột rẹt nhưng không ai bước ra dỗ cho dì nín. Cho đến khi ông Mười xuất hiện, ông bảo: “Mấy chú làm ơn dừng lại một chút” rồi cầm cái khăn rằn lau nước mắt cho dì Thấm, dì như trẻ con, lau khô rồi nước mắt lại trào ra. Ông Mười vẫn nhẫn nại chậm chiếc khăn lên khuôn mặt chớm già của dì, không nói gì hết, khuôn mặt bì sì của ông hơi dúm lại, dường như ông cũng đau lắm, xót lắm.

Cậu quay phim hỏi, quay nữa hôn, Hưng gật, xong lại lắc đầu, bảo thôi, cảm thấy mình hơi có một chút nhẫn tâm.

Cuối tháng sáu, phim được chiếu trên truyền hình, phim thiệt là hay, thiệt xúc động, chân thực, đúng với phong cách Trần Hưng. Tất nhiên, phim không có cảnh ông Mười lau nước mắt cho vợ, nhưng những người có mặt chứng kiến buổi quay phim hôm ấy, cả thằng Thảo, là nhớ, cứ mỗi lần màn hình lướt qua vẻ mặt đau đớn, đẫm nước mắt của dì Thấm, họ lại nhớ tới một chiếc khăn, một bàn tay thô, một tấm lưng rộng.../.

Nguyễn Ngọc Tư


(Tạp chí Nhà văn)




 


Nguyễn Văn Thọ

Cõi ảo


Câu chuyện này bắt đầu trên một trang Web(1).
Rất nhiều người đọc mục 'Tự truyện', nhưng không một câu hỏi nào của người đọc làm tác giả bài viết, một cô gái trẻ quan tâm cả. Chuyện cô kể về một người mẹ, người đàn bà dũng cảm, kiên nhẫn đi suốt cuộc chiến tranh và lại hy sinh tất cả cho con bà ăn học nên người.
Người viết vào mục cảm tưởng là một nhà văn: 'Thật là một người mẹ rất đáng kính trọng, không tầm thường!' Ông xúc động ghi lại cảm tưởng và xin người viết cốt chuyện để viết một truyện ngắn
Giọng kể của cô gái rất vô tư và mộc mạc, nhân vật đứa con của người mà người kia do ghi tên cũng không có dấu nên ông tưởng lầm là con trai. Cô viết Trần Phượng thành Tran Phuong, vì vậy trong lá thư ông dùng đại từ anh để gọi tác giả.
Cô gái trả lời thư người bạn không biết mặt, đồng ý cho ông lấy chuyện cô đã kể làm tư liệu. Trong hai lá thư tiếp đó, hỏi thêm những chi tiết về người mẹ, nhà văn vẫn đinh ninh người viết cho mình là một cậu con trai. Thư nào ông cũng cẩn thận đề dòng cuối: 'Tôi thực lòng cám ơn cậu đã trả lời thư tôi'.
Tình bạn của họ bắt đầu như vậy.
Truyện ngắn hoàn thành rất nhanh và trước khi gửi đăng, ông tri ơn người cung cấp tài liệu cho ông bằng cách gửi cho cô gái đọc trước khi đưa in.
Cô gái đọc xong truyện, gửi thư vội cho nhà văn, đính chính rằng, nhân vật trong truyện phải là một cô gái!
Tất cả tình tiết truyện đã được nhà văn cấu tứ rất nhịp nhàng, vì thế việc thay đổi giới tính của nhân vật tạo nên sự phức tạp không cần thiết. Thế là giữa họ có một cuộc cãi vã chừng hai, ba lá thư. Cuối cùng thì cô gái đành chấp nhận sự giải thích có tình có lý của nhà văn.
Vài tuần sau, nhà văn lĩnh nhuận bút, ông muốn gửi cô báo biếu và khao cô một chầu café. Thực khó lòng từ chối một lần hẹn êm đềm như vậy. Cô gái nhận lời.
Từ khi biết Phượng là một cô gái, nhà văn vẫn nghĩ về cô với hình ảnh một cô gái bình thường, khuôn mặt luôn có cặp kính cận như cô tả. Đối với ông, qua sự tan vỡ ở mối tình đầu thì hình thức là một khía cạnh quan trọng nhưng không phải là tất cả để nói lên bản chất của cái đẹp, dù hình thức có thể giữ vai trò hệ trọng để gợi cảm, nhưng chỉ là khởi đầu. Đấy thật đặc trưng cho tư duy của một người từng trải lại đam mê, nắm được mẹo luật sáng tác. Ông đi về phía có quán ca fê thanh lịch: 'Quán Phố'
Trời xuân lây phây mưa bụi. Ông dựng cổ áo măng tô dạ xám lên che ấm lồng ngực. Cái mũ nồi Basque hơi sụp xuống Chọn bàn trống ngay lối vào, lơ đãng nhìn ra đường phố. Quán Phố hôm nay không nhiều khách lắm. Nhưng cũng tới bốn năm cặp bạn tới ngồi trước khi ông tới. Vài người đi lẻ, dường như không chờ đợi ai. Họ tới đây, có lẽ chỉ thưởng thức li ca fe dưới trời lạnh.. Ông chả vội vàng gì, bình nhiên châm một điếu thuốc và lấy tập bản thảo truyện ngắn của một người bạn ra tranh thủ đọc.
Cô gái vừa ở một hội nghị khoa học bàn về quản lý y tế ra. Hôm nay cô là diễn giả. Báo cáo của cô thực xúc tích và gây bất ngờ cho nhiều người. Người ta tặng cô những bó hoa thật đẹp. Cô gái ra khỏi hội trường của viện nhớ tới cuộc hẹn với nhà văn quen trên thư điện tử. Chỉ còn ba phút! Cô vội vã ra chỗ để xe và thực sự lúng túng với số hoa bồng bênh, bất tiện trên cái làn trước tay lái.
Nhà văn xem đồng hồ. Đã đến giờ hẹn mà cô gái không tới. Ông quan sát toàn tiệm. Không có cô gái nào đi một mình, có hình dáng như ông tưởng tượng cả. Mấy cô gái trẻ có hình thức bình thường thì đi với bạn trai và không mang kính cận. Có hai cô gái rất xinh bên kia bàn đang ríu rít nói về ca sỹ X. Theo ông, X rất “sến”. Như vậy không phải là Phượng. Phượng hiểu biết, bình dị và nhỏ nhắn. Phượng đi một mình. Cô có kính cận. Đấy là vài đặc tính để nhận biết, do ông suy tưởng qua mấy lá thư của cô.
Cô gái thực ra đã tới gần điểm hẹn. Nhưng cô đã thấm mệt và bệnh tim bẩm sinh của cô làm cô bất chợt cảm thấy choáng váng. Phượng dừng xe lại bên đường vài phút và vô tình làm rớt cặp kính xuống đất khi cô xếp lại bó hoa sắp rơi vì gió. Một mắt kính vỡ tan trên hè đường. Cô gái trẻ sững sờ, bởi vì không có nó, cô nhìn mọi vật đều huyền ảo.
Phượng dắt xe phải tới 15 phút mới tới quán Phố. Như vậy người đợi chờ cô quá 30 phút. Ông trả tiền và đứng dậy 'Có thể do lý do gì đấy, cô gái bận, lỡ hẹn!' Ông bước ra khỏi quán cafe Phố, nghĩ ngay đến ý kiến góp ý với truyện ngắn của bạn, không hề để ý tới Phượng và đống hoa trên tay đã đến, lướt qua sát người ông để bước vào tiệm.
Phượng đã tất tưởi gửi xe. Cô bước nhanh và đảo mắt .Không có người nào lớn tuổi ra dáng đợi chờ. Cô không biết rằng người vừa đi sát mình là nhà văn Nguyễn Thụ.Ông già ấy đâu rồi? Phượng thoáng nghĩ về hai truyện ngắn của nhà văn vừa được đọc (Có thể chính vì thế ở những lá thư đầu cô luôn gọi ông là bác). Cô quan sát một vòng nữa bằng đôi mắt hơi nâu, trong sáng nhưng thiếu kính. Có, cô có ngoái nhìn lướt qua ông, nhưng lại nghĩ 'người ấy không thể có phong độ nhanh nhẹn như vậy'.
Gió xuân thốc mưa bụi làm ướt tái đi khuôn mặt mà làn da rất đỗi mịn màng chẳng khi nào cần đánh phấn của cô. Quán đã vắng dần, Phượng trả tiền tách trà, lấy xe, đi rất chậm, sát bên hè trái đường quán Phố
Nhà văn về tới nhà. Ông chậm rãi nấu một bát mì và ăn ngay cạnh bàn máy tính. Viết đến mười một giờ đêm, ông chợt nhớ tới chiều hẹn vừa lỡ. Tại sao cô bé không đến? Ông bật Email(2). Lá thư xanh biếc, với dòng chữ quen thuộc hiện ra, from: Phượng.
Thư ngắn. Cô hỏi, sao ông không tới. Cô than phiền về chuyện vỡ kính; về trái tim đột ngột trở chứng của cô. Cô bảo, hôm nay cô có nhiều hoa mà không gặp ông để chia cho ông một bó. Thế đấy! Chỉ thế đấy mà ông chợt nhói lên. Có phải chăng, ông nhớ tới con gái ông ở tận Sài Gòn. Nó cũng bị tim như thế. Vì nó mà ông và vợ cũ của ông tuy tan vỡ vẫn còn duyên nợ với nhau bao năm mới chia tay. Ông hiểu, quên ngay việc lỡ hẹn để trách cứ cô gái. Ông viết, kể lại việc mình chờ đợi thế nào và an ủi cô vài lời. “Hẹn một dịp nào đó sẽ gặp nhau vậy!” Cuối thư ông hỏi địa chỉ cô, ngỏ ý muốn gửi cô tờ báo có in truyện, cái truyện ngắn dựa vào cốt chuyện về người mẹ của cô. Xong, ông nhấn nút Thư bay đi.
Chỉ sau vài phút thì ông nhận thư trả lời. Thực đáng tiếc, chiều mai cô sẽ bay đi Úc, bắt đầu một khóa học lấy bằng Master theo kế hoạch tài trợ của nước bạn. 'Xin bác hãy gửi báo về địa chỉ dưới đây của cháu, mẹ cháu sẽ chuyển sau cho cháu vậy!' Cô gái viết.... Nhà văn lắc đầu. Mình thực là vô duyên! Ông nghĩ và không hề biết là Phượng cũng đang nghĩ về ông khi cô sắp xếp mấy cuốn sách vào va li: 'Mình nhìn thấy ông ta rồi. Cũng chưa già ốăm. Cái dáng lướt sát mình khi ấy. Giá mà khi đó còn cặp kính nhỉ!' Phượng tủm tỉm cười một mình.
Nửa tháng sau, trên hộp thư điện tử của Thụ xuất hiện lá thư đầu tiên của Phượng. Thư nhẹ nhàng kể về cuộc sống tại Úc, kèm theo là bức ảnh, một cô gái dáng thanh tú quay lưng lại như khoe bộ tóc dầy đen buông xõa ngang vai. Cô đang ngắm dòng sông nhỏ và cánh rừng vàng thu phía trước; lại có vài bức ảnh màu chụp những con vật lạ, ngộ nghĩnh mà theo Thụ, cô gái cắt cúp khá đẹp Ông tự hỏi, sao tóc như vậy lại cắt ngắn đi nhỉ? Ơ, thời đại mới mà! Thời đại mà việc lấy nét, tốc độ, cửa mở đã có máy tự động giải quyết! Nhưng cô biết chụp ảnh lắm đấy. Ông viết, khen cô cắt cúp, bố cục các mảng tối sáng rất đẹp Cô gái lập tức trả lời rằng, cô có học chụp ảnh và máy của cô là máy cơ, không phải máy tự động. Chỉ có vậy mà ông vẫn cặm cụi trả lời những lá thư chẳng có gì quan trọng như thế của Phượng Không hiểu do lý do nào đó, Phượng gọi ông bằng chú thay 'bác'. Từ ấy, thư thường có dòng đầu: Chú Thụ ơi!
Nguyễn Thụ thực ra không có nhiều thời gian. Để kiếm sống, ông phải lăn lưng làm việc tại một nhà xuất bản. Ngoài ra công việc của cá nhân ông là sáng tác. Ông thuộc số ít văn sỹ không thích quan hệ rộng Sự viết của ông thực sự là đam mê, dẫu mệt nhọc. Thích thú như thế, nhưng ông không coi trọng nó hơn các công việc khác, như việc việc đọc morat* cho các cây bút trẻ chẳng hạn. Ông thường nghĩ, viết văn cùng như kiếm sống, để mình sống; không có việc nào trên đời cao quý hơn việc nào. Cao quý là do tấm lòng với công việc Việc viết của ông cũng chẳng mong cái danh như người khác. Ông viết cho Phượng: “tôi viết văn để trả nợ và giải tỏa, tâm sự với bè bạn.” Có thể thế thật, bởi vì ông luôn cảm thấy cô đơn, khổ tâm, nhất là khi ông không viết được gì.
Những lá thư bay đi, bay lại trên không gian; khi thì đậu xuống nơi Phượng, cái phòng nhỏ trông ra một cánh rừng đầy lá vàng và con suối vòng vo, róc rách chảy bên một lối mòn về tít khoảng rừng bao la còn hoang dại; khi thì sa xuống mái nhà luôn ẩm thấp, dưới bóng một cây lan lớn, tỏa hương thấm dịu Từng ngày một, từng tuần một, nó như một thứ men, vô tình ủ thứ nhựa tiềm ẩn trong hai người Với Phượng, ông là người chăm chỉ nhất phúc đáp thư cô. (Đấy là ý kiến của Phượng ở lá thư sau này thật thà kể). Sự chăm chỉ của ông cũng có nguyên do của nó. Khởi đầu là lòng ưu ái với lớp người trẻ, sau là sự tưởng tượng về Phượng qua những lá thư của cô. Sự tưởng tượng về Phượng khi động cả tới phần sâu kín nhất trong ông, hình ảnh của một người con gái đã xa lắm, hồi ông mới ra trận và tình cảm ấy bị thời cuộc, thời gian phủ lên một lớp tro kín Tự nhiên, dần dần ông mong đợi các lá thư của Phượng. Ông thoảng buồn khi bấm vào máy không có lá thư xanh với ký tự From: Phượng. Là một người nhậy cảm, ông chắp nối những tình cảm xưa và hôm nay của ông làm mấy bài thơ. Những bài thơ tình, thứ thơ mà đã lâu quá rồi ông không dám viết. Thơ tình khó lắm! Làm sao mà có thể lột tả, gợi mở tâm hồn người ta với ngôn ngữ bình dị, ý tứ chân thành Thực là, Phượng, với những câu chuyện thông minh, vô tư và dí dỏm đã đánh thức từ trong xa xôi của ông những tình cảm trong sáng và tốt đẹp.
Tại Úc, cô Phượng cũng rất vui khi nhận thư ông Với cô, quan hệ trên mạng như một trò đùa. Một trò đùa dai vô hại. Họ vẫn xưng hô bằng chú, cháu, nhưng những câu chuyện của họ, biểu hiện tình cảm của họ dường như vượt qua mọi khách sáo. Theo năm tháng, dù từ những quan niệm khác nhau bởi thế hệ, nó vẫn làm ấm lòng cả hai người trong hai hoàn cảnh khác nhau. Với Phượng, trò đùa vô hại làm cô bớt đi khoang trống hoang hoác nơi đất khách của một người con gái đang độ rừng rực thanh xuân.
Sáu tháng sau đó, ông bỗng bặt tin Phượng. Tự nhiên ông cảm thấy trống vắng điều gì đấy rất khó cắt nghĩa. Nhất là những khi ông không tìm thấy một đoạn viết mới, tiếp tục cuộc hành trình văn chương của ông; nhất là khi hàng ngày ông phải đụng chạm với trăm ngàn điều dung tục mà ông phải sống chung, không thể lẩn tránh. Ông làm nhiều thơ hơn, cảm giác buồn mơ hồ, tự nhiên buồn, không rõ từ đâu luôn tới, xâm chiếm tâm hồn ông và cũng tự nhiên, nó nằm ngoài ý đồ của chính tác gỉa.
Tháng sáu, một tuần liền, thời tiết Hà Nội đỏng đảnh. Những cơn mưa bất chợt ào về xối xả. Nước phố dềnh lên lênh láng ngập đầy cửa nhà và sau đó là nắng vỗ lửa xuống mặt phố. Ông ốm, phải nghỉ việc, ngủ mê mệt trong mơ sảng lạ lùng. Ông thấy mình đi với mấy người lính trẻ năm nào. Ông thấy cả khu rừng già chìm trong tiếng mưa, nghe rõ tiếng ào ào; tưởng như ở trên cao thăm thẳm có một người khổng lồ gầm gừ, hăm dọa đe nẹt những con người nhỏ bé đang đồn trú dưới thm rừng nhiệt đới. Ông lại mơ thấy ông bị thương, bàn chân đẫm máu và thấy một cô gái rất trẻ, không rõ mặt tới nhẹ nhàng nâng đầu ông lên, cho ông gối vào cánh tay mềm mại của cô. Ông muốn mà không sao cất lên lời. Đôi môi ông nóng rát. Ông mơ thấy cô gái hôn ông và ông ghì chặt tới thảm thương tấm thân nóng rát. Cô gái hơi mỉm cười và đáp lại đôi mắt khẩn cầu của ông bằng bàn tay ấm, mềm. Nhè nhẹ, cô vuốt ve, vỗ về mái tóc còn xanh mướt của người lính Cảnh cuối cùng ông thấy cô bước vào một dòng sông cuồn cuộn đầy khói và khuất mờ trong đó. Ông thét lên, tỉnh giấc. Người ông đẫm mồ hôi. Ông ngồi dậy trong đêm, lần sờ hai viên thuốc hạ nhiệt trong túi áo nhàu nát treo trên thành ghế viết.
Dựa vào những suy cảm từ giấc mơ ấy, ông viết thành một bài thơ 21 câu. Đặt cho nó một tựa đề: Tình Yêu Của Tôi. Nhưng đọc cả bài, người ta không thể biết, đấy là tình cảm lý tưởng hay tình yêu cụ thể của một con người đã hơn 50 tuổi.
Mấy tuần sau đó, ông liên tục nhận và gửi thư cho Phượng Họ nói chuyện về con Koala ngộ nghĩnh. Nó hay nghịch như cháu, song nó ngủ nhiều lắm, cô gái viết vậy. Ông hỏi cô ngủ một ngày bao tiếng. Phượng trả lời rằng, cô rất ghét ngủ. Mỗi ngày cô chỉ ngủ năm tiếng là nhiều lắm rồi. Ông trách cô không biết gìn giữ sức khoẻ. Cô lại thanh minh là cô phải đọc rất nhiều và còn bướng bỉnh bảo: 'Cháu sống được bao lâu mà ngủ hết cả quỹ thời gian ngắn ngủi' Ông liền viết dọa: 'cô bé ơi, nước da sẽ xỉn đi, khô lại vì phụ nữ cần ngủ cho khí huyết lưu thông. Nhất là cháu bị tim nữa! Việc ấy không thể coi thường!' Cô gái trêu chọc ông rằng, chú lo bò trắng răng. Cháu viết văn thì kém chú, nhưng chuyên môn của cháu là chăm sóc sức khỏe con người co mà! Như thế đấy, họ lại tranh luận những chuyện liên quan tới nghề nghiệp của Phượng, rồi cả vài bài tiểu luận văn chương ông mới viết. Xem ra, cô gái kiến thức cũng không vừa, lại tỏ ra chẳng dễ khuất phục Nhưng bao giờ cũng vậy, ông nhường nhịn, nhận phần thua về minh Cô gái không muốn vậy. Có lần cô viết, cháu không cần cái lối thua trận giả vờ ấy, chú phải nói đến cùng với cháu! Ngô hay khoai.? Khoa học không có nhượng bộ! Cô viết vậy. Ông cười tha lượng trong đêm. Thư trả lời, ông viết, vâng Phượng ạ, khoa học không có nhượng bộ, nhưng cuộc sống đôi khi cần tính nhượng bộ, và nó cũng thuộc về khoa học!
Họ cứ thư từ suốt đãhơnmột năm trôi đi. Nếu cộng lại thư họ dài tới vài cây số. Có lần ông mở hộp thư lưu của Phượng ra giật mình; vì nếu in ra, ông có một cuốn sách dầy tới 400 trang không kém. Thế mà cách đây không lâu, người ta đã vội vàng dự đoán, khi thế giới tràn ngập máy tính thì không còn ai muốn viết thư nữa. Ồ, thư bút, giấy mực thì có thể như vậy! Ông nghĩ.
Một bữa, cô gái từ trường về bị mưa. Thời tiết bên Úc trái ngược với Việt Nam. Khi ở ta là mùa đông thì nơi ấy là hè và ngược lại. Cô gái bị cảm lạnh và rất khó ở vì ' bệnh tim chết tiệt nó hành hạ cháu!'. Chuyện ấy, Phượng vô tình cho ông biết khi trả lời chậm trễ một lá thư ông. Thế là ông cuống lên, ông điện vào Sài Gòn, hỏi tên thuốc mà con ông rành hơn. Ông điện hỏi cả bè bạn, cả giáo sư chuyên khoa, cách ngừa phòng giữ gìn của người bệnh tim và những phản ứng phụ của thuốc trị liệu. Ông viết một thư dài cho Phượng, gửi cả thuốc sang tận Úc, để nhận thư cám ơn và lời trách đùa: 'Sau, cháu tự lo được, vì chú đã chở củi về rừng rồi!' Đêm đó, không hiểu sao ông lại nghĩ tới cảnh ngày xưa nằm một mình canh một kho đạn trong rừng. Thế là ông chép vài chuyện cười gửi cho cô, lại tiện tay bấm nút cho tập thơ mới viết của ông bay đi. Gần hai chục bài thơ tình như di mây trôi tới Úc. Thơ thì khó lắm Ngôn ngữ lại bảng lảng, chả cụ thể gì. Vì vậy Phượng đọc nó với tâm trạng vừa tò mò vừa hứng thú và sau là một tâm trạng đề phòng. Cô gửi về ông những nhận xét rất dè dặt nhưng chính xác về tình cảm và ý tưởng của tác giả Cuối thư cô còn viết: 'Sao chú buồn thế hở chú '

Đấy là điều hiếm, nhất là khi bây giờ nhiều người làm thơ nên nhiều người đọc thơ hời hợt. Với ông, thơ rất khó. Trước khi quen Phượng, ông chỉ làm thơ khi không viết văn xuôi được. Những cảm giác lãng đãng khi không thể biểu đạt trong văn xuôi; những suy cảm mà nếu lưu giữ, đè nén, không viết ra, trở thành sự hành hạ, buộc ông phải viết. Ông tự nhận, so với văn xuôi, thơ ông còn non trẻ, lẫm chẫm, nhưng hồn hậu. Điều ấy, một thi sỹ bạn ông cũng từng nhận xét để khuyên ông nên tập trung cho văn xuôi đi Nhưng ông cho là, việc gì phải từ bỏ nó. Bên cạnh văn xuôi, thơ như cái nạng nhỏ, giúp các truyện ngắn của ông có sức gái Sức gợi mở, đó là điều cần của thể loại văn xuôi hiện đại chăng? Ông nghĩ vậy.
Thế mà Phượng lại nhận xét khác. Cô cho là thơ ông hay hơn truyện! Ông cười trong đêm. Không vặn lại Phượng. Văn chương, sự thẩm ngấm nó, đôi khi cần cả vốn sống để nhận ra một cách sâu sắc những điều chìm đắm, ẩn dấu dưới con chữ, sự kiện.
Phượng dạo này khá rỗi. Cô viết vậy. Thế là ông có sáng kiến nhờ cô đọc những tiểu luận và truyện ông mới viết, cả những bài báo, trước khi ông đưa in. Thực kỳ lạ, ông viết rất hăng sau các thư của Phượng. Những cảm nhận của cô nhiều khi chưa đúng hẳn, nhưng giúp ông điều chỉnh những chi tiết và hành văn giản dị, trong sáng hơn. Cứ như thế, ông làm cho Phượng cũng vui, dù là cô không ý thức rằng, trong các tác phẩm của ông đã có cô, một chút thôi, hơi thở của Phượng.
Tết năm ấy chậm chạp trôi qua. Ông viết gửi Phượng lá thư ngắn chúc tết. Cô gái đáp lại bằng tấm thiệp tràn ngập màu xanh với mẫu chữ rất điệu Cái con Koala mắt tròn xoe cứ nhấp nhánh mà cô cài lên tấm thiếp làm ông bất chợt tủm tỉm cười. Đêm ấy, ông uống rượu tới khuya, hơi nhiều tại nhà một người bạn. Khi bước khỏi ngôi nhà ấm cúng, đầy phong vị tết của hai vợ chồng kia, ông bắt chợt cái lạnh leo seo vuốt ve khuôn mặt. Ngửng lên trời thăm thẳm, ông chợt nhớ tới Phượng. Giá bây giờ có mưa nhò? Ông khát Ông chợt nảy ra một tứ thơ và đi như chạy về nhà để viết. Bài thơ nhan đề chờ mưa viết nhanh như dòng thác, chẩy ào ra từ con tim ông, trong căn nhà nghe rõ tiếng những giọt khuya lộp độp rớt xuống từ tàn lá, mang theo cả hương của cây lan già. Bài thơ có mấy câu rất tha thiết, nói tới tâm trạng hanh hao của một con người luôn thèm yêu, bàng bạc cảm giác cô đơn. Thực tâm, ông không có ý tán tỉnh ai cả và có thể nghĩ vậy nên ông bắn bài thơ lên trời, gửi cho cô bạn gái kênh tuổi ở xa kia, mong cầu chia sẻ, an ủi cả hai phía.
Phượng đọc bài thơ ấy của ông khi mà cô đang nhớ nhà nhất. Thật vậy, nhiều bài thơ của ông làm cô xúc động Nhưng bài thơ vừa nhận làm cô bàng hoàng. Cái đoạn:”Tôi từng đêm đợi mưa như rừng khô tháng hạ/ như suối trơ sỏi đá/ Mưa có biết tôi chờ?…”, thực sự làm cô hoang mang về tình cảm của ông nhà văn kỳ quặc này. Cô lập tức viết lá thư ngắn. Phải ngăn chặn những ý nghĩ ấy từ xa! Thế là sau vài lời bình, cô nói rằng cô khó hiểu tình cảm của ông, cô hoàn toàn không chờ đợi điều đấy, cô hỏi: 'Từ trước đấy chú sống thế nào, viết thế nào, khi chưa có Mưa' Chữ mưa cô viết rõ to và trong ngoặc. Viết xong, cô bấm máy. Lá thư vút đi.
Nguyễn Thụ nhận được thư thì đã khuya lắm. Ông nhấn cái nút, lá thư hiện ra. Ông hoàn toàn bất ngờ với câu hỏi của Phượng Những câu hỏi ngắn, thực ra cũng không có tâm địa nặng nề gì, nhưng vẫn như làn roi quất mạnh vào con tim ông. Nhất là khi ông đang buồn và khó ở. Ông cho là Phượng không còn tri kỷ nữa. Cô ấy trẻ quá! Rồi, ông lại tự trách mình đã thả nổi tình cảm, không lường hết khả năng sinh thành một đời sống tình cảm khác của người đọc. Sáng tác của ông, mỗi đứa con vừa ra đi, vừa thoát khỏi ngòi bút, đã không phụ thuộc vào ông nữa. Nó có một thân phận ngoài ý muốn của ông rồi. Điều ấy ông biết, nhưng thói tự ái của một người đầy nhậy cảm, trái tim rất dễ tổn thưng lại xúi ông viết một lá thư phản hồi trách móc. Ông suy nghĩ một lát và hạ chữ vĩnh biệt ở cuối thư. Khi ấy, ông vừa có cảm giác xấu hổ vừa tự thưng mình.
Gửi thư xong, ông ngồi lặng trong đêm Hôm nay là một ngày không may. Vừa chưa hết sự tức bực do mấy chữ đã bị biên tập cắt đi trong một truyện ngắn của ông in số tết thì lại bị công an phạt khi ông đi ngược chiều ở sát đại sứ Pháp; giờ là lá thư đáng buồn này. Đêm lặng, hương lan già luồn vào nhà, lặng lẽ ngấm theo hơi thở của ông, làm ông dần bình tâm lại. Cô gái trẻ có quyền như vậy. Chính ông là người có lỗi. Ông nhớ lại chuyện với Phượng từ ngày đầu tiên để ân hận về sự nóng nảy của mình. Ông giật mình, chợt nhận ra từ đâu thăm thẳm, hình như, hình như…
Nhắm mắt lại, ông không dám nghĩ tiếp. Ông nhỏm dậy, lặng lẽ bật máy, xếp những lá thư của ông và Phượng vào một ngăn lưu trữ. Mái đầu chớm bạc của ông rung nhẹ. Một lát, ông nhấn nút, những lá thơ vụt nằm vào kho lưu trữ..
Ngoài trời, mưa xuân về, thưa và nhẹ.
Trong khi đó, Phượng đọc đi đọc lại thư ông tới cả chục lần. Hơn năm nay, ông là người duy nhất liên lạc thường xuyên với cô. Thi thoảng lắm, cô mới gọi điện về Hà Nội cho một Người bạn trai của cô, mối tình đầu của cô cũng lười viết thư. Cô có cảm giác tủi thân khi chợt nghĩ, hình như khi cô đã thuộc về người ta rồi, thì người ta bỏ mặc cô ở đây và thi thoảng mới ngó tới. Tại sao cô nỡ trách cứ thô bạo tình cảm của ông già ấy để ông nổi giận và hạ lời vĩnh biệt? Phượng ngồi một mình trong gian nhà có thể nghe thấy tiếng tim cô đập. Cô hoàn toàn không có ai để đủ tin cậy mà trao đổi việc này. Có thể nguyên do đẩy tình cảm của ông tới trạng thái ấy vì lỗi ở cả cô nữa. Cô chẳng thường mong những lá thư của ông kia mà. Cô chẳng thường ngủ rất ngon với những bài thơ của ông. Tại sao cô, một người tuy còn trẻ, có học thức, lại không còn lời nào tế nhị hơn để đẩy xa, tạo được khoảng an toàn với tình cảm của ông. Hay là, hay là chính sự đề phòng của cô cũng là sự dối lòng mình. Phượng khóc.
Ông ấy vĩnh biệt rồi. Lúc ấy, lòng tự ái làm cô không viết thư trả lời ông. Nhưng khi vừa ở trường về, cô vẫn bật máy rất nhanh không kịp cởi áo khoác. Màn hình chạy nhanh vệt tín hiệu rà sát thư từ như mọi khi mà cô cảm thấy hôm nay sao chậm thế! Chẳng có lá thư quen thuộc! Cô chợt nghĩ, chia tay nhau cũng phải rõ ràng, khoai ra khoai chứ! Thế là cô viết thư cho ông sau ba ngày im lặng. Thư cô viết mở đầu bằng lời xin lỗi. Lời xin lỗi của một ít tuổỉ, đã làm ông buồn. Xin ông bỏ qua điều gì, nếu không phải.Cô nói, cô rất tôn trọng ông và giữ lại sự tôn trọng ấy. Cô mong ông hiểu, và tin là ông sẽ hiểu. Việc cô từ chối không cho ông số điện thoại cũng không phải sự coi thường ông. Cuối thư cô nhắc lại ông không nên vội vã tức giận, cô vẫn là một đứa trẻ với ông và luôn cầu mong ông sống hạnh phúc.
Làm xong việc đó Phượng như vơi đi gánh nặng. Cô thấy thanh thản và đọc hết toàn bộ hai chương của cuốn sách bàn về vai trò của ngân hàng thế giới với sự phát triển của hệ thống y tế trong các nước chậm tiến. Cô lấy bút ghi lại những thông tin cần thiết và sau đó tha thẩn ra bờ suối. Dòng suối trong vắt, nhìn thấy cả những viên sỏi mầu hồng và những con cá có cái bụng trong suốt, vun vút lao vào đớp những mẩu bánh vụn của cô tung ra. Như thế là mình đã thanh minh về việc trót vô tình làm tổn thưng con người ấy. Chắc ông ấy không trả lời mình đâu. Nhưng tại sao mình cứ quan tâm tới thư của ông ấy nhỉ? Cô cười nhạo cái bóng cô dưới con suối vì tự biết vì sao cô đã làm như vậy. Không, rồi cả tuần sẽ không bật máy. Có thư sẽ không trả lời. Cô nghĩ thế và quay về nhà yên tâm ngủ ngon trên chiếc đi văng mầu vàng nhạt.
Lá thư của Phượng tới Hà nội sau đó vài chục giây. Đó chính là lúc ông buồn nhất. Mấy ngày qua, ông nhận ra tình cảm của ông. Bởi thế nên khi lý trí buộc ông gửi lá thư giã từ đi thì con tim ông đau đớn.Không muốn nghĩ đến Phượng nữa mà sao cứ nghĩ hoài. Tựa hệt như ông mất đi một điều gì đó vô cùng quý hiếm trong thời gian vừa qua. Cuộc hành trình của ông với Phượng hoàn toàn không vụ lợi về mặt thể chất. Ngay cả khuôn mặt cụ thể của cô, ông còn không tường nữa là.. Một bức tranh tự họa của cô gửi về, bằng mầu sáp, cũng bảng lảng như thơ ông! Trong ông, từ khi khởi đầu đến hôm qua, bao nhiêu là bao nhiêu câu chuyện, không chỉ gợi cho ông về một tình yêu mà ông mơ ước. Cô gái thông minh đến thế, cô gái có dáng mảnh mai và mang một tâm hồn phong phú, đẹp, chinh phục ông bắt nguồn từ lòng biết ơn rất sâu sắc của cô với người mẹ, rồi những quan niệm, tâm từ, tình cảm của cô với công việc, con người, xã hội, từng ngày một cho ông nhận ra: “Con người ấy phải đẹp, nhưng cô còn trẻ quá!” Bấy nay, nó thực sự như điều gì đến, làm ông nối tiếp những suy cảm về cái đẹp, điều tốt đẹp, mặc cho là cuộc đời ông nhiều cay đắng và mất mát; mặc cho cuộc sống hàng ngày quanh ông còn quá nhiều điều bất cập và dung tục. Thư cô gái, sự giao lưu của họ, như một làn gió ấm trong đêm, làm tan hết sự trống trải không cùng của ông hôm nào. Trong cơn điên khùng của mình, ông lập tức phúc đáp và trình bầy, phân tích tất cả những diễn biến tình cảm tự nhiên của ông Ông nói cả nỗi buồn và sợ hãi trong mấy ngày qua. Ông viết ra cả mấy câu thơ trong bài thơ vừa viết. Để cuối cùng ông xuống dòng kết thúc bằng ba chữ: Anh yêu em!
Nhấn nút.
Lá thư vèo bay như một tia chớp xanh rơi vào hộp thư của Phượng rồi nằm đó được hai ngày. Phượng nhất quyết không mở máy đã hai ngày. Nhưng buổi tối hôm đó cô không thể không ấn vào cái nút gọi Email trên màn hình, ánh chớp vút xuống làm cô choáng váng.
Bốn câu thơ của người ấy, cái người tên là Nguyễn Thụ ấy, thực sự làm cô bàng hoàng:
-Anh yêu em,
sợ chậm buổi chiều
lỡ câu hẹn, gió mang lời trăng trối
sợ…đứt một ngọn cỏ, trên đường em bước vội
sợ, làn hơi dứt quãng nụ hôn...
Phượng đọc đi đọc lại lá thư của ông. Cô nhớ lại suốt thời gian gần hai năm vừa qua. Cũng giống như ông, cô đã nhiều khi hờn giận, nhiều lần trông đợi. Bấy lâu nay, ở đâu cái biên giới giữa trò đùa vô hại và những tình cảm có tính tích tụ rồi trở nên khắc khoải, trạng thái yêu rất thực tâm xuất hiện trong con người cô. Sự chân thành của ông ư? Những quan tâm và lo lắng rất chi tiết của ông suốt gần hai năm ư? Cô không sao tự rạch ròi phân định ở đâu, điều gì đã đẩy tình cảm của cô dần phát triển, không lường hết, xóa bỏ cái trò đùa ban đầu của cô.
Nhưng cô có người yêu rồi. Cô không có lý do gì để cắt bỏ người ta, mặc cho là nếu so sánh thì cô cảm thấy cái người tên Nguyễn Thụ kia yêu cô đắm say và mạnh mẽ hơn, biểu hiện chăm lo kỹ càng và chi tiết hơn. Ông ta sâu sắc hơn cái người cô từng yêu trước Mặc cho là ông hơn cô nhiều tuổi, không trẻ bằng cái hoàn cảnh có sẵn của cô. Sao con người ông lại bất hạnh thế? Sao cuộc sống lại trớ trêu vậy? Nếu như ông ấy tỏ ra, một chút thôi, dùng vật chất để mua chuộc cô thì thực dễ hiểu, dễ giải quyết; đằng này, toàn bộ hành trình quen biết giữa cô và ông chỉ có mối quan hệ tinh thần thuần túy và luôn đặt nó lên trên các trị giá vật chất. Có lẽ cô cũng yêu ông rồi, và như thế thì thực đáng trách dù cô không hề lợi dụng ông. Thậm chí tình cảm của ông, của cô giờ đây chỉ đầy dày vò, đau khổ
Cô phải nói rõ mọi chuyện cho ông ấy, trực tiếp bằng điện thoại. Nói rõ rằng, cô có bạn trai rồi. Phải rõ ràng! Nghĩ vậy, Phượng lục tìm số máy của ông và ấn phím.
Đầu giây bên kia im ắng tới ba bốn giây gì đó rồi vọng ra một giọng rất ấm áp. Ông ta! Tự nhiên Phượng run lên. Cô không đủ sức để nói lời dự kiến. Cái giọng bên kia càng ấm áp bao nhiêu, dồn dập bao nhiêu thì cô càng lúng túng bấy nhiêu. Đột nhiên, không hiểu vì sao, cô rơi thỏm vào trạng thái hoàn toàn bất lức. Phượng bật khóc.
Ông hoàn toàn bất ngờ khi đã nửa đêm rồi. Ông bột phát nói lên những lời âu yếm nhất để khuyên giải cô gái nín đi. Ông nói rất chậm rồi nhanh như sợ đường dây vụt đứt giống hệt hồi nào trong một trận chiến đấu. Cả hai đều nghe rất rõ hơi thở của nhau, sắc thái của giọng nói, tiếng khóc và tiếng đồng hồ tích tắc trên bàn vọng vào.
Phượng sợ hãi tắt máy. Cô lăn ra đi văng bưng mặt. Nước mắt phương xa thấm ướt cả cái gối mềm. Trời ơi, tưởng gỡ ra lại buộc vào!
Sau đó là thời gian đẹp nhất của hai người. Họ trao đổi thư dầy đặc hơn. Cô gái nhận những bài viết của ông đọc và trao đổi rất thành tâm những chi tiết sai sót trong tầm nhận thức của cô Thậm chí, nhà văn nào chả có câu viết vội, cô mạnh dạn sửa chữa như một người thư ký cần mẫn và bôi hồng những đoạn ấy cho ông đỡ mất công tìm kiếm. Có lần hứng khởi, cô còn dịch ra tiếng anh mấy đoạn thơ của ông viết tặng. Rồi cô còn làm ông lúng túng khi viết cho ông lời một bài hát: as long as love you me (*)! Phượng cũng không gọi cô với từ chú nữa. Mở đầu những lá thư bây giờ, cô đề: Anh Thụ ơ! Chữ viết bằng máy, mà đôi khi ông cảm giác, hình như cô nắn nót lắm thì phải.
Mùa ấy có một hội thơ văn chưng ở Úc. Như duyên trời đã định, do mối giao tiếp, người ta đích danh mời ông tham dự với tư cách một nhà văn viết về chiến tranh. Nguyễn Thụ chuẩn bị hành trang nhanh và gọn nhẹ. Ông báo cho nhà xuất bản, cơ quan ông, sẽ ở lại Úc thêm một tuần vì lý do riông Ông sẽ dành bất ngờ cho Phượng, không báo trước cho cô Ông dò hỏi kinh nghiệm vào Úc của bè bạn, lên phố trên mua một vài thứ quà Việt Nam cho Phượng và bạn văn. Dự tính như thế, nhưng ông không kiềm lòng được, để ngày đầu tiên đến Úc, ông tới phòng máy tính của khách sạn viết thư báo cho Phượng, tin ông sẽ tới thăm cô. Buổi tối ấy, cũng không thể kìm lòng, ông lại gọi điện thoại cho Phượng
-Anh ở cách em cóhơn ba trăm cây thôi! Anh sẽ tới. Anh yêu em.
Đầu máy bên kia có giọng Phượng. Cô không dấu nổi ngạc nhiên về tin bất ngờ này và ngồi phịch xuống ghế sau cú điện ngắn, thở mạnh.
Suốt đêm ấy Phượng không ngủ. Cô không thể tưởng tượng ông lại có mặt tại xứ sở này. Cô giật mình khi nghĩ tới việc, chỉ một tháng nữa thôi cô sẽ kết thúc khóa học trở về Việt Nam. Cô sẽ gặp lại người yêu năm xưa của cô. Bây giờ ông đến đây, trong căn phòng chỉ có một chỗ ngủ này, cô xử lý thế nào.
Phượng đã yêu ông, nhưng cô chưa rứt khoát rõ ràng với người yêu cũ, mà theo kế hoạch trước khi đi thì chuyến về này cô và anh ấy sẽ thành hôn. Bây giờ đối mặt với thực tế, Phượng thấy hoàn toàn khó xử. Cô còn trẻ. Vâng, còn trẻ, nhưng vốn kiến thức nghề nghiệp của cô, những nhận thức của cô về phân tâm học, về sức mạnh của bản năng để cô hoàn toàn ý thức được những điều có thể xảy ra ở gian phòng này, mà cô thì chưa muốn, không muốn như vậy. Liệu cô có đủ bản lĩnh để chế ngự được những tình cảm mãnh liệt của ông không? Nếu như cuộc tình cũ của cô rõ ràng rồi, thì việc để ông ở tới đây, khi người ta yêu nhau hết mình, tất cả sẽ không còn là vấn đề. Suốt đêm Phượng tự đối thoại, đôi co với chính cô như vậy. Rõ ràng, cô đang đứng trước một bờ vực mà người ta phải nhẩy qua nó để tới nơi phải đến.
Phượng suy nghĩ một lát và nhấc máy.
Đầu bên kia là cô nhân viên khách sạn nơi ông ở. 'Vâng, chúng tôi sẽ báo cho khách của chúng tôi. Cám ơn bà. Xin bà vui lòng để lại địa chỉ và tên họ'
Ông trở về sau bữa tiệc chiêu đãi ăm ắp men say. Người ta báo với ông có điện thoại, có thư gửi cho ông trên hộp Email của ông. Đã hai giờ đêm rồi. Ông tới phòng máy tính dùng chung cho khách để lấy thư, in ra bằng chiếc máy lade rất xịn. Thì ra Phượng đã tự lượng sức mình mà có lá thư này. Cô viết: 'Em không dám gọi điện cho anh. Hãy bình tĩnh nghe em nói. Em biểt rằng anh rất yêu em, em cũng yêu anh, nhưng thực tệ bạc và xấu xa nếu che dấu anh những điều mà em nói ra hôm nay..'
Ông nằm vật ra giường. Cái đệm khách sạn thơm dịu và êm ái đến thế mà ông không sao chợp mắt. Phượng đã kể tất cả. Cô đề nghị ông nên suy nghĩ kỹ nếu như tới chỗ cô ở. Lời lẽ trong thư mộc mạc và lộn sộn nhưng đủ hiểu. Cái bức màn kéo toang cả ra, trước mặt ông là sự thực. Sự thật thực phù phàng, nhưng 'cô ấy là một người trung thực!' Suốt đêm ông suy nghĩ, miên man đau đớn và sớm sau quyết định.
Ông trở về ngay Việt Nam ngay chiều hôm sau khi đã gửi lá thư viết cho Phượng cùng gói quà mà ông cất công mang từ Việt Nam . Không, em chưa hiểu hết tôi! Ông nhận xét như vậy và cố gắng viết những dòng thư vắt từ con người của ông.
Ngày hôm sau khi ông có mặt tại Hà Nội thì cô Phượng cũng nhận được thư và quà của ông. Phượng mở lá thư viết trên tờ giấy A4 trắng muốt. Đây là lần đầu tiên cô đọc thư ông với nét chữ rất khoáng đạt. Thư viết:
Phượng yêu dấu,
Thực là đau lòng trước sự thật mà em đã kể. Nhưng một lần nữa tôi hiểu, em là người con gái rất đẹp trong tâm tưởng bấy nay tôi hằng ao ước. Có lẽ chúng ta phải chấm dứt mối quan hệ này vì cuộc sống không thể sống với thế giới ảo. Dù là cái ảo bao giờ cũng đẹp, thậm chí rất đẹp, đi xa hơn nhiều cõi thực. Tôi đã yêu em. Tôi vẫn yêu em, nghĩ về em mãi mãi. Nhưng người ta không thể cùng một lúc uống hai loại trà hương khác nhau, và tôi sẽ ra đi, vì tôi hiểu được những đau khổ và hạnh phúc của cuộc đời. Sự mất mát lần này làm tôi cảm giác, coi là không có gì sánh nổi, nhất là khi tôi, con người ta khó có cơ hội, cơ duyên để kiếm tìm một người như em. Tôi phải ra đi thôi, vì dù sao tôi còn có đủ nghị lực và kinh nghiệm để vượt qua nó. Đồng thời, có thể, sự chịu đựng của một người đã trải qua nhiều mất mát dễ dàng hơn anh bạn trẻ của em. Tôi mong cầu em hạnh phúc. Đủ thời gian để nhìn rõ tình yêu của mình. Hãy tự hỏi trái tim, chờ khi nó thật yên tĩnh trong thanh vắng nhất! Thực là đáng tiếc, nhưng có lẽ phải như vậy, bởi vì tôi yêu em. Tôi yêu em và tôi vẫn sợ "đứt một ngọn cỏ., sợ làn hơi dứt quãng…" như ngày nào tôi viết. Vĩnh biệt !.
Phượng đã ngẩn ngơ cả một tuần sau đó. Nhưng công việc bảo vệ luận án ngập đầu cuốn cô đi và nghị lực của cô đã giúp cô vượt qua tất cả. Ngày cô nhận bằng tốt nghiệp Master xuất sắc, bao nhiêu lời chúc và hoa của giáo sư và bè bạn, thế mà chiều xuống cô vẫn bâng khuâng như thiếu vắng điều gì.
***
Phượng quay về Việt Nam. Tại Hà Nội cô gửi cho ông dăm lá thư nữa nhưng hoàn toàn không có hồi âm.
Nhưng hình như mọi sự đều tương đối.
Kế hoạch, dự kiến của bạn trai cô và gia đình về lễ cưới dây dưa tới đầu năm sau. Mùa xuân năm nay Phượng đã 28 tuổi. 'Con đã đến lứa rồi đấy! Còn kén cá chọn canh gì nữa.. Nó hiền như đất ấy mà'. Đã bao lần mẹ cô giục giã với đôi mắt gần như van lơn. Và, Phượng chấp nhận.
Trước lễ cưới một tuần, Phượng bỗng nghĩ đến ông. Ông ấy thực là một người tốt. Cô luôn luôn có ý nghĩ ấy trong đầu. Hôm cô đi chọn cà vạt cho chú rể cô còn nghĩ: 'Giá mà mình chọn cái này cho ông ấy nhỉ? Bây giờ ông ấy sống ra sao? Hay là viết thư hỏi tòa soạn địa chỉ của ông ấy? Người ta cười chết! Những bài thơcủa ông ấy vừa in mà mình mới đọc, sao càng buồn thế! Hay là mình có lỗi. Có lẽ phải viết cho ông ấy lá thư cuối cùng'
Phượng ngồi vào bàn máy. Cô gọi trong chớp mắt ra địa chỉ ông. Cô ngồi im lặng một lát rồi cô viết, vừa khóc vừa viết. Thư của cô kể bao nhiêu chuyện từ ngày bặt tin ông. Cô kể rằng, cô yêu ông, vẫn nhớ đến ông mà không biết bây giờ ông ở đâu và ai là người thay thế cô sửa chữa những câu viết vội? Cô kể cho ông hay, nếu ông tới hôm ấy, chắc chắn bây giờ chúng ta đã thuộc về nhau rồi! Đã ba bốn lần Phượng phải dừng lại để lau nước mắt. Lá thư cô như một dòng suối từ nguồn vô tận chảy ra, tưởng như không biết dừng ở chỗ nào.
Phượng lấy giấy thấm nước mắt/ Cô kể về ngày cưới của cô sắp tới
Không! Như thế thì ông ấy đau đớn lắm! Cô dừng lại.
Cô tin là như vậy. Con người ấy chịu bao nhiêu mất mát của cuộc đời rồi, sao cô lại làm trái tim ông ấy bầm rát lần nữa.. Hay là ông ấy đủ sức vượt qua tất cả? Như ông ấy từng viết cho cô: 'Cuộc sống này, tự thân nó chẳng có ý nghĩa gì cả, ngoài việc sinh con đẻ cái, nối dài cái phần xác của mình; ý nghĩa của cuộc sống có được là nằm trong tay mỗi đứa chúng ta!' Ông ấy làm bao nhiêu điều cho cô, không chỉ cho cô, thực trung thành với điều ông tâm nguyện, nói cho cô ngày nào: 'Trước khi viết một điều nhân ái, phải biết tập sống nhân ái. Khó lắm, nhưng phải thế!'
Ông ấy như vậy. Như vậy thì ông ấy sẽ nghĩ gì về cô nhỉ?
Phượng dừng lại. Cắn chặt môi mà nước mắt cứ lặng lẽ rơi. Không, cô tin là ông ấy sẽ tha thứ cho cô tất cả. Mọi điều cô viết chỉ làm ông ấy đau lòng nữa mà thôi.
Phượng lấy giấy lau nước mắt. Ngửa đầu ra ghế, nhắm mắt vài phút!
Cô tháo cặp kính ra. Bình tĩnh lại!
Cô ngồi bất động tới nửa giơ` như hóa đá trước bàn máy. Rồi cô thong thả lau rất kỹ cặp kính của cô, cặp kính đã hai năm nay, từ sau buổi hẹn đầu tiên ấy, cô đã mua nó, mang nó để viết cho ông bao nhiêu là lá thư.
Phượng lấy giấy lau sạch những vết mờ trên cặp kính cận lần nữa.
Cô mở tất c thư của ông trong lưu trữ ra. Cô lấy con chuột kéo những lá thư đi rất chậm, nhìn lại một lần cuối cùng những dòng chữ thương vô bờ của ông.
Xong, cô nhấn nút, nhấn nút.
Toàn bộ thư từ, cả thư cô mới viết, tất cả, bị dòng tín hiệu chạy nhằng nhằng liên tục, xanh lét nhấn chìm, vụt biến.
Một vài giây sau trời sang chiều. Ngoài trời bỗng mưa như thác và từ nhà thờ lớn đột ngột vang lên hồi chuông dài. Chuông ngân nga, lan xa, trong vắt hòa vào thác mưa trắng xóa ngút ngàn trùm lên thành phố, lên đường phố, cuốn theo tất cả bụi bậm sinh ra sau một ngày mệt nhoài, một ngày với bao loại người cùng phương tiện chuyển động với tốc độ của thời kỳ điện tử digital. Thản nhiên, mưa cũng trùm xuống nơi có ngôi nhà nhỏ, nơi cây lan già nghiêng nghiêng, đang đứng giữa trời. Và, mưa làm nhòa ướt đẫm khuôn mặt thanh tú của một cô gái đang đứng giữa trời. Khuôn mặt chẳng vui, chẳng buồn, mơ hồ lắm của một người con gái tên Phượng...


NVT


1-Web-Trang tin mạng Internet, nơi có thể mọi người cùng viết lên đó những vấn đề cùng trao đổi
2-Email: Thư điện tử
3-Đọc morat: Đọc bản thảo trước khi in ấn.Công việc kỹ thuật tìm lỗi so với bản gốc.
4- As long as love you me: khi nào anh còn yêu em



 


Nguyễn Hoài Phương

Chuyện của một người thơ ngây


Tôi thức giấc vào bảy giờ sáng. Duy có hôm nay tôi mới ngủ được tới giờ này, còn thì toàn sớm hơn. Tôi quyết định tắm một cái. Vợ tôi vừa mua được một chai Shampon mới. Đã mấy hôm rồi tôi để giành không tắm là để chờ chai Shampon chanh được quảng cáo là rất thơm, rất dịu, rất nhiều bọt và tất nhiên rất sạch này. Trong khi tắm, tôi lại có một quyết định nữa là phải tìm mua ngay một cái đầu DVD mới. Cái đầu cũ của nhà tôi mấy hôm nay tự nhiên giở chứng, lúc chạy, lúc không, vấp váp linh tinh, trong khi tôi lại mới được người ta cho mượn mấy đĩa phim rất haỵ
Tôi nghĩ là chỉ cần chạy đi một tí là đã có thể khuân về một cái đầu DVD. Nhưng sự việc lại không đơn giản như vậy. Mọi khi, vào bất kỳ một cửa hàng bán đồ điện tử nào trong thành phố này tôi cũng thấy dăm bảy cái vừa đầu DVD vừa đầu Video bầy ngay ngắn ở những chỗ rất dễ nhìn, vậy mà chỉ mới có mấy hôm chúng đã theo nhau biến đi đâu hết cả. Bây giờ thì đừng ai nghĩ sức mua của dân vùng này là kém rồi phẩy tay coi thường họ nữa nhé. Làm như thế là hồ đồ, là nhầm tọ
Còn đang vừa đi vừa phân vân không biết còn phải đến những đâu nữa để có thể kiếm được một cái đầu DVD hợp với túi tiền của mình thì tôi trông thấy cái Thu. Nhân vật quan trọng trong cái truyện ngắn này của tôi chính là nó đấỵ Tội nghiệp. Con bé này là dân Việt Nam vừa chân ướt chân ráo sang Đức xin tỵ nạn chính trị. Nhà nó theo đạo Công Giáo, và lý do mà người ta bày cho nó khai tại sở tỵ nạn liên bang là ở quê nhà nó không có tự do tôn giáo. Nhưng khi mấy người thẩm vấn rất âu yếm, nhẹ nhàng hỏi là một tuần đi nhà thờ mấy lần thì nó cứ thản nhiên nói là ba lần vào các thứ ba, thứ năm và chủ nhật rất vô tư. Họ lại hỏi có biết hát thánh ca không, nó cũng trả lời ngay là có và hát luôn một bài rất say sưa. Nó cũng đọc luôn một lèo mà không hề ngượng ngập hay vấp váp gì mấy bài kinh khi người ta hỏi nó là có biết gì về kinh kệ không. Cái gì nó cũng biết, tưởng là ăn chặt, vậy mà chỉ mấy hôm sau đơn của nó đã bị bác cái rụp. Nó bất bình lắm, cái gì nó cũng trả lời đúng, trả lời thật một trăm phần trăm, chứ không ngây ngô như mấy đứa giả vờ đi đạo khác đến ngày sinh của Chúa Giê Su là ngày nào hoặc Đức Me. Maria là ai cũng không biết, vậy mà chẳng hiểu sao người ta vẫn cứ không tin.
Cái Thu cũng nhìn thấy tôi. Nó nhanh nhẩu chào trước, và như tôi đoán không nhầm tí nào, chưa kịp nghe tôi chào lại thì đã mỉm miệng cười. Phải nói là con bé này đẹp. Và khi cười thì trông nó lại càng đẹp hơn. Mãy cô trong vùng tôi ở, tuy chưa bao giờ đặt chân đến cửa nhà thờ, cũng như chưa bao giờ nhìn thấy một bức tranh vẽ Đức Mẹ ở viện bảo tàng nào nhưng vẫn cứ một hai kiên quyết khen nó đẹp như Đức Mẹ và còn đoán già đoán non rằng ngày còn chửa nó chắc mẹ nó hay ngồi ngắm hay nghĩ về Đức Mẹ lắm. Tôi thì nghĩ nó hơi thấp, và cũng hơi bé nữa, ít nhất cũng là so với Đức Mẹ.
Cái Thu hỏi tôi là chú đi đâu thế và khi nghe tôi nói là đi tìm mua cái đầu DVD từ sáng đến giờ mà chẳng cửa hàng nào còn thì nó nói: Ôi! Thế thì may cho chú rồi. Mời chú lên ngay nhà cháu đi. Tuần trước cậu mợ cháu vừa mua một cái đầu DVD mới, mà cái cũ thì hãy còn tốt lắm. Cháu hứa với chú đãy. Tuy mới quen con bé này chưa được lâu lắm nhưng tôi nhận thấy một điều là nó rất hay hứa. Cũng mới tuần trước đây thôi, nó vừa hứa với tôi: Cháu hứa với chú là chỉ một năm nữa thôi tóc của cháu sẽ lại dài, lại đẹp như ngày xưa. Ngày xưa ấy là cái ngày nó còn ơ? Việt Nam. Trên đường sang Đức, nó phải ghé qua Nga và phải ở một khách sạn ơ? Moskau khoảng một tháng. Tại cái khách sạn đầy trắc trở, nhỏ bé, bẩn thỉu như một cái chuồng lợn mà đêm đêm mọi người cứ phải nằm úp vào nhau như úp thìa mới có thể ngủ được ấy, hầu như ai cũng bị lây bệnh chấy rận, phải cắt trụi hết cả tóc. Nó cũng vậy. Mặc dù rất tiếc mái tóc dài và đẹp nhưng cuối cùng rồi nó cũng vẫn phải vừa khóc vừa giơ đầu ra cho người ta cạọ
Tôi hỏi cái Thu là thế còn cháu thì đi đâu thế này. Con bé trả lời: Cháu vào cửa hàng đằng kia mua ít hoa quả. Hoa quả ở bên này nhiều thứ và ngon quá chú nhỉ, cháu ăn bao nhiêu cũng không chán. Xong lại rủ: Hay là chú cùng đi với cháu rồi tí nữa lên nhà cậu mợ cháu cũng được. Cháu hứa với chú là sẽ mua thật nhanh chứ không lề mề dung dăng dung dẻ chỗ nào cũng xà vào như mấy cô, mấy chị ở đây đâu. Thế là tôi đi cùng con bé. Càng nhìn lại càng thấy con bé giống đằng mẹ nó hơn là đằng bố nó nhiều. Năm ngoái, năm kia, dạo cậu mợ nó đón ông ngoại, bà ngoại nó sang Đức chơi, tôi đã có mấy lần gặp các cụ. Cả hai cụ đều nhỏ lắm. Loắt cha loắt choắt, nhanh nhẹn và rất hay chuyện. Cụ ông có thể ngồi đánh bài với bọn tôi cả buổi, thỉnh thoảng lại pha trò bằng những câu dí dỏm, trong khi cụ bà ngồi buôn dưa lê với cánh con gái vẫn cười lích ra lích rích. Mãy ông cậu của nó cũng thế, tuy ăn cơm Tây mười mấy năm trời nay rồi nhưng cũng chẳng to, chẳng cao thêm được bao nhiêu. Con bé đã có lần cho tôi xem tấm ảnh chụp chung toàn gia đình gồm bố mẹ và ba chị em nó. Vừa chỉ từng người cho tôi xem, nó vừa phàn nàn: Mẹ cháu đây. Bố cháu đây. Chú trông bố cháu này. To cao đẹp giai không? Hai đứa em cháu cũng thế, đứa nào cũng giống bố. Cả nhà có mỗi mình cháu là giống mẹ. Chán quá.
Con bé Thu quả là đứa biết giữ lời. Đúng là nó không rề rà, cầu kỳ đến sốt ruột như tra tấn người ta như bọn đàn bà con gái ở đây thật. Vào cửa hàng, chỉ trong khoảng mươi phút nó đã mua xong tất cả. Mà những thứ nó mua nào có ít ỏi gì đâu. Cam táo chuối lê xoàị.. mỗi thứ mấy quả vậy mà cũng đầy ắp hai cái túi vải to tướng.
Đưa tôi xách giúp cái túi khá nặng, sau một hồi kêu đi kêu lại rằng: ôi, cháu may quá... may mà có chú đi cùng, không thì cháu đến chết mất, mỗi cái túi này phải nặng đến cả chục cân ấy chú nhỉ; cái Thu mới chuyển sang chuyện khác. Cháu nhớ nhà quá chú ạ. Ở nhà ông cháu có một vườn cây ăn quả đẹp lắm. Quê cháu ơ? Hà Giang. Đất trên cháu rộng mênh mông chứ không chật chội như ở dưới các chú đâu. Cái vườn của ông cháu rộng lắm, phải mấy sào. Mà ông cháu lại rất giỏi, trồng cây gì cũng được nên trong vườn chẳng thiếu thứ gì. Cam, chanh, mít, ổi, lê, đào, táo, hồng ta, hồng xiêm, na, nhãn... mùa nào thức ấy, thích lắm chú ạ. Đấy là ở nhà ông nội hay ông ngoại cháu. Tôi hỏi. Con bé Thu trả lời: Là nhà ông nội cháu chú ạ. Ở gia đình cháu, cái gì đằng nội cũng hơn đằng ngoại, nhà to hơn, vườn rộng hơn, người đẹp hơn, tốt hơn. Chú thấy ông bà ngoại cháu cũng tốt đãy chứ. Vâng, tất nhiên là như thế rồi. Cả mẹ cháu với mấy bác cháu cũng rất tốt. Cháu chỉ chán có mấy ông cậu. Người đâu mà có bao nhiêu cái xấu trên đời này cũng biết hết. Tôi có biết qua về mấy ông cậu của con bé. Mãy thằng này đúng là dân cờ bạc. Thôi thì, tổ tôm, xóc đĩa, tá lả, ba cây, rút xì, rút bấc... chẳng thiếu ngón nào. Lại còn xổ số, cá ngựa, cá chó và bao nhiêu trò đỏ đen khác nữa chứ. Cờ bạc thì đúng là xấu rồi. Còn những thói xấu khác, hút xách, tiêm chích, nghiện ngập, trai gáị.. chúng có dây vào hay không, tôi không biết nhưng cũng không hỏị
Tôi chỉ hỏi con bé: Vậy mà Thu sang đây cũng khá lâu rồi đãy nhỉ. Nó trả lời: Vâng, cũng hơn hai tháng rồi chú ạ. Nhưng thời gian xa nhà của cháu tính ra thì đã hơn một năm rồi. Người ta bay từ Việt Nam sang đây chỉ hết có mười mấy tiếng đồng hồ, còn cháu thì phải mất cả mười mấy tháng, chú thấy có ghê không. Cháu phải qua mấy nước tất cả. Nhiều đãy chú ạ. Mãy nước thuộc Liên Xô cũ này, Ba Lan này, Tiệp nàỵ.., quanh đi quẩn lại mãi rồi mới đến được Đức. Có những nước cháu phải ra ra vào vào hàng hai ba lần. Chú phục bọn cháu đãy. Vâng! Bọn cháu thanh niên khoẻ mạnh còn thấy vất vả. Già như chú chắc chẳng chịu được đâu. Riêng một chuyện ăn uống thôi đã thấy nhục. Chú có thể đánh nhau sứt đầu mẻ trán, chảy cả máu mồm máu mũi chỉ vì một mẩu bánh mỳ, một miếng thịt, một quả táo hay một điếu thuốc lá không. Chú không biết, chú chưa tưởng tượng ra cảnh ấy. Chú không thể tưởng tượng ra được đâu. Cứ phải rơi vào hoàn cảnh ấy thì chú mới thấy thấm thía. Chính mắt cháu đã nhìn thấy một ông còn già hơn cả chú nữa kia bị chúng nó đánh gãy mấy cái răng chỉ vì tranh nhau có một cá khô thôi. Khổ! Ông ấy già rồi mà còn tham lam quá chú ạ. Cái gì cũng cố ních lấy được nên ai cũng ghét. Bữa tối hôm ấy, phần của mỗi người được chia là một con cá, ông ấy ăn hết rồi lại lấy sang con của người khác nên mới đến nỗi. Người ta bảo miếng ăn nuôi sống người nhưng cũng là miếng nhục, đúng đãy chứ chú nhỉ.
Ơ? Việt Nam Thu đã đi làm gì chưa. Tôi hỏi. Cháu chưa chú ạ. Cái Thu trả lời. Cháu mới học xong lớp mười hai mấy năm nay, thi vào đại học không được nên phải ở nhà luôn. Mà nhà cháu cũng nhiều việc lắm. Chú tính, mấy đôi lợn, mấy chục con vừa gà vừa vịt, lại còn vườn tược mấy sào nữa chứ, mất bao nhiêu là thời gian. Cháu còn hai đứa em hãy còn đang tuổi đi học. Bố cháu đi suốt. Mẹ cháu có một cửa hàng bán những đồ lặt vặt ở chợ. Bố cháu làm gì mà đi suốt, làm công nhân à. Tôi hỏi thế, là vì sĩ diện của con bé, ai chẳng biết ơ? Việt Nam, được đi làm công nhân cũng là một cái oai. Nhưng cái Thu lại đáp khác: Không, bố cháu làm kiểm lâm. Làm kiểm lâm thì cũng sống được đãy chứ. Vâng, nhà cháu cũng không đến nỗi nào chú ạ. Để cháu sang được đến đây, bố mẹ cháu cũng tốn kém lắm nhỉ. Vâng! Không ít hơn bảy ngàn đô đâu chú ạ. Ơ? Việt Nam bây giờ mọi người quen tiêu tiền đô rồi nhỉ. Vâng, quen lâu rồi chứ, chú. Cháu thấy chú ơ? Tây mà lạc hậu quá đãy. Bây giờ ở nhà người ta chỉ nói chuyện với nhau bằng đô la hoặc tiền triệu, tiền tỷ thôi. Không có vốn mấy trăm triệu thì chẳng ai làm được cái gì.
Chợt chúng tôi gặp một ông già mới từ Việt Nam sang thăm con. Đứng lại, chào hỏi và nói dăm câu ba điều với ông xong, đi thêm một đoạn, con bé Thu mới hỏi tôi: Chú còn nhớ ông cháu không. Nhớ chứ, tôi đáp, ngày ông sang đây, chính chú cùng với cậu cháu ra sân bay đón ông về mà. Phải nói là ông khoẻ thật, bảy tám bảy chín tuổi rồi, ngồi máy bay mười mấy tiếng đồng hồ mà chẳng thấy mệt mỏi gì cả, đi lại băng băng cứ như là thanh niên ấy. Vâng, ở nhà ông cháu cũng khoẻ lắm, không nề hà việc nặng, việc nhẹ gì đâu chú ạ. Ngày trước ông cháu làm gì. Đầu tiên, ông cháu đi bộ đội. Nhưng sau thấy những người theo đạo không được tin tưởng nên không tiến bộ được, ông cháu mới chán xin về nhà. Có dạo, ông cháu cũng làm cán bộ xã. Chú nghe ông kể, ngày trước có lần đi đánh bạc được cả gánh tiền. Chắc là đúng đãy chú ạ. Sau này ông cháu cũng vẫn thích đánh bạc lắm. Được của người ta cũng nhiều, nhưng bán ruộng, bán vườn, bán trâu bò trả nợ cho người ta cũng lắm. Chú thấy ông cháu lúc nào cũng vui vẻ. Trông ông cháu khoẻ hơn ông vừa xong ấy chú nhỉ. Đúng rồi, ông vừa xong trông móm mém quá, lưng thì gù rạp xuống, đi lại thì lập cập. Vậy mà ông cháu mất rồi đãy, đời người chẳng được bao nhiêu chú nhỉ. Đúng vậy, đời người ngắn lắm, ngoảnh đi ngoảnh lại chẳng mấy lúc. Cháu chỉ tiếc là không được gặp mặt ông cháu lần cuối. Ngày ông cháu mất cháu còn đang ơ? Nga. Cháu còn nhớ hôm ấy đang làm gì không. Có việc gì mà làm đâu, chú. Nhưng cháu nhớ là hôm ấy năm sáu đứa bọn cháu rủ nhau ra chơ. Vòm* chơi. Nhưng chưa đến cổng chợ thì đã bị công an bắt. Chú nghe người ta nói ở bên ấy công an Nga săn người Việt Nam ghê lắm. Vâng, chúng nó săn mình như săn vịt ấy chú ạ. Nhưng mà chẳng ai sợ. Vì cứ có tiền là xong ngay. Không kể nhiều ít, chúng cháu đã có kinh nghiệm, một hai người cũng vậy mà một hai chục người cũng vậy cứ chẵn hai chục đô là thả cả bọn. Thấy bảo công an ơ? Moskau nói được cả tiếng Việt. Nói được thật chú ạ. Gặp cộng** mình cũng đưa tay lên vành mũ chào hỏi rất cẩn thận, chào ông, chào bà, xin ông bà cho xem pát sờ po, mà cộng mình thì có đứa nào có pat sờ po đâụ
Nghe cái Thu nói năm sáu đứa rủ nhau đi chơ. Vòm, tôi mới chợt nhớ ra thằng anh họ của nó. Hai anh em nó rủ nhau cùng đi một đợt. Chắc ở nhà nghĩ đi đâu có anh có em cũng tốt hơn, em giúp đỡ anh, anh trông nom em, vậy mà chẳng hiểu tại sao mà thằng anh lại sang trước con em cả ba bốn tháng. Thằng anh cháu dạo này thế nào rồi, tôi hỏi mà không để ý thấy nét mặt của con bé sầm lại. Nó ngắt lời tôi: Thôi, chú đừng nhắc đến anh ấy nữa. Tôi đoán chắc trên đường đi thằng này lại có vấn đề gì với con em đây. Chắc là không bảo vệ nổi nó. Gì chứ chuyện này thì cũng dễ xảy ra lắm. Nhiều đôi vợ chồng cùng đi với nhau, đến biên giới, ông chồng bị bọn đưa người đảy sang trước còn vợ thì chúng giữ lại. Bố chẳng giữ được con, anh ruột chẳng giữ được em nói chi đến thằng anh họ xa lắc xa lơ. Con bé có vẻ gay gắt với thằng này, không muốn nhớ tới nó nữạ Nhưng phần tôi, dù có cố đến mấy đi chăng nữa tôi cũng vẫn chẳng quên được một giai thoại về nó. Ngày mới sang đây, thấy mặt mũi nó cũng sáng sủa, chẳng biết ai cố vấn bảo nó khai là sinh viên đại học kinh tế quốc dân cho chắc ăn. Không ngờ cái người thẩm vấn nó cũng học trường kinh tế ở đây ra. Bà ta hỏi, nếu anh là sinh viên kinh tế thật thì anh có biết những điểm khác nhau cơ bản giữa hai nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa không. Câu hỏi đơn giản như thế nhưng vì nó chưa nghe ai nói bao giờ nên không trả lời được và lòi ngay cái đuôi nói dốị
Lúc sắp tới mấy cửa hàng hoa ở trung tâm thành phố, cái Thu bảo tôi: Tí nữa, chú chịu khó đứng chờ cháu một tí nhé, cháu muón vào mua mấy bông hoa để bàn thờ cho ông bà cháu. Bà ngoại con bé cũng mới mất sau ông ngoại nó ít lâu. Ngày bà cụ mất, người ta đã đưa nó đến Pháp. Hôm ấy, nó cùng mấy đứa bạn rủ nhau đi xem Pari, đang quanh quẩn ở quận mười ba, nơi có rất nhiều dịch vụ của người Việt Nam, chợt nhìn thấy một quầy có quảng cáo gọi điện thoại đi các nước với giá rất rẻ nó mới nẩy ra ý nghĩ thử gọi về thăm nhà và vì thế mới biết là bà nó vừa về với Chúa được mấy tiếng. Chú có tin là có thần giao cách cảm không. Cháu thì nghĩ là có đãy. Chẳng hiểu tại sao mấy hôm ấy, lúc nào cháu cũng chỉ nghĩ về bà cháu. Ở nhà, trong mấy đứa cháu, bà cháu quý cháu nhất. Trước hôm cháu đi bà còn gọi sang đưa cho cây thánh giá bảo lúc nào cũng phải đeo trong người. Cứ như mọi người trong nhà cháu nói thì cây thánh giá này thiêng lắm. Lâu lắm rồi, có lẽ từ đầu thế kỷ trước, một ông cố đạo người Pháp, trong một dịp hành hương về nước Chúa đã mua được nó ơ? Gogotha***. Nó được làm từ những mảnh vụn từ chính cây thập giá của Chúa chứ không phải bằng gỗ bình thường đâu chú ạ.
Con bé mua rất nhanh rồi chúng tôi lại cùng đi. Trên đường, vừa đưa tôi cầm hộ một bó hoa thật đẹp, nó vừa hỏi: Theo chú thì con người ta có linh hồn không. Rồi, không đợi tôi kịp trả lời nó vẫn tiếp tục. Cháu thì nghĩ là có chú ạ. Sau khi người ta chết đi, có những linh hồn được lên Thiên Đường, có những linh hồn phải xuống địa ngục, đáng lẽ là như thế, phải không chú. Theo chú thì có linh hồn nào lang thang, không lên mà cũng chẳng xuống không. Chú không biết, nhưng lâu rồi chú đọc sách thấy người ta viết là đôi khi cũng có. Thế thì đúng rồi. Chú biết không, đêm ngủ thỉnh thoảng cháu vẫn thấy hồn của đứa bạn cháu hiện về. Thường thì nó cứ đứng ở ngay đầu giường, buồn buồn nhìn cháu một hồi rồi lặng lẽ quay đi, nhưng cũng có những hôm nó còn cúi xuống vuốt tóc cháu nữa. Thế mà cháu không sợ à. Việc gì mà cháu phải sợ, chú. Vì nó tốt với cháu lắm. Ở bên Nga, bên Ba Lan... có mấy thằng khốn nạn định trêu trọc, bờm xơm cháu, không có nó thì... Nhưng những người tốt hình như không gặp may mắn hay sao ấy chú ạ. Lần vượt biên từ Ba Lan sang Tiệp, chúng cháu phải vượt qua một con sông. Ngày ấy đã chớm mùa xuân, băng đang tan, nước sông chảy xiết lắm. Đêm lại tối đen như mực. Có hai cái xuồng cao su. Đáng lẽ cháu đã đi cùng với nó, nhưng vì cái xuồng ấy quá nhỏ, bọn nó đã năm đứa rồi, thêm cháu vào nữa thì nặng quá nên mấy người bên ấy không chịu. Xuồng chúng nó rời bến trước, nhưng khi xuồng bọn cháu sang đến bờ bên này rồi, đợi mãi vẫn chẳng thấy chúng nó đâu. Đến nay cháu vẫn chẳng biết tình hình chuyến xuồng ấy của bọn nó như thế nào. Chẳng biết chúng nó bị công an Ba Lan hay công an Tiệp bắt, hay cái xuồng của chúng nó bị thủng và chúng nó bị nước cuốn đi đâu rồị
Nhà cậu mợ con bé đang có khách. Một cô Lan Chập nào đó đang kể về sự khốn nạn của bọn đàn ông: Mả bố chúng nó chứ. Chúng nó chỉ biết lợi dụng thôi chứ có yêu đương gì mình đâu. Thằng chồng em đãy. Ngày còn bên Nga, thấy mình có tiền thì nó sán đến, nói cái gì cũng nghe răm rắp, bảo kỳ lưng kỳ cổ cho cũng kỳ, giơ chân vào mặt, bảo cắt móng chân cho cũng cắt. Vậy mà sang đây nó quay ngoắt đi được. Đúng là cái đồ chó dái, chưa khỏi vòng đã cong đuôi. Giờ nó cậy đi làm có tiền rồi nên muốn theo con nào thì theo. Còn mình thì nó muốn túm tóc, muốn đá đít, bạt tai lúc nào cũng được...
Cô nói tràng giang đại hải, kể hết tội lớn lại đến tội nhỏ của bọn khốn nạn, hết tội của thằng khốn nạn nhà mình, cô lại lục đến tội của những thằng khốn nạn khác... làm tôi không chen vào đâu được. Mãi khi mợ con bé bê đồ ăn và bát đĩa từ trong bếp đi ra mời mọi người ngồi vào bàn, đợi lúc cô Lan Chập tạm tắt máy, tôi mới có thể nói với cậu nó được một câụ
Vốn là người xởi lởi dễ dãi, người cậu con bé đồng ý cho luôn tôi cái đầu DVD ngay. Đằng nào thì em cũng không dùng đến nữa, để đi để lại, bán chác làm gì, bác. Đã thế lại còn một mực giữ tôi lại ăn bữa trưa nữạ
Chẳng tiện từ chối, tôi đành ở lại ăn bữa trưa với gia đình con bé. Ăn xong rồi lại còn uống nước, uống nôi, còn nói chuyện tiếp. Thế là mất đứt mấy tiếng đồng hồ. Phải đến gần hai giờ chiều tôi mới mang được cái đầu DVD về nhà. Bà xã tôi vốn cũng rất nghiền phim. Tôi cứ tưởng là bà sẽ vui lắm, sẽ bắt tôi cắm ngay điện để cùng xem nốt mấy tập phim bộ dang dở. Nhưng mà không, như chưa từng tha thiết tới phim tới truyện như đã từng rất tha thiết, vừa lạnh nhạt nhìn tôi bà vừa buông thõng một câu dài dằng dặc: Này ông, ông đừng có hòng mà lừa dối, mà che mắt con này điều gì nhé. Từ sáng đến giờ ông đong đa đong đưa, dung dăng dung dẻ với đứa nào ở những đâu con này biết cả rồi nhé. Rõ là cái đồ không biết điều, không biết dơ. Cái đồ cơm không ăn lại muốn ăn cám. Cái đồ già rồi còn muốn chơi trống bỏi./.


Tháng Chạp năm con Dê
Nguyễn Hoài Phương

_______
*- Một chợ lớn của người Việt ở Moskau
** - Cách gọi nhau của người Việt ở Nga và một số nước Đông Âu cũ
***- Nơi Chúa Giê Su bị dân Do Thái đóng đinh trên thập tự giá



 


Đỗ Hoàng Diệu

Cô gái đầu tiên
và bài không tên cuối cuối cùng



Những chiếc xe gắn máy đủ mầu khựng lại và lướt đi. Quang không nhìn thấy. Lá rơi, lá mùa thu lượn chao qua vai Quang, anh không nghe tiếng rụng. Đời một người con gái, ước mơ đã nhiều, trời cho không được mấy, đến khi lấy chồng chi còn mối tình mang theo. Điệu nhạc buồn đầy cảm xúc, người ca sĩ hát tan mình vào nỗi đau. Lần đầu tiên anh xúc động khi nghe một bài hát và nhớ lời nhanh đến thế. Anh phải tìm mua bằng được đĩa nhạc này. Du bảo tìm hơi khó, nhất là ơ? Hà Nội. Để khi về Sài Gòn, Du sẽ thâu lại và gửi cho anh. Nhưng chờ thì lâu quá, hai tuần nữa Du mới về Saì Gòn và biết đến khi nào thì Du mới rảnh? Liệu Du có nhớ không? Gió thổi thẳng vào mặt Quang, lành lạnh. Chiều tối nay gió to quá. Xám ngoét thân cây hai bên đường, xám ngoét những khuôn mặt người. Quang tưởng như có tiếng gì rung khẽ trong lồng ngực. anh đua tay ôm. Không phải tim anh mà là chiếc điện thoại di động. Và Quang đang đứng giữa ngã tư khi đèn xanh lét, người xe xe người vun vút. Trái tim Quang bắt đúng nhịp nhưng chưa đủ sức rung.
ã ã
ã

Cuộc hội thảo kéo dài hai ngày. Nha trang quá đẹp. Quang chưa từng biết ơ? Việt nam biển lại có thể đẹp đến thế. Cát bãi chiều cứ óng lên níu chân Quang, anh bệt xuống triệu triệu hạt và tỷ tỷ trời mây nước. Vài con dã tràng ngo ngoe quanh chỗ Quang ngồi. Anh mỉm cười ngon lành. Anh thấy mình hạnh phúc. Mười bảy tuổi, Quang xách ba lô một thân một mình nhỏ bé lò cò sang Nga du học. Cả tuổi thơ không rời Hà nội nửa bước, chỉ cắm cúi vào những sách là sách. sang xứ người lại sách với sách cặm cụi vào người. Khi vừa tròn 20, sinh nhật Quang bạn bè tặng anh món quà đặc biệt. Một cô gái Nga hơn anh hai tuổi dạy anh làm đàn ông. Từ đó, Quang đỡ ''ngố''. Sôi trong huyết quản anh hình như có dòng máu khác đam mê cả chuyện đời thường. Quang được vai ba người đàn bà khen rằng đàn ông thực thụ. Quang biết mình hấp dẫn.
Thoang thoáng bóng xanh xanh lượt qua mắt anh. Chậm rãi, chậm như đi bay, váy tung trên nền sóng nhẹ. Bờ vai gầy mảnh khảnh hư ảo tan trong sóng nước hoàng hôn. Con gái gầy dù sao vẫn đẹp hơn mập. Cho dù nhiều đàn ông không thích vì cho rằng kém gợi tình. Quang cũng từng nghĩ vậy. Nhưng trước mặt Quang kia, mỏng manh và đáng yêu quá đỗi, quyến rũ, gợi tình gấp vạn lần những cô bạn nước ngoài đã từng đổ ập trên người Quang. Váy xanh quay mặt bước trên bờ cát. Một khuôn mặt mờ mờ, Quang chỉ nhìn thấy đôi mắt to, thật to. Anh ngẩng mặt đón gió cười thầm ý nghĩ của mình.
Phòng hội thảo chỉ thấy mình đàn ông. Gió biển mát lành tối qua làm Quang ngủ ngon, sáng nay thấy mình sung sức, phấn chấn căng cứng. Chốc nữa anh sẽ có một bài tham luận. Thì đã chuẩn bị s1/2n chỉ việc đọc. Như mây thoảng một bóng xanh ngồi xuống chiếc ghế cạnh Quang. Nhỏ nhắn, lịch sự trong bộ váy kín đáo mầu nước biển, trông cô gái tự làn khói lam chiều. Quang quay sang khẽ mỉm cười. Ô ! Đôi mắt, đôi mắt to mầu nâu này, đúng là váy xanh hở vai gầy hoang hôn chiều qua. Một khuôn mặt không thể nói ngay là đẹp nhưng cũng không thể quay mặt làm ngơ. Buồn và mỏng manh quá đỗi. Quang nói mà như không: "Chào cô, cô ở công ty nào?". "Dạ, Công ty sở hữu trí tuê. Minh ánh ơ? Sài gòn" Công ty ấy Quang biết. Một người bạn học trường Luật cùng anh Moscow đang quản lý công ty. "Hình như chiều qua tôi có gặp cô ngoài biển?". "Rất có thể. Từ hôm đến đây chiều nào em chẳng lội nước''. Quang đang định hỏi thêm cô gái điều gì thì cuộc hội thảo khai mạc.
Ngày mai, Quang bay về Hà nội. Anh định bụng ở lại thêm mấy ngày du lịch nhưng công ty gọi ra gấp. Quang mê Nha Trang quá. Thành phố hiền hòa và thơ mộng. Biển hoàng hôn, lại chiều tối. Quang nghĩ những điều không tên. Ba mươi ba tuổi, cuộc đời anh trôi bình lặng. Một gia đình gia giáo, một học sinh giỏi, một tiến sĩ , luật sư đang ăn nên làm ra, chưa thất tình và chưa gia đình. Quang cảm thấy sự rỗng tuếch của thân cây cuộc sống mình. Anh có gì để nhớ không nhỉ? Vài ba cô bạn người Nga hình như rất trắng, rất khỏe và nồng nhiệt. Quang quen họ tư nhiên và anh ôm họ, ôm anh trong vòng tay nhục dục cũng đầy tự nhiên. Anh chưa bao giờ nghe tiếng nhạc du dương của bài hát ân ái, chưa nghe tim mình rộn rã mê ly cảm xúc mà chỉ là sự hực lên của cơn khát thèm và thỏa mãn. Có một dạo, Quang định ở lại đất nước bạch dương , làm ăn sinh sống lâu dài. Anh sẽ lấy một cô vợ tóc vàng, mắt xanh như nhiều người khác, mhững đứa con Quang có thể mắt đen nhưng tóc vàng, cũng có thể xanh mắt và đen tóc. Chúng nó sẽ là người Nga nói tiếng Nga, sẽ là người nước ngoài. Bố me. Quang kịch liệt phản đối. Mà chẳng nhẽ Quang lại cưới Tanhia, Natasa nào đó đã từng ngủ với anh chỉ vì họ gợi tình, khát thèm và anh cần một người vợ ư?
Vệt qua mắt Quang một mầu xanh. Anh ngước mắt. Váy xanh và áo trắng. Xanh da trời xòe rộng, chân dài đi như bay. Trắng ảo ảnh đôi vai gầy, tóc mỏng bay lên hình mây nước. Đôi mắt to chẳng biết đang nhìn đâu đâu. Con gái Việt nam thật đáng yêu. Quang chưa từng thân quen, gần gũi với bất kì cô gái nào người Việt. Về công ty chỉ mới hơn nửa năm, công việc lôi anh đi. Vả lại Quang không hiểu tính cách họ, Quang ơ? Nga đã 14 năm và khi anh rời việt nam, anh chưa phải đàn ông. Xanh trắng khôngbay nữa, xanh trắng ngồi thõm xuống nền cát. Quang đứng dậy, anh nghe bước chân mình run run. "Ơ... chào anh , anh cũng ra biển?". "Vâng chào cô, cô chưa về Sài gòn?". Đôi mắt to không cười, khuôn miệng xinh cũng không cười nhưng Quang thấy thân thiện. "Anh chưa biết tên em phải không? Em là Du, Thụy Du". Hai bàn chân nhỏ xíu đứng dậy từ từ. ''Em phải về ăn tối cùng một người bạn, tạm biệt anh Quang''.
Du, Thụy Du tan biến giữa trời mây, nước và cát. Quang thấy từ người mình vừa rơi ra một thứ gì. Tạm biệt Nha Trang, tạm biệt xanh da trời, xanh trắng.

ã ã

ã

Quang bình thản nhìn mọi người. Chuyến bay cuối cùng từ Sài gòn ra. Mà tại sao cô gái này lại không đi chuyến sớm hơn chứ. Hôm qua, Minh - bạn Quang hồi học ơ? Nga gọi nhờ anh ra Nội Bài đón em gái mình đến Hà Nội tham dự khóa học ba tuần do Cục Sở hữu công nghiệp tổ chức. Thì chính Quang cũng theo khóa học đó. "Thế em gái cậu tên gì, làm sao tớ nhận ra cô ấy?" "Nó tên Anh, cậu cứ nhìn thấy đứa con gái nào ốm nheo ốm nhách, mắt to thao láo là em tớ. Mà nó ra Hà Nội lần đầu không biết gì đâu, công ty lại có mình nó đi, cậu giúp tớ nhé". ốm nheo ốm nhách, mắt to thao láo, thảng hoặc trong đầu quang váy xanh da trời ơ? Nha Trang. Nhưng không phải Thụy Du mà là Anh.
Ai đó vỗ vào vai Quang "Xin chào , đón ai vậy? Dạo này trông khác thế. Sắp cưới vợ có khác..." Anh quay lai, cậu bạn học cùng trường cấp ba ơ? Trường Trần Phú. " Mình già rồi, bố mẹ ưng ý mối manh cho một cô con nhà lành thế là O.K chứ mình đâu biết gì con gái Niệt Nam, xa lâu quá rồi". Bạn anh cười toe toét: "Lấy vợ nên như vậy. Yêu đương mãi rồi cưới nhưng chắc gì đã êm ấm. Thôi tớ đi nhé, hẹn gặp ở "lễ nhập tù" của cậu tháng tới". Lại toe toét cười, vô tư quá.
10 giờ, chuyến bay đã hạ cánh nếu đúng lịch trình. Quang chọn cho mình một chỗ đứng thuận tiện để quan sát. Mắt thao láo ốm nheo ốm nhách, cũng dễ biết. Ông anh trai tả em gái thật buồn cười, chắc có đôi chút cường điệu. Lại thấy cậu bạn bên kia đang hút thuốc, mấy bà mấy cô bên cạnh phẩy lia lịa. Anh nheo mắt ra hiệu cho cậu ta dập thuốc. Đàn ông Việt Nam đôi khi chẳng ý tứ cho lắm. Dạo Quang chuẩn bị thu dọn về nước, mấy ông việt kiều bảo anh : ''Mày về Việt Nam cũng phải ''luyện ''thành đàn ông bên nhà đi không sẽ lạc lõng đấy. Để anh tả chân dung họ cho mày nghe nhé, có mấy điểm đặc trưng . Bụng có thể to hoặc dẹt vào lưng nhưng mông thì chắc chắn lép kẹp, móng tay dài mầu nâu đen và mỗi ngày ít ra dùng ngoáy mũi năm lần, đưa lên ngửi hoặc búng tẹt xuống nền phòng hay nền đường hoặc bất cứ nền nào khác, buổi trưa hoặc chiều mặt thường đỏ gay nơi quán nhậu...''Quang được trận cười vỡ bụng, về nước anh cũng thấy nhiều người như vậy song tất cả thì không đúng. Vẫn có ông mông to ; vẫn có ông trưa chiều tất bật đón con, tất bật đi chợ; vẫn có ông dùng khăn mùi mù xoa xỉ mũi dọc đường...
Chưa thấy hành khách xuất hiện. Rất có thể chuyến bay lại trễ. Cũng là lẽ thường tình. Cậu bạn Quang chuyển sang tán gẫu, lại toét toe cười cười, nói nói với một cô gái khác vừa kịp quen biết. Mà không hiểu tại sao nó biết anh sắp cưới vợ nhanh đến thế? Những hơn một tháng nữa, đâu đã kịp in và gửi thiếp mời. Đồn đại rỉ tai nhanh thật. Anh cũng bất ngờ với chính mình khi "biết" mình sắp cưới vợ. Từ ngày về nước, mẹ anh luôn giục anh phải lấy vợ để có cháu bồng mà anh cũng yên bề gia thất tập trung cho công việc. Anh bảo mẹ anh rằng anh ngờ ghệch trước các cô gái Việt nam lắm, không hiểu được tâm lý họ, phải để anh tiếp xúc quen dần rồi tìm kiếm. Mẹ nhìn Quang như nhìn người ngoài hành tinh: "Có gì đâu mà không hiểu. Con gái ở đâu chẳng giống ở đâu . Thế thì mẹ sẽ kiếm cho anh vậy, đợi anh có mà anh 50 tuổi còn mẹ thì xuống lỗ". Rồi mẹ dẫn về một cô giảng viên đại học 27 tuổi, mọi thứ đều lành lặn và bình thường con gái bà bạn từ thiếu thời của mẹ. Anh đưa cô đi uống nước, trò chuyện. Mọi thứ ở cô đều "sạch sẽ". Rồi tự nhiên anh trở thành sắp cưới vợ".
Mải nghĩ, Quang không biết hành khách đã lục tục kéo ra cửa. Bà kia thì già quá. Cô này béo ngậy như sâu khoai. Chị trước mặt ty hí mắt lươn... Chưa nhìn ra mắt thao láo đâu cả. Dòng người vẫn tiếp tục ra cửa. Một ngón tay dài và mềm như lụa chạm vào cánh tay quang: "Anh...anh hội thảo Nha Trang?". "Thụy Du..." Anh bật ra tên cô gái một cách dễ dàng. Không xanh nữa. Váy đen và sơ mi trắng nền nã. Gầy thật nhưng chỉ gọi là mảnh mai, mắt to thật nhưng sâu thẳm chứ không thao láo. Chẳng nhẽ? "Tên thường gọi ở nhà cua em là Anh. Anh Minh nhờ anh ra đón cô Anh phải không?" Lần đầu tiên anh thấy Du cười, cái cười mỏng nhẹ lung linh nắng sáng gió hiền.
Quang đưa Du về khách sạn. Anh chọn cho cô khu phố yên tĩnh gần hồ Gươm. Ngôi nhà có vẻ cổ kính. Bóng Du gõ guốc trên cầu thang hẹp. Quang lại như rơi ra khỏi người một thứ gì. Mùa thu năm nay đến sớm, lạnh thật rồi.
ã ã
ã

Mọi người trong lớp học kín đáo cười đùa bàn tán giọng nói du dương và cử chỉ nhiều khi lạ lùng của Du. Cô không thân thiện với ai, ít nói cười và chỉ chăm chú nghe giảng, ghi chép. Quang hiếm gặp ai viết nhanh như Du, những ngón tay dài lạ lùng, đẹp lạ lùng lướt gió thổi trưa giông trên trang giấy. Lạ lùng quá đỗi! Du luôn mang bên mình chiếc túi mầu da bò, nó nặng trĩu trên đôi vai mảnh. Tan học, Du nghiêng nghiêng ven hồ về khách sạn. Một lần Quang suýt làm chiếc túi văng khỏi vai Du khi dừng xe ngay sát cạnh : '' Em có muốn đi đâu đó, xem gì đó hay uống gì không ?'' Du ngồi yên lặng nhẹ tênh sau Quang. Anh thấy dường như Du không trọng lượng. Những đợt gió thổi tung mặt người. '' Du thích nghe nhạc không ? ' Em chỉ thích nghe Trịnh Công Sơn và những bài không tên của Vũ Thành An''. Quán có nhạc Trịnh thì Quang biết nhưng Vũ Thành An thì không. Cứ đưa Du đến đó, hỏi người ta biết đâu lại có. Họ leo hết nhưng bậc cầu thang sẫm màu thời gian lên căn gác vắng cổ kính giữa khu ba sáu phố phường. Vắng lặng, chỉ vài khuôn mặt trầm tư trước ly cafe đen và giọng Khánh Ly nhừa nhựa những lời có cánh. Ngoài hiên mưa rơi rơi, lòng ai nghe chơi vơi. Người ơi mưa hoen ướt mi rồi. Du ngồi đan tay vào nhau,. Quang không dám nhìn Du. Anh có cảm giác Du nhỏ đến không nhỏ hơn được nữa và tan vào hư không. Người chủ quán kiêm phục vụ đưa tới một cafe đen và một nước cam. Ông mỉm cười thân thiện. Quang mới đến quán này mấy lần nhưng rất thích. Nghe nói chủ quán là họa sĩ, hai con trai ông cũng đang chuẩn bị được gọi là họa sĩ. Yên ắng, thanh lịch, một nơi hiếm có giữa Hà Nội đang xô bồ, cựa quậy, vùng vẫy những phái triển và thụt lùi. " Bác ơi, bác có đĩa nhạc nào của Vũ Thành An không?" Người họa sĩ nhìn Quang vẻ dò xét: "Cậu còn trẻ và trông ăn chơi thế này mà cũng thích nghe Vũ Thnàh An ư? Buồn lắm. Buồn nhưng đẹp. Không bi lụy. Trước đây tôi có một CD đủ các bài không tên của ông ta nhưng không hiểu mất đâu, giờ chỉ còn mấy bài lẫn trong một CD chung với Ngô Thụy Miên, hình như số 2, số 4 và số 6. Tôi mở nhé". Du mở tròn đôi mắt nhìn Quang: "Cảm ơn anh đã nhớ". Trong ánh nhìn của cô Quang thấy một chút vui giữa thảng hoặc buồn bã. Hình như lần đầu tiên Du nhìn lâu vào mắt anh như vậy. Đời một người con gái ước mơ đã nhiều trời cho không được mấy. Đến khi lấy chồng chỉ còn mối tình mang theo. Du nhìn cây mùa thu đang bay ngoài đêm tối, bàn tay cô Quang nhìn trong suốt đến lạ kỳ. Về sau và nhiều năm sau nữa. Có buồn nhưng vẫn chưa bao giờ bằng hôm nay. Những ngón tay Du hờ hững trên mặt bàn. Không hiểu sao Quang chạm khẽ vào đó, bàn tay mảnh khảnh của Du cũng tự nhiên nằm gọn trong tay anh. Quang lại thấy từ người mình vừa rơi ra một thứ gì. Du phá vỡ im lặng: "Em có mang theo CD đầy đủ các Bài không tên, từ số 1 đến số cuối cùng. Đi đâu em cũng mang theo . Anh muốn nghe không?".
Căn phòng nhỏ nơi Du nghỉ tràn ngập những lời không tên có cánh. Du ngồi hờ trên chiếc ghế quá cao, Quang như đóng đinh xuống mặt nệm salông. "Bài cuối cùng rồi. Đã muộn. Anh Quang về nhé". Anh chợt tỉnh. Đúng rồi, cuộc đời anh đã được sắp xếp theo thứ tự, lộ trình. Anh phải về. Con người ta thực ra không bao giờ muốn thay đổi những thứ đã được sắp xếp cẩn thận.
Quang châng vâng. Hay thật! Những bài không tên rất hay. Và Du cũng mong manh đến hư ảo không tên. Nhưng anh hiểu, rất hiểu bên trong sự lãng mạn của Du là gì. Ôi ! Du là người con gái Việt Nam đầu tiên mình hiểu. Nhưng Du lại không giống những cô gái khác...

Rồi cũng kết thúc khóa học. Rồi Du cũng về Sài gòn với lời hứa sẽ thâu cho anh những bài không tên và gửi ra. Và theo đời sống đã định s1/2n cho mình, Quang cưới vợ. Vơ. Quang chăm chỉ và hiền lành, không có gì đặc biệt. Năm sau thì Quang có con, con gái xinh xắn. Quang được đánh giá cao trong công việc và đều đặn đi nước ngoài. Anh bận rộn và béo ra trông thấy. Mùa thu anh được thư thả đôi chút. Dạo qua phố cổ nơi có quán cafe người họa sĩ già, bỗng những lời hát có cánh bay ra. Nhớ rất nhiều nhưng chẳng nói. Nói ra nhiều cũng vậy thôi. Ôi đớn đau đã nhiều rồi. Du dương điệu nhạc buồn bay thấu từ tai này sang tai khác của Quang và tỏa lan khắp người. Anh đã quên mất những Bài không tên hơn một năm qua. Du hứa nhưng không gửi cho anh những Bài không tên... Ôi, hơn một năm qua mình đã sống hay tồn tại? Quang lao đao. Anh rút điện thoại cầm tay. Số của Du, hy vọng vẫn còn lưu. '' Em khỏe không ? Cô gái không tên?". Im lặng mấy giây. "Em có tên và đang ở đây, khỏe mạnh, bình thường". Không, Quang biết Du vẫn ở đấy nhưng không "bình thường". " Ngày mai anh sẽ bay vào thăm em". Tiếng "Vâng" nhẹ lá rơi. Quang biết trong đó du dương sự vui mừng, niềm mong nhớ và cả ngân nga những giọt nước mắt lặng lẽ. Nhất là khi Du đưa anh về căn nhà nhỏ ven đô và vội vàng, nóng bỏng ôm riết, hòa nhập vào anh . Du không nhỏ bé yếu ớt chút nào, Du bạo liệt và lửa cháy từ mắt, môi đến đôi tay. Trời ơi, Quang biết thế nào là hạnh phúc...
Chẳng ai rõ quan hệ của họ. Thi thoảng anh bay vào Sài gòn ở bên Du. Du không bao giờ đả động đến vợ con anh. Như dĩ nhiên là như vậy, như họ thuộc về một thế giới khác mà anh không ở đó. Cô giấu mình trước anh. Quang chỉ biết được ba mẹ cô đã ly dị, cô sống một mình và Minh chỉ là anh cùng cha khác mẹ của cô. Quang muốn lo lắng cho cuộc sống của Du nhưng không được Du chấp nhận. Có lần gọi điện thoại, thấy giọng Du khang khác. "Em ốm phải không Du?". "Em chỉ sốt nhẹ thôi, không sao đâu anh." "Anh bay vào nhé?" "Đừng, đừng anh. Em tự lo cho mình được mà..."Những khi như thế, Quang thấy mình ươn hèn.
Mùa cưới năm đó, anh nửa đùa nửa thật: "Du ơi, em phải lấy chồng thôi. Anh biết có nhiều người đàn ông theo đuổi em. Em không thể..." Cô đưa những ngón tay lạ lùng lên miệng anh "...như thế này suốt đời được phải không ? Nhưng em đang hạnh phúc, đôi khi hạnh phúc. Thế là được rồi. Gắn bó vợ chồng với một người em không yêu là tội lỗi, anh biết không..."
Mùa thu sang năm nữa, mọi việc vẫn bình thường. Nhưng anh thấyDu là lạ. Cô gầy hơn, tưởng không thể hơn nữa và xanh xao quá đỗi. Anh tự trách mình và cố gắng sắp xếp để mùa đông sẽ đưa Du đi nghỉ ở một nơi xa. Du cười áp mặt vào vai anh nhấn nhá khi nghe anh nói vậy. Chưa sáng, Du đã dậy tự bao giờ, ngồi thu lu một góc nhìn qua cửa sổ và mỉm cười với anh khi Quang tỉnh giấc. "Tất cả mọi thứ trên thế gian này đều có sự sắp đặt, như chiếc lá kia rồi sẽ rụng phải không anh?" Rồi Du hát. Này em hỡi, con đường em đi đó, con đường em theo đó đúng đấy em ơi. Nếu chúng mình có thành đôi lứa chắc gì ta đã thoát ra đời khổ đau. Bài hát không tên cuối cùng. Một linh cảm xót xa nơi Quang.

***

Mọi cuộc điện thoại của Quang đều thất bại. Công ty Du nói cô không đi làm, di động tắt máy. Vừa may, tiếng chuông điện thoại reo và Quang nhìn thấy số công ty Du. Giọng Minh vui mừng: "Quang hả? Cuối cùng thì em gái tớ cũng chịu lấy chồng. Cái con bé mắt thao láo, ốm nheo ốm nhách mà cậu đi đón ơ? Nội Bài mấy năm trước ấy, còn nhớ không? Nếu rảnh vào dự đám cưới Quang nhé. Nó lấy người nước ngoài, thủ tục xong nó theo chồng sang Mỹ. Thế là mình mất đi cánh tay đắc lực..." Điện thoại rớt khỏi tay Quang. Du lấy chồng, một người nước ngoài. Peter hay David gì đó, rồi con Du sẽ mắt xanh mũi lõ và không nói tiếng Việt. Những chuyện anh không muốn đang đổ lên đầu Du? Nhưng có thê? Du muốn vậy? Lần này Quang thấy từ người mình rơi xuống toàn bộ, tất cả. Anh trống rỗng. Mấy ngày sau, gói bưu phẩm tới tay Quang. Tất cả những Bài không tên và một câu, chỉ một câu nhẹ tênh như vọng đến từ cõi khác của Du : ''Điều cao qúy và thiêng liêng nhất chúng mình thuộc về nhau. Còn tất cả thì không. Người đàn ông của em ơi, tạm biệt..." Điều cao qúy và linh thiêng nhất! Đó là linh hồn của Quang, là tất cả những gì tốt đẹp của anh. Từ nay anh chỉ còn tồn tại. Những ngọn gió kia, mùa đông ảm đạm lạnh lẽo kia đã dành dật, bắt cóc, giam giữ, cưỡng hiếp lãng mạn và cuối cùng ném vào không cùng với điệu nhạc không tên. Con người thực, mảnh hồn thực của anh đã mất. Chỉ còn lại một đời sống sắp đặt.

Đỗ Hoàng Diệu





Nguyễn thị Ngọc Lan


QUÁN BÊN ĐƯỜNG


Gửi Quốc Học,Thiên Hựu, Bình Linh.



Khi tuổi của năm người anh họ của tôi cọng lại vừa chẵn
ba mươi, là lúc tôi vừa chào đời. Thì là "nhất nam viết hữu", các
anh tôi được cả xóm yêu quý, vì khôi ngô, đĩnh ngộ, tuấn tú,
thông minh...và vì, là con trai. Thì là "thập nữ viết vô".
Ngày tôi chào đời, ba bỏ đi nhậu để giải khuây, khi nghe bà
mụ nói"con gái".Không ai quan tâm đến một đứa con gái vừa chào
đời, là tôi. Ngày làm lễ rửa tội, chỉ có cha sở, mẹ, tôi, và hai giọt
nước mắt của mẹ. Nhưng khi vừa lẫm chẫm tập đi, thì tôi là món đồ
chơi đắt giá cho cả xóm, kháu khỉnh bụ bẫm, trắng trẻo, xinh đẹp,
cứ nhoẻn miệng cười, mà nụ cười, nghe đồn, là như hoa, làm mê đắm
lòng người, khó cầm lòng để đừng thả vào hai má bầu bĩnh vài cái
hôn, rồi tha đi...Thuổ đó, mẹ mới hăm mấy tuổi, nên tôi như
là con búp bê của mẹ, mẹ diện cho tôi như đào hát bóng, nam phụ
lão ấu, trong xóm nhỏ, đều thích ẵm, kể cả năm anh của tôi...


* * *
* *

Xóm nhỏ của tôi, ban ngày nhà không cần đóng cửa, người
trong xóm tự nhiên ghé vào nhà nhau, nói dăm ba câu, xin tí muối
tí đường, người trong xóm hầu hết là bà con của nhau, ở với nhau
từ đời này đời nọ, rồi lấy nhau, rồi trở thành bà con xa gần của
nhau, lũ con nít chạy chơi mệt, có thể ghé vào nhà ai đó, múc gáo
nước uống, hay đánh một giấc...Buổi chiều, cuối tuần xúm xít
nhau nơi sân nhà thờ, người lớn, vì mê Chúa, người trẻ, vì mê nhau,
con nít, vì mê chơi...Nhà thờ, là một trong những sinh hoạt của
xóm nhỏ, sân nhà thờ là sân chơi của cả xóm. Cha cố đạo thì già
nua hiền tư,ø như một ông lão làng, cha yêu từng đứa trẻ trong xóm
kể cả con gái, la hét xả rác đầy sân nhà thờ, cha mắng lấy lệ, nhưng
chẳng đứa nào sợ...ï


*    *   
*

Khi tôi bắt đầu đi học, thì các anh cũng đang vào những năm đầu
trung học, và tôi, là miếng mồi ngon, là con gà đẻ trứng vàng
của các anh khi cần tiền, mà các anh ấy lúc nào chả kẹt tiền,
những lúc đó tôi được yêu chiều vô vàn, xúm lại nịnh bợ dỗ dành ,đạo diễn
cho tôi đi bắt địa tiền người lớn.Thường thì, chỉ cần nép vào
lòng một người lớn đó, thủ thỉ, vòi vĩnh một chút là
có ngay điều tôi muốn, nhưng kẹt vì nhu cầu các anh tôi hơi
nhiều, và tôi cũng có hơi ngu, nên cứ bị các anh ấy dỗ đi diễn
tuồng, xin kiểu nào, khóc kiểu nào, tới năm đạo diễn lận, đôi khi còn
có đạo diễn phụ là bạn các anh từ xóm khác đến. Xin được tiền
, tôi cẩn thận bỏ vào túi, cài kim tây lại, theo lời chỉ đạo
của người lớn, nhưng vẫn bị các anh tôi lấy cắp rất tài tình, mất
tiền, tôi khóc lè nhè bắt đền mẹ, nhưng các anh tôi đã biến mất...

* * *
* *


Khi tôi vào trung hoc thì các anh đã trổ mã, có anh đã có bồ,
có anh đã bắt đầu hút thuốc...bây giờ thì không ăn cắp, ăn cướp
tiền của tôi nữa, mà là mượn, và không bao giờ có để trả, có chút
tiền là ra quán ngay. Quán là một hàng cà phê bình dân đầu
ngõ, quán không tên, nhưng các anh tôi gọi là "quán bên đường" Cô
em gái xinh xinh vẫn được các anh cưng, mỗi ngày vẫn có một anh
nào đó, đứng ngoài ngõ réo:
"Hường, ra quán vơi anh"
Tôi chạy vù ra ngoài, ôm eo anh, hay anh ôm cổ tôi, hai anh em ra quán, ở đó
đã có đủ các anh, và đám bạn bè. Các bạn anh, cũng được ăn theo,
đôi khi cũng sai tôi vù vù:
"Hường, đưa lá thơ cho chị Thu giùm anh"
hay là:
" Nhắn chị Thảo ra sân nhà, thờ anh có chuyện muốn nói."
Tôi theo các anh ra quán từ nhỏ, và chuyện của các anh, theo
diễn tiến tôi thuộc từ chút, anh nào vừa yêu, anh nào thất tình, anh
nào vừa có bài thơ đăng báo, và mộng mơ của các anh tôi cũng thuộc
lòng..


* * *
* *

.Lên lớp bảy, tôi vào nội trú, các anh tôi buồn da diết. Cứ vài
tháng về thăm nhà, lại thấy vắng một anh, dạo này tôi lại trầm
mình buồn theo các anh tôi, vì chuyện thi cử, đậu, rớt, lính
tráng...Một buổi tối, tôi cho là rực rỡ nhất, một anh từ quân trường về,
một anh học xa, và tôi, cũng thuộc diện học xa về. Sáu anh em xúm
lại ở quán, cùng với đám bạn bè, để ăn mừng, một anh
vừa thi đậu đại học, hai anh vừa đậu tú tài hai...Các anh tôi, quá
hớn hở cho một tương lai đầy hứa hẹn.
" Tao phải đi không quân, tao phải làm tư lệnh không quân"
" Tao đã ghi danh sư phạm và luật...tao phải làm bộ trưởng
bộ giáo duc "
" Tao học y khoa, tao phải làm bác sĩ"
" Thôi, mi học Nông Lâm Súc đi, mi phải làm bộ trưởng nông
nghiệp, đất nước mình quá nghèo. quá lạc hậu, phải đưa ngành nông
nghiệp lên, nông dân mới đỡ vât vã"...
Các anh tôi vừa thi đậu tú tài, sắp bước chân vào cuộc đời,
cả một chân trời hứa hẹn, tưởng mình sắp kê vai để gánh vác đất nước...

* * *
* *
Nhưng...
    Đất nước tôi quá tang thương, không bao nhiêu người con
trai đạt được mơ ước của mình...dù là ước mơ dâng cuộc đời mình
để phục vụ người khác...
Mùa hè đỏ lửa, Hạ Lào...Mùa chiến tranh khốc liệt nhất trong
một mùa chiến triền miên...
    Các anh tôi đều bị động viên, xóm nhỏ tiêu điều, chiến
tranh chết chóc lãng vãng trên những mái nhà...trên sân nhà thờ.
Ngày xưa, mỗi buổi lễ chiều, sân nhà thờ rộn rã tiếng cười của
những người không yêu mến Chúa, là những đứa con trai nhỏ, chơi
banh đánh đáo, trên sân nhà thờ, những người con trai vừa lớn, như
các anh tôi, một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày đi lễ, làm sao bỏ
lễ cho được, khi cô con gái mình yêu mỗi chiều tha thướt áo dài
guốc mộc đi xem lễ...tình yêu chỉ tới đó, là những đôi mắt trao
nhau mỗi chiều, một khoãng khắc rất nhẹ....nhưng là dư âm cho một
ngày, hay một đời...

* * *
* *

Các dì, các bác níu lấy tôi, rồi những ngươi đàn bà xóm khác níu
lấy tôi, khóc vật vã:
"Con tìm cách hỏi thăm giùm dì, coi anh con có mệnh hệ gì
không, anh đang dự trận bên Hạ Lào, nghe nói, lính mình chết gần
hết"
"Cô có đi tìm anh, cho bà đi theo, thằng út của bà cũng đang ở Hạ
Lào"
Chị Lành, người đàn bà giúp việc cho mẹ ngày xưa cũng tìm tới
rủ đi tìm tin tức chồng chị. Tôi đạp xe đi hỏi lòng vòng
những người lính quen biết, ai cũng nói cứ chờ, chết thì sẽ có tin,
sẽ đem xác về tận nhà, nhưng không ai chịu ngồi nhà chờ tin chết,
nên cứ giục gĩa tôi vào nhà xác tìm, họ lý luận rằng biết đâu mất
thẻ bài, rồi không tìm được thân nhân đến nhận xác.
Tôi, bà dì, chị Lành, và vài người hàng xóm có thân nhân đang dự
trận Hạ Lào, vào nhà xác tìm người thân, cổng nhà xác hôm đó đông
nghẹt và thê lương, người ta chen chúc nhau vào tìm xác người thân,
như chen nhau đi lãnh hàng quân tiếp vụ, có điều, lãnh
hàng quân tiếp vụ thì chắc chắn sẽ được lãnh, còn bây giờ, họ van
vái đừng được lãnh.

* * *
* *
Người lính gác cổng nhà xác nói:
"Các bà về đi, nếu các ông có hy sinh thật thì chỉ trong mấy
hôm sẽ có tin, sẽ có ngươi đưa xác về nhà, chứ chờ đợi ở đây làm
chi cho cực."
"Đã nghi ngờ chồng mình chết thì làm sao ở nhà cho yên"
Có một bà nhào tới:
"Ông làm ơn coi có người nào tên Trần văn X. không "
Mấy bà khác,cũng mỗi người hỏi một câu:
"Ông coi giùm có Trần văn T. không?"
"Nhờ ông coi giùm có..."
"Ông cho tui vô tìm con tui, chứ không tui chết mất "
"Mấy người có danh sách đàng hoàng, tui đã đọc, còn vài người
không có thẻ bài làm sao tui biết tên".
"Tui thấy có hai xe Hồng Thập Tự nữa mới vào nhờ ông coi lại,
ông làm ơn"
Có một chiếc xe lam vừa đỗ xuống, lại có mấy bà nhào tới khóc
lóc, đòi mở cho được cổng nhà xác vào tìm chồng. Người gác cổng
lại phải dỗ dành can gián :
"Ai cũng đòi vào rồi làm loạn lên trong nhà xác, đâu có được"
Tiếng khóc lóc, tiếng thở dài, những khuôn mặt hớt hải lo âu,
tiếng van xin nằn nì, quang cảnh não nề thê lương...Có một
xe Hồng Thập Tự vừa chạy vào, những tiếng khóc, tiếng than
van cùng ngừng hẳn, và cùng hương về chiếc xe đang dừng lại chờ mở
cổng, các bà nhào tới từng khe hở, tìm coi có xác của chồng không.
Xe chạy vào, tiếng lao xao lại nổi lên:
" Nhờ ông coi giùm có tên Nguyễn Y., Trần văn T. không?"
" Thôi được, tui sẽ làm hết lòng cho các bà yên tâm mà về, còn
lại sáu xác không có thẻ bài, tui sẽ cắt mỗi xác một miếng vãi
quần đùi, các bà phải biết vãi quần đùi của chồng mình chứ hả?
Người gác cổng quay vô, rồi trở ra với miếng vải bông loang
máu, miếng vãi vừa đưa lên, chưa kịp lên tiếng, thì đã có một bà
chồm lên, giật lấy, cầm cứng trong tay rồi khóc ngất:
"Đúng là ảnh rồi, quần này chính tay tui mua vải, tui cắt may cho
ảnh đây mà, anh ôi, anh ôi...
Thế là có một bà vừa nhận được xác chồng. Người gác cổng, lại
quay vào rồi trở ra với mảnh vải màu xanh kaki, có mấy bà chồm tới
giật lấy, khóc lóc, một bà bình tĩnh hơn:
" Quần này là hàng quân nhu phát, thiếu chi người mặc, biết
chồng ai mà dành."
"Nhờ ông coi, có hai cái răng vàng hàm trên không?"
"Nhờ ông coi, giùm có nút ruồi son ở cổ không?"
"Nhờ ông coi, giùm có...
' "Tui xin lỗi, chịu thôi, xác này chắc trúng nguyên quảø mìn
chỉ còn một nửa..."

* * *
* *

Xóm nhỏ, ngày xưa, mỗi lần có xe hơi vào xóm, lũ con trai
nhỏ bỏ tất cả trò chơi, để chạy theo, đu vào đuôi xe, cười rạng
rỡ. Chiều nay, có chiếc xe nhà binh vào xóm, mọi người, lớn
nhỏ, ngừng ăn, ngừng uống, ngừng nói, ngừng thở dõi theo chiếc
xe... Chiếc xe nhà binh chở quan tài bọc cờ vàng, ba sọc đỏ...Đó
là xe chở xác anh tôi...Anh tử trận tại chiến trường Hạ
Lào, hai mươi mốt tuổi, chưa lập gia đình, mới có ngươi yêu...

* * *
* *

Đám tang anh xong, tôi trở về trường nội trú, với một nửa
linh hồn...Lòng bơi theo những người anh còn lại, ở những
chiến trường khác nhau, và những người con trai đang chờ chết ở
Hạ Lào, An Lộc, Bình Gĩa, Đồng Xoài...Chiều nội trú, buồn, mưa
lất phất. Phòng ngủ, lầu ba, phía dưới là đường Yên Bái, có "hàng cây
lá, xanh gần với nhau",có những đôi nhân tình che chung chiếc
dù, cho tôi chợt lạnh, đến vô cùng...Có những người hôn nhau dưới
những hàng hiên vắng...cho lòng xôn xao nhớ...nhớ người tôi sẽ
yêu, nhớ người sẽ yêu tôi...Nắng sắp tắt, những bóng đèn đường, vàng
hiu hắt...những đường mưa cắt nghiêng vũng sáng vàng vọt dưới những
cột đèn, và, những vũng sáng, không vàng vọt, mà ấm áp trong vuông
cửa sổ nhà ai, ở trong đó, hình như có những đôi nhân tình, yêu
nhau. Không có phần, cho tôi, không có phần, cho những người anh
tôi, không có phần, cho ngươi lính trẻ đang bước đi nghiêng ngã
xiêu vẹo dưới kia...Và trời ạ! người lính trẻ đó là anh
tôi, vừa từ chiến trường về, vào trường nội trú mượn tôi sợi dây chuyền,
lần thứ bảy, thứ tám gì đó anh vào trường mượn tôi sợi chuyền
vàng. Mẹ, người lo xa, kinh nghiệm của mẹ
từ lần chạy giặc tết Mậu Thân, của người khác từ những lần chạy
giặc bất ngờ, mẹ bắt mỗi đứa con đeo một tí vàng, lỡ có chạy giặc,
bán mà ăn. Những anh tôi, suốt đời nợ nần tôi, cứ vào, mượn, rồi
không trả, và đi luôn vào lòng đất ,có anh mượn, để uống rượu sau
những lần hành quân, đi tìm những cơn say,
để thả trôi linh hồn theo bạn bè đã chết...

* * *
* *

Tháng mười hai, tôi lại nhận được điện tín "Anh Tú chết,
về gấp".Ngày đám tang anh, tôi cảm nhận được nỗi đau, bằng vật lý,
ruột đau đến nỗi phải ngồi xuống, cho dịu cơn đau, rồi mới bước đi nỗi, theo quan
tài anh tôi, bác tôi điên loạn, bác lăn lộn, rựt tóc, xé áo. Bác
tôi chết chồng năm hăm lăm tuổi, chỉ có một người con, là anh
,bác không lập gia đình lại, không hiểu vì bác không có nhan sắc, hay cái nhản
hiệu "tiết hạnh khả phong"treo mơ hồ khắp xóm nhỏ, mà bác không
lấy chồng lại, sống hiu hắt, cô đơn mấy mươi năm, và sẽ cô đơn hơn
...cho đến ngày cuối. Cha cố đạo đã từng làm lễ rửa tội cho mỗi anh tôi lúc còn bé,
sân nhà thờ đầy dấu tích phá phách của đám con trai nhỏ, ngày xưa
.Tiếng cười đùa còn đọng trong không gian, cỏ cây hoa lá...ngày đóù
,cứ năm giờø, giờ lễ chiều, các anh tôi và đám con trai nhỏ, bỏ ăn, bỏ chơi, chạy
thục mạng đến tháp chuông, đứa nào nhanh nhất thì được giật chuông nhà thơ,ø
kêu boong boong vọng cả mấy xóm. Có khi giành nhau giật chuông, mà thụi
nhau, đánh nhau, kiện nhau, cha phải xử, đúng hơn là cha phải đền, cho đứa bị
đánh và cả đứa đánh người ta. Có khi, chạy vấp toác chân, cha ẵm vào nhà thờ, vừa
xức thuốc, vừa mắng, vừa đau lòng...Cha cũng là con gà đẻ trứng vàng của đám con trai láu lỉnh,
như các anh tôi:
    "Cha, con khiêng sách cho cha, cha cho con một đồng nghe"
    "Ừ"
    Đứa kia nhanh tay hơn giật thùng sách, đứa khác giật lại, đứa khóc.
    "Cả ba đứa khiêng từ từ thôi, kẻo té..."
    Ba đứa ì ạch khiêng thùng sách chừng năm cuốn, được ba đồng...Lần khác thì xin đấm lưng cho cha, rồi xin tưới cây, cha có chừng chục cây bonsai, mà suốt ngày ngồi không yên, vì hết đứa này đến đứa khác đến xin tưới cây mướn, chỉ khổ ông Từ coi nhà thờ, cứ phải lau nước đám trẻ đỗ vung vãi đầy sân nhà cha... Giờ không đứa nào giật chuông nữa, vì đứa còn ngoài mặt trận, đứa chết nằm đó, đứa mất tay mất chân...Ông Từ giật chuông báo tử, tiếng chuông ngân vang, không rộn ràng giòn giã mà trầm buồn, thấm vào từng viên sõi ngọn lá ngoài sân nhà thờ... Cha cố đạo, giờ già cằn cỗi như cây Bonsai trong sân nhà cha, lom khom làm phép xác cho từng đứa con trai, mà cha đã yêu chiều từ tấm bé...Giờ cả xóm đạo rưng rưng thương cái thằng con trai mà họ đã bồng ẵm hôn hít hồi xưa, đã móc hầu bao cho nó vài chục bạc, khi nó thi đậu tiểu học, trung học, đại học...


*    *    *



Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí. Anh Luân, con dì tôi bị
thương nặng, cũng trận Hạ Lào, anh bị mất một tay, một chân, mặt
anh nát đi vì sẹo, gặp anh tôi chỉ khóc, anh cứ nói mãi một câu "
Chết như thằng Tú, thằng Hòa mà hơn" Người yêu của anh, chị
Phượng ,vẫn đòi làm vợ anh, anh yêu chị, nên dày xéo, gây gỗ, dữ
dằn với chị, để chị bỏ anh, cho đời chị sáng sủa hơn, nhưng chị
Phượng kiên trì, chị yêu anh, nên anh tôi may mắn có vợ là hoa khôi
của xóm. Những năm sau gặp lại, chị khô héo, xanh xao...Tôi rủ
chị đi ăn, chị nói, hay là thôi, chị không ăn,
cho chị vài đồng mua cho thằng út loong gạo nấu cháo, cả nhà ăn
khoai, nó mới có mấy tháng tuổi, không chịu nhai khoai,
đói, khóc lè nhè cả đêm. Trong cái rủi lại có cái may, anh tôi
bi thương nặng nên khỏi bị đi học tập cải tạo. Anh tôi hào sảng, hào hoa
là thế, anh tôi đẹp trai là thế, anh tôi ngày xưa chưa nói đã cười, duyên dáng, dí
dõm...bây giờ anh ngồi héo hắt ôm con cho vợ đi kiếm gạo, cả hai cha con xanh
xao ốm o, như người ốm nặng. Đứa con vừa biết bò, anh tôi mất một chân,
không có tiền mua xe lăn, nên cũng bò như con. Chị Phượng, ngày xưa
thanh cảnh, dáng mềm, đẹp như thơ, chị bước một bước, có mấy đôi mắt
dõi theo, chị hất mái tóc, có vài trái tim nghiêng xuống, giờ chị
bán chợ trời, mặt mày hốc hác, áo vá muôn màu...Tôi nói:
"Anh ở nhà đi, để em làm thêm giờ nuôi anh"
    Tôi mua cho anh chiếc xe lăn, đứa con đầu đẫy anh đi loanh quanh, cũng đỡ buồn và đỡ nhục, vì phải lê lết dưới đất. Anh rủ tôi đi thăm vài bạn bè cũng tàn phế như anh, buổi trưa không có ai ở nhà, vì phải đi kiếm ăn...Nhà của bạn anh, cũng không thể gọi là nhà, đó là một vài miếng tôn, dựng dựa vào một bờ tường nhà người ta, chung quanh nhà, che thưng bằng đủ thứ, giấy bìa, ni lông, vãi... đám dân lao động sống lang thang, phóng uế bừa bãi, quanh chỗ ở, ruồi nhặng hôi hám... Nhà người bạn khác của anh, cũng là một cái chòi trên một rãnh nước, có thể nhìn thấy những chuột chết, thức ăn, rác, phân...trôi qua dưới tấm ván ọp ẹp, gọi là sàn nhà, mùi cống rãnh bốc lên, thối nhức óc..
    "Đó là căn nhà mơ ước, của của những đứa thương phế binh ngoài Huế đó em, tụi nó chỉ mơ ước được vào Sài Gòn, dù có đi xin ăn, cũng còn có người cho, buôn bán vớ vẫn cũng còn sống được tàm tạm... Ngoài Huế, bọn lính tráng tụi anh, có đủ tay chân, còn khó kiếm ăn, huống là thiếu tay, thiếu chân, thiếu vốn...Mấy đứa này, học trung học Thiên Hựu với anh hồi xưa, tụi nó ở ngoài Huế, đi xin ăn thì xấu hổ, vì đi đâu cũng gặp người quen, vã lại, Huế nghèo quá, xin ăn cũng chẳng mấy ai cho, đi làm, thiếu tay thiếu chân không ai mướn, anh xúi tụi nó vào đại, cứ dựng lều ở bừa, tới đâu thì tới .
Tôi nói với anh:
    "Đường lầy lội, đá sỏi lỗm chỗm, em đẫy xe lăn cho anh mà suýt té mấy lần, làm sao họ tự lăn xe lăn cho họ được anh."
    Anh trợn mắt nhìn, như tôi là người trên trời rơi xuống:
    "Chiếc xe lăn, bốn triệu rưởi, không có đêm nào tụi nó ngủ, mà dư được đồng bạc trong túi, xoay xở không đủ ăn, đời nào mới mua được xe lăn, nói đúng, cũng có đứa lanh, xoay xở đủ ăn, còn dư chút chút, thì phải nuôi đứa không biết cách kiếm tiền, chiếc xe lăn của anh đây, cũng ba đứa xài chung, anh có của được ngồi nguyên ngày chẵn, tụi nó chia nhau, ngồi ngày lẽ...
    "Vậy họ di chuyển bằng cách nào"
    "Lết, cắt vỏ xe hơi, cột vào mông, rồi lết, bằng cái mông và hai bàn tay."
    "Rồi tiền đâu họ sống"
"Bán vé số, bán báo, bán thuốc lá lẽ... có đứa mua được cái cân, ai đứng lên cân thì trả tiền."
    "Tới đây anh chỉ cho coi, còn nhiều đứa thảm hơn nữa."
    Anh dẫn tới một góc chợ, chỉ cho tôi:
    "Đó, trung úy bộ binh, bị thương năm bảy ba, học một lớp với anh, nhưng nó học Bình Linh."
    Tôi đưa tay ôm mặt để đừng nhìn thấy, nhưng đã lỡ thấy:
    Chân tay anh còn nguyên, nhưng không hiểu sao, hai chân anh mềm nhũn nhỏ xíu như hai con rắn, anh nằm sấp và lết, lết, lết...đi xin ăn trên con đường lầy lội."
       
*    *    *
*   
    Hai anh còn lại, bị đi học tập cải tạo. Tôi vào thăm nuôi
anh nói:
"Ngày hai miếng khoai mì mốc nhỏ xíu, đói, còn chịu được,
nhưng lạnh tơi xương, kinh quá..em cỡi cái áo lạnh cho anh.
Tôi khóc nhìn anh tơi tả, chỉ còn da với xương trong bộ áo
quần may bằng vải bao cát...
Charles Chaplin có một phim giễu chua chát về chiến tranh.
Ông lãnh tụ, đùa với quả địa cầu bằng nhựa, Ông tung, hứng, ném,
bắt.. bằng tay, bằng chân, bằng đầu, bằng bàn tọa của ông...
Người ta cũng đùa với anh tôi, đàn anh, đàn em của anh
tôi. Họ để anh tôi và đồng đội lên bàn cờ, sống chết như một chiếc
lá rơi...Cả một thế hệ mất nụ cười... Nếu đó là bàn tay lông lá,
thì đànhø...Những bàn tay lông lá, đã đày đọa, những đàn anh của anh tôi
đã quá nhiều và đã quá lâu...Nhưng gà chung một mẹ, sao không thương nhau
, đày đọa nhau mà chi... niềm đau riêng của mỗi người đã đủ cho người đó...

*    *    *
*        *
   
    Đi cải tạo về, tôi lại cùng anh ra quán, quán bên đường, vẫn còn đó, trông tiêu điều hơn, bên cạnh những căn phố lộng lẫy mới cất, quán xập xệ, không tương xứng với cái bảng hiệu đẹp đẽ chói lọi. Cô chủ quán là con bà chủ quán ngày xưa, đã chết, reo vui khi gặp anh em tôi..Cô nói huyên thuyên:
    "Mạ chết rồi, trước khi chết mạ lẫn, cứ biểu tui em làm bảng hiệu thật lớn, quán bên đường là tên anh Tú đặt, mạ thương anh Tú nhất, biểu làm bảng hiệu cho ảnh vui...mớ bàn ghế củ, tụi em đòi thay, mạ không cho, lâu lâu lại để một ly cà phê đa,ù góc bàn anh Tú ngồi, rủ rê anh, "Về uống đi con, bác đãi..."
    Cô mở những bản nhạc củ, thời các anh tôi thường nghe, .. Con đường tình ta đi, với bàn chân nhỏ bé... Năm năm rồi không gặp, từ khi em lấy chồng... Trả lại em yêu, con đường học trò... Hỡi người chiến sĩ đã để lại cái nón sắt bên bờ lau say này...bây giờ anh ở đâu...
    Nước mắt thì không nghĩa lý gì với niềm đau của anh tôi...dĩ vãng mất hết...em út chưa nếm đủ mùi đời đã chết, bạn bè bỏ vợ bỏ con, chết... anh lớn nhất, cụt tay, cụt chân..bản thân anh, biết làm gì để sống, sau những ngày tù tội...tương lai mờ mịt...anh ngồi lặng người như tượng đá trong nghĩa trang quân đội...Tôi đi loanh quanh sờ từng góc bàn, đầy những dấu khắc tên những anh tôi và người tình...Tú+ Phượng, Tú + Hoa, Tú + Thúy...yêu ai, anh cứ ngây thơ tin là thiên thu...nhưng sự ra đi của anh mới là thiên thu... Chiều, tôi rủ anh đi thăm mộ cha sở, cha đã qua đời, ông Từ, khiêng hết cây Bonsai của cha ra phần mộ cha, anh tôi cười, nụ cười héo hắt:
    "Những cây Bonsai này, quá đắt giá, cha tốn biết bao là tiền, cho tụi anh, mà lạ, Bonsai đâu thể sống mà lúc nào cũng ướt đẫm những nước, thế mà vẫn sống , em mình lại chết yểu..."
    Anh tôi xin ông Từ một cây, biết cha yêu anh, biết anh thương cha như thương một phần trong thân thể anh, biết anh sẽ yêu cây Bonsai như yêu xóm nhỏ này, như yêu kỹ niệm...ông cho anh.
    Anh về, ôm cây Bonsai trên đôi tay, kính cẩn, nâng niu, thương yêu. Tôi rùng mình, đau quặn, như lần ôm cái tiểu đựng xương anh tôi, ngày dời mộ.


NGUYỄN THỊ NGOC LAN

 


Cao Xuân Huy

CÁI LƯỠI CÂU

 

 

Thạnh năn nỉ:

"Mày thông cảm, tao chỉ có hai thìa."

Tường lắc đầu:

"Ba là ba."

Thạnh thở dài:

"Hay mày cho tao thiếu."

"Thiếu? Rồi lấy gì mày trả?"

"Thì..."

"Không."

Thạnh thất vọng:

"Thôi thì, lấy cái hạng nhì vậy."

"Đưa đây."

Thạnh móc trong túi ra một miếng vải được buộc túm chặt bằng lạt tre, cẩn thận gỡ sợi lạt. Một dúm muối hột đen bẩn hiện ra. Thạnh trân trọng, nâng niu múc, vừa chẵn được hai thìa, đổ vào bát của Tường. Tường chăm chú nhìn Thạnh đong muối. Xong xuôi, Tường chùi cái lưỡi câu thêm một lần trước khi đưa cho Thạnh. Thạnh cầm cái lưỡi câu, mắt nhìn với theo bát muối trên tay Tường. Còn một ít muối vụn dính vào miếng vải, Thạnh thè lưỡi chấm chấm. Vị ngọt lan nhanh trong miệng, nước bọt ứa ra.

Những sợi chỉ tháo từ cái ba lô rách trở thành dây cước, Thạnh buộc vụng về nhưng cẩn thận vào cái lưỡi câu vừa "mua" được. Có thế chứ, cuối cùng mình cũng đã có được cái lưỡi câu. Dù không bằng cái hạng nhất làm từ kim băng, nhưng, vẫn là một cái lưỡi câu, hạng nhì.

*

Để chống lại cái rét căm căm của mùa Đông núi rừng miền Bắc, hơn bốn chục người tù phải bốc thăm để chia nhau một cái áo ấm. Ngoài sân, lửa phải đốt suốt ngày. Đêm, phải mang than hồng lót dưới sạp nằm. Lúc nửa đêm, cái lạnh nhức xương làm Thạnh thức giấc, than đã tàn, Thạnh ra đống lửa ngoài sân hút một điếu thuốc lào.

Vừa đặt điếu xuống, Thạnh thấy thốn đau ở ngực, cổ họng như có cái gì muốn trào ra, mà không phải là nôn. Chúi đầu xuống đống lửa, Thạnh há miệng, nước lẫn bọt từ trong ngực dồn lên, rồi tự động tuôn ộc ra khỏi miệng từng đợt từng đợt.

Toàn, cũng không ngủ được, đang ngồi hơ lửa, hốt hoảng kêu lên:

"Thạnh! Mày ói ra máu!"

Thạnh đưa tay quệt ngang miệng, giơ ra ánh lửa. Màu đỏ tươi dính trên tay áo. Thạnh lại gập người xuống, há hốc miệng vào đống lửa, máu lại trào ra.

Toàn chồm tới, đưa tay đỡ lấy ngực Thạnh:

"Để tao lên bệnh xá xin thuốc cầm máu."

Toàn đứng dậy, dợm bước. Thạnh thều thào gọi giật lại:

"Thôi Toàn, để họ ngủ."

"Nhưng máu ra nhiều thế kia."

"Có thuốc đâu mà xin. Mà... cũng không cần. Chỉ cần mày... làm chứng... cho tao... là đủ rồi."

Làm chứng tao mửa ra máu, may ra, tao sẽ được nghỉ lao động một ngày. Được nghỉ những nguyên một ngày lao động... Bỗng dưng, đám máu tươi bầy nhầy không làm Thạnh sợ choáng người như lúc vừa nôn. Ngược lại, nó đã trở thành những tia hy vọng.

Thạnh nhìn Toàn, hy vọng...

Toàn chỉ lắc đầu, lẩm bẩm trong miệng:

"Không có thuốc, rồi làm sao qua được mùa Đông này..."

Thạnh đưa tay chận ngực, hổn hển:

"Qua được hay không qua được, nói làm gì. Mày nhớ... làm chứng... cho tao nghe."

*

Cái phao động đậy, Thạnh hồi hộp đợi. Cái phao vẫn động đậy. Chờ cho đến khi cái phao đứng yên, Thạnh cẩn thận nhấc cần. Con giun mồi biến mất, chỉ còn trơ ra cái lưỡi câu.

Cái phao lại động đậy, Thạnh hồi hộp. Cái phao đứng yên, Thạnh lại cẩn thận nhấc cần. Con mồi biến mất, lại chỉ còn trơ ra cái lưỡi câu.

 

Cái phao động đậy. Lần này, Thạnh không đợi nữa mà, vút... Thạnh giựt mạnh cần.

Nặng tay. Sợi dây cước căng hết cỡ làm cong đầu cần.

Thạnh giựt giựt cần, vẫn nặng tay.

Chắc là một con cá to, phải là cá to chứ. Cái hố bom B-52 kín đáo, nằm khuất sâu trong rừng già, mới chỉ có một mình Thạnh tìm ra. Cái hố bom mà Thạnh phải thật gian nan mới vào đến được, chưa kể phải đánh dấu để khỏi lạc đường về trước khi trời tối. "Một con cá to," Thạnh nhớ ngay đến Toàn, chắc cũng phải tìm cách chia cho nó một phần. Nghĩ đến đây, Thạnh hứng chí, mẹ, thằng vua "cờ tây" suốt ngày ngâm nga "sống trên đời...", con vật "ăn đủ thứ" ấy mà bạn tao còn khen ngon, thì huống gì mày, cá ơi là cá! Bất kể mày ăn cái gì ở dưới hố bom này, chúng ông cũng ăn mày, chúng ông cũng ăn mày cho đã đời. Thạnh liếm môi, hít hít mùi thơm tưởng tượng, nuốt ực miếng nước bọt vừa ứa ra.

 

Nhưng, nhìn lại, cái phao không còn động đậy, Thạnh đâm nghĩ ngợi. Nếu là cá to, thì cái lưỡi câu hạng nhì và cái gọi là dây cước, nó chỉ cần táp nhẹ một cái là đã đi đời nhà ma rồi, chứ sao lại nặng. Hay là... rắn? Hay... một con quái vật rừng già nào khác? Hay là, lưỡi câu đã lọt thỏm vào giữa hàm răng của... một cái đầu lâu đã thành tinh dưới đáy hố bom cũng là đáy huyệt? Thạnh chùn tay, đảo mắt nhìn quanh, bỗng nhận ra, trong cái không gian âm u đầy đe dọa của núi rừng hoang rợ vào lúc buổi chiều đang dẫy chết này, Thạnh chỉ có mỗi một mình, với cái hố bom ma quái.

Gió bắt đầu thổi mạnh, luồn qua khe núi, thốc qua những lùm cây, những bụi gai rừng, rít lên từng chập. Tiếng côn trùng rền rĩ càng làm khung cảnh thêm thê lương. Thạnh gai người, nhớ lại những đêm hành quân lởn vởn những xác người và chờn vờn những bóng ma.

Nghĩ đến ma, Thạnh nhớ lại câu chuyện một người lính kể vào một đêm trời cũng chập choạng tối như đêm nay:

 

Đơn vị em vừa tái chiếm một ngọn đồi, sau một trận đánh khốc liệt. Mùi máu tanh như vẫn còn vướng vất trên những lùm cây. Em ngồi gác, trong bóng tối nhá nhem của buổi chiều, khu rừng già trước mặt như vẫn còn đầy bất trắc. Trong không gian im vắng, đột nhiên em thấy như có gì di động trong rừng cây. Phản xạ của một thằng lính gác là mở chốt an toàn của khẩu súng trên tay. Nhưng trong khoảnh khắc, em chợt nghe rõ "cách", tiếng mở khóa an toàn một khẩu M-16 khác ngay bên cạnh. Em giật mình quay lại, một thằng lính lạ mặt, không cùng đơn vị đã đứng cạnh em từ lúc nào. Quái lạ và vô lý, em đang gác ca đơn, ca gác đơn không thể có hai người. Thằng này ở đâu ra?

Nó nhìn em:

"Vô sự. Gió đấy thôi!"

Kinh ngạc và hoang mang, em hỏi nó:

"Mày là ai? Sao lại ở đây?"

Nó co ro:

"Lạnh quá, cho tao ngồi chung với. Giờ này là ca gác của tao."

Rôài nó tự động lót mũ sắt ngồi xuống. Em nhìn phù hiệu trên tay áo nó:

"Mày có lộn không?Đây là đơn vị tao, mày về đơn vị mày mà gác."

Nó cãi:

"Đơn vị tao ở đây".

Tay nó chỉ xuống đất, ngay dưới chỗ hai đứa đang ngồi.

Lúc em nhìn lên, nó biến mất, em vụt nhớ lại khuôn mặt nó, khuôn mặt xanh lè của một xác chết, với bệt máu còn đọng trên mép chưa khô, phù hiệu đeo trên tay là của một đơn vị bạn từng đóng trên ngọn đôài này, đã chết không còn ai, trong một trận tấn công của địch mấy tháng trước, xác không kịp mang đi, được lấp vội vàng tại đây, ngay dưới chân vọng gác này.

*

Gió rít mạnh hơn, tiếng rít của núi rừng hay tiếng rít ai oán của những thây ma đang nằm rên rỉ dưới đáy hố bom? Thạnh rùng mình kéo cao cổ áo. Người anh em phía bên kia muốn về báo hận ta chăng? Thôi, hận nhau làm gì nữa, các anh nằm dưới đáy hố bom thì cũng đâu khác gì tôi đang ngồi dưới đáy vực của cuộc sống này. Nói cho cùng, chúng ta không phải là đồng đội, nhưng là đồng nghiệp với nhau đấy chứ. Các anh không thấy sao? Chúng ta đều là những người trẻ đi lùng giết nhau để tranh giành những thung lũng, những ngọn đồi đầy xác chết.

Thạnh dợm người, với tay kéo mạnh chiếc cần câu. Chiếc cần vẫn cứng ngắc như có ai ghì lại dưới đáy. Mặt nước bây giờ đã đầy bóng tối. Thạnh căng mắt nhìn.

Không còn thấy cái phao.

Bõm...

Có ai vừa nhảy xuống nước, hay tiếng của một vật gì rơi.

Thạnh giật mình hốt hoảng, định bỏ chạy, nhưng cái cần câu trên tay kéo giữ Thạnh lại.

Và, Thạnh thoắt nghĩ đến cái lưỡi câu.

Ừ, cái lưỡi câu. Thạnh không thể để mất cái lưỡi câu. Hai thìa muối, cả một gia tài đã mất, một quyết định lớn đã làm sau bao đêm suy nghĩ đắn đo. Cái lưỡi câu và những con cá mơ ước, có lẽ nào Thạnh lại chịu thua.

Thạnh toát mồ hôi. Phải quyết định. Giật mạnh cần thì sẽ mất cái lưỡi câu. Lội xuống nước mò theo sợi dây cước tìm cái lưỡi câu thì... Thạnh rợn người không muốn nghĩ tiếp.

Bóng tối bây giờ đã dày đặc. Thạnh co dúm người, gục đầu xuống hai tay đang ghì chặt chiếc cần câu.

Lạnh, và sợ. Nỗi sợ hãi ập xuống cùng bóng đêm, cái lạnh cào xé cùng gió buốt. Thạnh run rẩy, tuyệt vọng. Và muốn bật khóc.

Nhưng cùng lúc ấy, hình ảnh cái lưỡi câu và những con cá béo nhẫy hiện ra. Can đảm lên Thạnh ơi, chỉ cần mò theo sợi dây cước, lặn xuống nước thì sẽ "cứu" được cái lưỡi câu, sẽ có cá ăn. Sẽ có cá ăn...

Bỗng dưng, Thạnh nhận ra mình đang đói.

Cái đói cồn cào ruột gan, cái đói quắt quay trí não, cái đói thúc giục chân tay, nó kéo đôi chân cong queo của Thạnh đứng lên, nó đẩy thân hình xác xơ xiêu vẹo của Thạnh chập choạng bước tới.

Thạnh nhắm mắt. Hai tay ôm ngực chận cơn nôn. Méo miệng cười, nhào xuống nước...

Cao Xuân Huy


 

 

Nguyễn-hòa-Trước

THÔNG, CỦA MÙA SAU MƯA

 

 

"Vòng tròn này, nếu kéo dài thêm chút sẽ biến thành hình thoi. Vun nó lại đều bốn cạnh, chúng ta sẽ có hình vuông hay chữ nhật."

"Bàn tay em thật khéo. Tia mắt anh không nhanh bằng các ngón thao-tác của bàn tay em."

Tôi đứng lên, tiến đến chiếc ghế nơi người con gái tôi gọi bằng ‘em’ đang ngồi. Cô ta còn trẻ quá. Gọi thế không thích-hợp chút nào. Tôi biết. Quả thật khó nhọc mỗi lần phát ra âm-thanh đó. Cũng biết, mình sẽ phải chơi trò cút bắt này mãi.

"Đây là những bước tập-tễnh, thăm dò trước khi em thực-hiện ý định. Anh không phản-đối chứ?"

"Phản-đối? Về cái gì? Ý định của em?"

"Cuộc sống ngày một khó. Thu-nhập ngày một giảm. Em định chuyển nghề. Đúng ra, chỉ phát-triển nghề đang có của em. Hiện thời, nó như một thân cây với một số cành lá. Em muốn lựa lấy một vài cành tương-đối, tỉa-tót, phì-nhiêu-hóa vóc dáng và sắc màu của chúng."

"Cuộc sống đã xoay chiều. Chúng ta buộc phải xoay theo. Trong những đức-tính nhìn thấy được của em, cái mà anh hoan-hỉ hơn cả là sự khéo-léo. Với năng-lực này, em có thể xoay với nguyên vẹn tự-tin theo bất cứ hướng nào mà cuộc sống đòi-hỏi."

"Dầu sao, em vẫn muốn biết ý kiến của anh. Chị Thơ, bước đầu, tuy là partner, nhưng nặng vai-trò hướng-dẫn." (cười mỉm) "Hình như chị biết anh khá rõ. Hôm về, gặp ở Sears, chị ấy tự-nhiên đùa, hai ông bà mua sắm nhiều thế, dễ chừng vét sạch cửa hàng mất rồi. Còn gì chừa cho tôi trong kia nữa nào?"

"Cô ấy là bạn học cùng khóa hướng nghệ về Hành-Chánh Sơ Cấp. Cả đại gia-đình vượt biên vào những năm cao điểm. Lọt tất. Sống nhiều nơi rồi mới trôi giạt đến đây. Ông bà cụ sau đó không lâu đã theo các đứa con lớn trở lên miền Bắc. Chỉ cô ấy khăng-khăng nhận thị-trấn nhỏ bé buồn thảm này làm quê-hương."

(cười mỉm)

"Em không khảo kỹ thế đâu. Ấy là tự anh ‘cung-khai’ đấy nhé." (vờn giũa lên móng tay) "Anh thấy chị ấy thế nào? Em có thể tin-tưởng mà cộng-tác?"

"Sao em lại hỏi anh? Phán-đoán, quyết-định là ở em. Về kinh-doanh, anh hoàn toàn mù tịt."

"Em không vấn kế anh về chuyện đó. Em chỉ muốn hỏi về con người, tính nết của chị."

"Hơn năm mươi phần trăm: có thể. Cô đang sống với một đứa con gái khoảng 11, 12. Ly-dị chồng 5, 6 năm nay. Giao-du rất rộng. Phần vì tính, phần vì nghề. Bạn bè, nhiều hơn bất cứ con số nào mà ta có thể tưởng. Đó là ngoài đời. Trong lớp thì lại rất khép kín. Việc anh quen được với cô kể cũng là điều hiếm-hoi, gần như... may mắn -- anh vẫn nói thế, dầu em sẽ mỉm cười thêm lần thứ ba."

 

 

["Sáng mai nộp Spelling Test rồi. Bài tôi mang về nhà, cháu bé lỡ vấy mực lên. Anh cho tôi mượn chép lại. Đi!"

Cô ta làm quen mình trước. Như vất xuống con dao trên lối qua. Chót mũi như hạt gạo nhô khỏi thân lá. Khuôn mặt cô đẹp quá! Không thể tìm thấy khuôn mặt đàn bà nào gây xao-xuyến như của cô. Nhất là đôi mắt. Chúng như muốn nạy nắp lòng mình ra, chui vào, ngủ. Có cái gì không tương-xứng giữa đôi mắt và giọng nói. Cái thứ nhất: hiền lành. Cái thứ hai: sắc-sảo. Cô mượn bài mình mà như... ra lệnh. Con dao như sẵn sàng phạt lui chướng-ngại. Thôi, đành! Giữa giọng nói và đôi mắt, phải lụy một.

"Vâng. Đây. Cô cứ tự nhiên. Chỉ cần nhớ mai mang vào nộp cho đúng ngày."

"Yên chí. Và sẽ tôn-trọng tác quyền. Tôi về chỗ. Cảm ơn. Chào!"

Lưng quay trước khi câu hết. Thớt ngực khẽ gợn như có tia gió nào thổi từ trong. Cô đẹp quá! Loại poupée có khả-năng biến người ngó, cầm, chơi nó phải bị đổ khuôn theo. Vòng sau không gồ-ghề như cách nói! Nó là đối cực, nhưng lại vượt hơn ở mức hung-hăng. Trong mấy giây, hình như không nghe tiếng ù ù buồn chán của máy lạnh. Buổi học vui nhất kể từ hai tháng nay. Cô học-viên cách-biệt nhất lớp đã tự ý phá vỡ mạng lưới bao bọc chiếc kén của nó.]

 

 

"Cứ xem đó như lời bảo-đảm. Cảm ơn anh. Em cần đến tiệm gặp chị ấy.

... (xỏ nốt tay áo) Anh nhắn gì không? Cam-đoan sẽ chuyển-giao không thừa không thiếu."

"Anh không việc gì phải dấu em. Ít ra là trong lúc này. Quen được cô đã là may mắn. Khó thể còn dịp may mắn nào thế nữa. Sự quen biết cũng chỉ giậm chân tại chỗ. Lâu rồi, cả cô lẫn anh đều nhác đến thăm nhau."

"Anh đừng ngụ ý tiếc rẻ hoài mong làm chi. Đường anh bước vẫn thênh-thang. Bạn học cũ! Đó là lợi thế của anh. Em không cản. Nhưng (mỉm cười) chắc chị ấy sẽ đặt bảng cấm trước anh. "

*

 

"Anh đến sớm. Thơ sửa-soạn đưa cháu vào trường. Anh đi chung, hay ngồi nhà đọc báo chờ?"

"Đồng hồ tôi sắp hư rồi. Mới mua được hai tháng. Lúc nhanh lúc chậm tùy hứng. May mà hôm nay nó nhanh để khỏi hụt gặp Thơ. Thơ đưa cháu đến lớp kẻo trễ. Tôi ngồi xem báo."

"Cà-phê, hết! Anh muốn uống, chịu khó... ra tiệm. Bên kia đường, block 7000. Gỏt Pháp chính hiệu. Nếu thế, nhờ mua cho Thơ ổ bánh mì bì chả, ít bì, nhiều chả; càng nhiều ớt càng tốt; nhớ dặn: không chan nước sốt. Tiệm sát nách. Về, Thơ trả lại tiền sau."

ngừng bậu cửa; vói nghiêng một nửa má và tóc:

"Cho nhiều đồ chua vào, anh nhá. Đừng quên ớt đấy. Đa tạ. Bye!"

Cũng chiếc quần jeans cô ta mặc đi học. Mấy tháng, hay một hai năm rồi? Giờ nó đã bạc thếch. Hai vạt mông trắng hếu, mỏn như tơ nhện. Đôi lúc nhìn, ngỡ lớp vải nơi đó bị cạo sạch, và cái che cho cô là lớp nylon cũng chẳng kém trong suốt phía sau. Đôi chân cao như chân cò. Ôm bụng mỏng dính. Chiếc quần không đủ chu-vi để bám, dễ tuột (may mà nó có hai đai chéo giữ lại). Cô có vẻ thích quấn chiếc jeans cũ kỹ này. Người cô dẹt, nom không hơn mấy hình nộm mẫu bày trong các ô kính. Loại denim lý ra là không, song với cô, lại quá ư thích-hợp. Nó đối-chọi một cách quyết-liệt với các khoảnh màu mỡ mà cô ta rất thiếu. Nhưng nó lại giúp phô ra phần hốc hõm mà cô ta quá thừa. Loại quần đai chéo như của trẻ con lại cung-cấp cho cô nét ngổ-ngáo vô cùng hấp-dẫn. (nó là cái tát vỡ mặt mà ít ai can-đảm chối-từ!) Cơ-thể phẳng lì láng óng của cô là mặt chìm của lò dục tình ngái ngủ. Nó như con đường lắm mối gò. Chưa lên, chỉ nhìn, đã cảm thấy nhức, nhừ. Nhưng nó không cho phép thờ-ơ. Gương mặt quá đẹp kia, tổng-hợp của những cạnh nét như chỉ được cắt lọc và dán lên bằng ý-nghĩ thuần phục chiêm-bái, với đôi mắt leo-lẻo, phút chốc, biến thành đệm khúc êm-ái, đồng-lõa, và vô tội.

Mình bị kéo về phía cô ta bởi đâu? Vẻ đẹp tinh ròng? Sức mời gọi xác thịt? (Có lẽ thêm mười lớp vải như thế kia cũng khó thể đậy giấu hết sức thu-hút ma-quái nơi cô. Loại đàn bà như cô, có lẽ... trùi-trũi lại hơn!) Cô là mặt đất của ngày đầu tiên khai-tạo. Bốn bề hun-hút nóng. Và mùi? Của thứ gì đó , đại loại như một quả trứng vừa bị dập vỡ, đang nằm trên lửa để chờ ra món ăn ngon. Dưới là đá sỏi, và chân thì buộc da non. Đau đớn, nhấp-nhỏm. Khoái lạc. Mòn. Rách. Dầu gì thì cũng trinh-tuyền.

 

 

Chiếc Honda màu rêu rú to, lùi bật như một nhát chổi của nắng. Nó lấy lại đà thật nhanh, vút qua đoạn trống của cái divider xi-măng sơn vàng, rẽ trái. Mặt kiếng xe kéo ánh trời xuống, đâm thốc lên, xốc ngọt vào khúc hamburger trên tấm quảng cáo, cắt ổ bánh ra hai phần thật đều.

Tôi lắc đầu, bước ra đóng cổng giùm cô.

 

 

Lúc cô về, khác hẳn lúc đi. Cửa ra vườn sau mở. Nắng im, tụm cả nơi mái dù 4 màu sát patio.

Tiếng da pha gỗ gõ vào mạn ghế. Tôi bỏ tờ tạp-chí xuống. Cô chỉ nền nhà la liệt guốc giày:

"Đôi dép khổ này, bết-bát hơn chiếc đồng hồ của anh. Xài chưa kịp bẩn gót, đã sút quai! Mà, anh biết: giá cả của nó bằng giá của 3 đôi khác."

Vạt áo xộc, nhầu. Cô thất-vọng, buông thả và quyến-rũ lạ lùng.

"Thơ làm tôi... giật mình. Tôi không nghe tiếng xe kia đấy."

Cô lấy napkin nhín chút mồ-hôi nơi mép, lau tay, dựa vào ghế, uể-oải:

"Thơ tắp ngay đầu đường. Trước sau rồi cũng phải đến tiệm. Đỡ phải đánh xe ra vào. Vất lắm!"

Cô chìa tay. Ngón lá huệ, rực, úp:

"Bánh mì của Thơ đâu? Đói khá rồi. Sáng nay dậy trễ, lo cho con bé, chưa kịp ăn." (ngáp) "Phải có cái bỏ bụng cho tạm sức mà cầm cự suốt hơn 8 tiếng!"

Tôi lắc đầu:

"Cô lạ thật. Trước mắt kia mà tìm mãi đâu đâu."

Cô cười. Hàm răng với những chiếc to, khỏe, màu như vôi bám. Hàm răng của giống da sẫm. (tiếc là da cô lại quá trắng!) Không còn thứ nào trắng và cứng hơn được. Hai bên thái-dương đã mờ mờ các dấu chân chim. Cô là loài chim chẳng cần che dấu móng vuốt của mình. Cô gầy, thẳng. Ngoài thể-chất, cả trong tính-cách.

(cười, không phải để chữa thẹn!)

"Anh xem Thơ có đoản không hả? Trách gì bà cụ của Thơ chẳng mắng mỏ Thơ hoài. Cụ bảo, con gái có chồng, có con mà chả ý tứ gì hết. May được bà mẹ chồng dễ tính. Chứ không..."

Tôi gật:

"Thế mới là... Thơ chứ. Thơ đồng nghĩa với loại văn vần mà hầu như người nào cũng thuộc ít ra là vài câu."

Cô trề môi:

"Đến anh nữa. Chẳng ai đồng tình với Thơ. Ngay xưa còn đi học cũng thế. Tiếng là lắm bạn bè, song lúc nào Thơ cũng cảm thấy cô-đơn."

Cô xé toạt chiếc bao. Hai khoen cao-su gói bánh bắn chéo hai góc ngược chiều. Chẳng cần dao nĩa, cô xén ngay nửa, đưa lên miệng. Các ngón đỏ chói thõng lửa. Son môi đỏ, dính tí nước cà chua, nhẫy đến phát sốt. Tôi nhắm mắt lại. Hình ảnh sống động quá sức. Nó vượt qua khuôn-khổ của cái gọi là ‘lịch-sự.’ Nó bày một sự thật đầy tính bản-năng. Dục tình. Nơi người khác, ý nghĩa của nó lặn trong cơ-quan sinh-sản của con người. Với cô, nó trồi lên, bao trùm. Cử chỉ, lời nói, cách ăn uống... Và diễn-viên thân cận, gây hiệu-quả nhất là hai làn môi và hai hàng giũa răng tham-lam. Và trọn vẹn, nơi, và chính cơ thể khắc-kỷ của cô.

Cô thì lại không hề bận tâm đến nó. Cô giống như đứa con-nít-không-biết-nó-đã-qua-thời-con-nít hồn-nhiên trình trước mắt người khác xác thân trần truồng của mình. Cô nhai không cần khẽ tiếng. Cô còn muốn khuếch-đại âm-thanh từ tuốt trong vòm họng kia. Cô điềm-nhiên nuốt miếng bánh tẩm đầy nước bọt không sợ ai nghe được. Thứ 'phong-hóa' thường thấy trong sinh-hoạt và dáng-dấp nơi các gia-đình cựu Bắc đã bị thổi phù đi hết trong cô. Chưa vừa lòng, cô tiến đến tủ lạnh (chân chỉ còn vớ), khui đánh 'tách' lon pepsi, không cần ống hút, ngửa cổ tu hơi dài. Da mặt cô hửng lên. Thứ nước màu nâu đang thấm vào máu cô. Thỏa-mãn, cô bóp dẹt và vất thật duyên-dáng nó và cùi bánh không ăn hết vào chiếc giỏ rác, tiến lại bàn, cầm mảnh giấy gói đã rách lau khóe miệng. Màu cà-chua lỏng thôi màu son kéo vẹt môi của cô dài thêm. "Một con rắn lửa," tôi vờ cúi xuống vẩy một hạt bụi tưởng-tượng trên áo, cố nuốt bọt thật khẽ.

"Anh thức sớm lắm à?"

Tôi hụt mất mấy giây:

"Thường thì thế. Trễ lắm thì chắc cũng chỉ bằng Thơ là cùng."

Cô chép miệng. Có lẽ bột bánh còn dính trong. Cô chép miệng lần nữa. Lần này là để nuốt:

"Anh sung sướng thật. Ít ra là cũng sướng hơn Thơ."

... "Người nào ngủ, thức sớm, thường có số sung sướng," cô chấm câu.

"Tôi nghĩ ngược lại mới đúng. Người vất-vả mới phải thức sớm lo việc. Với họ, nghỉ ngơi thường là niềm mơ ước."

"Tôi không thức sớm được. Dầu đêm trước có ngủ say đến mấy. Ngại vào giường, mà cũng ngại rời giường."

"Chỉ là thói quen thôi."

Cô cầm tờ báo lên che trước mặt, có lẽ là che ngáp. (lịch-sự quá!) Giọng nhào với sốt cà chua:

"Anh có mục gì sáng nay không? Lâu lắm không thấy anh đến chơi. Cháu bé nhắc anh luôn. Thơ được rảnh đến 4 giờ, giờ cháu tan học. Đi làm, thèm một ngày nghỉ. Nghỉ, lắm khi không biết tiêu xài thời gian thế nào. Người ta cứ than là quẫn thời giờ. Đến lúc được, lại loay-hoay với những thứ chẳng ra sao: nằm ườn đến mốc người; đọc vớ-vẩn dăm ba bài báo vô hại mà cũng vô bổ. Vườn tược, nhà cửa... cứ như vắng chủ đã lâu!"

"Thơ muốn đi đâu?... Hay là... đưa tôi đến... tiệm tóc của Thơ? Đi!"

Tôi cố ý nhại lại giọng nói của cô hồi xưa. Chắc cô phải nhớ.

Cô trố mắt. Với người khác thì rất kịch. Với cô thì quá tự nhiên, quá kích-thích. Ở cô, không gì khác hơn là xốc người khác đứng dậy, bước về hướng mà cô muốn. Tôi thử bước về hướng ngược lại. Và không tin vào sự thành công.

"Anh không đùa chứ? Và tôi không nghe lầm?"

"Tôi không đùa. Thơ vẫn bảo tôi như ông cụ...mà. Và Thơ cũng không nghe lầm!" (tôi hơi ... run, nhưng thú-vị với sự giỡn đùa cảm-tính của mình.)

Cô lắc đầu. Cổ áo lụa mỏng trễ dài như bờ môi bất-mãn. Đôi vú mỏn như hai quả chanh to, chưa biến được thành hai quả cam bé mà ngay mảnh nịt bằng lụa cũng rất lơ-là chẳng buồn vun- quén thêm và đỡ đần cho. Tóc cô cắt ngắn. Chúng như những con rắn chưa phóng được tới miệng hang:

"Không hiểu được anh! Anh nói ra ngon ơ như uống vào lon Coca ướp lạnh!"

Rồi dậm chân, gào:

"Anh biết hôm nay đầu tuần là ngày nghỉ của tôi mà. Sao lại rủ rê tôi đến nơi mà tôi hết sức vui mừng khi được xa lánh? Anh nghĩ là tôi chịu cày như người ta sao? Anh có tỉnh-táo không đấy, anh T.?" (lắc đầu) "Ôi, xứ sở xa-hoa này độc quyền sản sinh bao nhiêu là con bệnh quái lạ!"

Tôi vui hơn bực mình. Tôi chọc được cô ta nổi nóng. Các buổi học xưa, dù cố làm nghịch với ý cô, nghịch cả với ý tôi, cô cũng chỉ bĩu môi, im lặng. Và rồi sau đó, thỉnh thoảng cô lại mượn bài tôi. Sự bực tức nơi cô, tôi chỉ mường-tượng. Nó nằm tít trong cô như vết tấy bị bịt dưới miếng băng dán hảo-hạng. Tôi không bóc nó lên được. Hôm nay. Tôi không chờ miếng giấy dán keo kia tróc nhanh đến vậy. Nó là lửa. Là cô. Hơi hỏa ở sâu trong cô. Nó bị vùi trong hơi băng do cô cố tạo nên bên ngoài. Với người khác, cô chỉ là người phụ-nữ ngực mỏng, mông lép. Hấp lực của phái nữ là những đường cong sau trước. Khuôn mặt không cứu-vãn được nhiều. Làn môi không thay thế được hết. Riêng tôi, cái lôi-cuốn tôi nơi cô là cái mà cô không, hoặc sở-hữu rất khiêm-nhường. Người khác chớ hề, nhưng tôi thì nhìn thấy vẻ hấp-dẫn, rất xác thịt và cực cùng xác thịt nữa là khác, trong bộ khung ít mỡ mà nhiều xương của cô.

Cô nhà giàu. Giàu gốc, từ mấy thế-hệ trước. Người Hà-Nội, nghe nói đến giòng họ P. là chỉ biết giang rộng hai cánh tay rồi khép lại, ngụ ý, mọi của cải từ các hướng gom dồn vào một. Nhạy kinh-doanh. Và cũng rất bén trong việc đánh giá thời-cuộc. Gia-đình cô có mặt trong đợt tàu di-cư thứ nhất đến Sàigòn. Cô bé vừa tuổi nhà trẻ quen mặc đầm hơn mặc ta thích-nghi ngay với những váy xòe váy lượn của cô giáo mũi nhọn mắt xanh và chúng bạn Âu Á. Tốt nghiệp M.C., mention TB. Ham học mà cũng ham vui. Chiếc 'đinh' của lớp và của sàn nhảy. Bị tiếng-sét-ái-tình nơi chàng Luật-sư trẻ, hào-hoa trong một tối bal masqué, nàng thẳng băng khước-từ miếng bánh du-học Paris mà ông bố đầy thế-lực dễ dàng mua được. Bị mắng, tự-tử hụt một lần, cô được cả gia-đình 'mặc xác nó.' Theo Luật như theo tình; một mặt hy-vọng nối bước ông ngoại (gia-đình tạm dựa vào đây như niềm an-ủi). Lãng-mạn không là thực-tế. Cô cho 'de' chàng Luật-sư, quay lưng với trường Luật, bám theo Văn. Rồi lại chán, ghi MPC chơi cho biết. Nửa năm, thi vào Hành-Chánh. Đậu. Mà lại đậu cao. Bị chàng bồ sắp ra Phó Đốc-Sự cho rơi, nàng thề chẳng bao giờ muốn nghe nói đến 2 chữ HC. Nàng bỏ HC để 'trả thù.' Tiếp tục ngành Luật. Ra trường. Nhưng không sống bằng văn-bằng mà bằng mọi phương-cách khác. 'Cuộc sống là một cuộc lượn chơi.' Chân-lý, và là triết-lý, với cô.

Trong đầu óc cô gái Bắc Hà, xạc-xào đủ mọi âm-thanh, êm đềm thơ-mộng có, đanh thép giáo-luật có, và lúc-lắc hóa-chất có.

 

 

Ở xứ chocolate, cola, và hoa hướng-dương, không như người khác, cô ngày càng thỏn. Cô bảo đó là phúc. Mỏng, nhẹ là phúc. Khỏi kiêng khem phiền-toái. Đôi chân cô, cô bảo, vì chúng ngọ-nguậy hoài (mỗi ngày hai buổi 10 miles chạy, mỗi tuần một hoặc hai tối dancing với Rock và Rap) nên đã giúp cô rất hiệu-quả tiêu-thụ hết số chất béo tai hại.

 

 

Quen tại vũ-trường, cưới tại nhà hàng khách-sạn, hai tuần trăng mật trên MGM Las Vegas. Ông chồng kỹ-sư điện-tử của cô cuối cùng cũng bị cô hất lên ‘thung-lũng-điện-tử.’ Chàng bỏ San Marcos, bỏ cô vợ mình-hạc-cốt-ve, nén lòng rời xa đứa con gái sắp vào lớp 1, tách thẳng vùng Silicon lập nghiệp. Mảnh giấy ly-dị, lên kia rồi, chàng gửi lại cho cô làm kỷ-niệm, thề sẽ không bao giờ tiến thêm bước nữa. "Ôi, đàn bà, giống sinh-vật-siêu-điện-tử!" Lá thư với câu kết, nguyên văn.

*

 

"Thơ tức anh lắm. Tức chính mình nhiều hơn. Không hiểu sao Thơ ngồi đây. Anh chưa cho biết vì cớ gì lại muốn ghé tiệm tóc của Thơ? Chắc anh không định làm ... đầu như mấy chàng gays."

"Sao cô cứ bực dọc hoài vậy? Chẳng lẽ đó là một cách diet của cô?"

"Tôi không hề biết nó là cái gì. Nó không hiện-diện trong tự-điển, trong spelling list của tôi. Tôi không phải đặt câu với chữ đó. Nghĩ cũng buồn cười. Ghi tên theo học hành-chánh (lại 'hành-chánh!') Thế mà hàng tuần vẫn phải cong lưng làm câu với những chữ hoàn toàn 'căn-bản.' Anh thì lại quá chuyên-chú với chúng."

"Tôi muốn dợt lại số vốn cũ. Với cô có thể là ngớ-ngẩn, nhưng tôi lại thấy vui vui. Ấy vậy mà khối nường Mễ nâu, cả Mỹ trắng, vã mồ hôi với các câu cú ọp-ẹp của họ. Có lần một cô, đêm trước trót luông-tuồng, bí quá, mượn bài của tôi, ngồi cuối lớp, sao y. Ông giáo cho cô điểm F kèm lời cảnh-cáo. Bài của tôi, chỉ khác mỗi cái tên, lại được A. Cô nàng để tôi yên đâu được hai tuần. Sau, vẫn mượn, 'gian,' và đã 'ngoan,' sửa đổi ít nhiều."

Cô chỉ trước kính lái:

"Anh quẹo đường Jennings kia rồi bọc trái. Parking của tiệm ngay đầu vào sát hiệu 99 cent. Vòng xa chút. Đỡ được cái ngả tư có gắn máy chụp hình. Thơ bị một lần, mất hơn trăm tiền phạt, hai đêm học 'luật!' Cay-cú đến già!"

*

 

"A. Ra thế. Thơ thật không ngờ đấy!"

"Xin lỗi Thơ. Tôi không có ý tạo bất ngờ. Chỉ muốn mượn cớ mà bứng Thơ ra khỏi tổ buổi sáng này. Một công hai việc."

"Anh vụng nói lắm. Chính tôi ướm ý mời anh ra ngoài cơ mà. Chị là gì của anh?"

"Bạn. Bạn đời." Tôi tỉnh bơ.

"Á. Hay thật. Anh giỏi ghê!"

"Gì? Việc dò-la, mối lái này?"

Cô tròn môi. Dục tình một phần, và phần dẫn, ở dưới hai môi này. Vô phúc cho anh chàng kỹ-sư điện-tử. Không chết tươi sao được với hai cánh hoa chỉ tốt tươi nhờ thịt sống này?

"Chỗ khác. Chị ấy đẹp quá. Trẻ hơn Thơ nữa kìa. Mà nói thế thôi. Lần đi shopping gặp, Thơ đã biết. Bây giờ Thơ thực tình phục anh sát đất."

"Trước nữa?"

"Chút chút thôi. Từ lúc anh làm thơ 'tán' cô giáo dạy Anh-văn."

Tôi chỉ vào trán cô:

"Bộ óc kỳ-diệu! Thơ nhớ dai thật! Tôi quên rồi. Quên là phải. Chả vui gì giữ hoài nỗi vụng-dại của mình."

Thơ bĩu môi:

"Dại như anh, khối người muốn đánh đổi. Mà... (chậm, chọc) Chị ấy tin anh đến thế cơ à?"

Tôi nhíu mày, vờ:

"Thơ có lạc đề không?"

"Anh thừa biết mà. Tôi bước không nhanh bằng người, nhưng hiếm khi muốn tránh né bụi rậm."

Với cô này, lui cũng chết; chỉ còn nước liều thôi. Tôi vặn lại:

"Thơ nghĩ mình đáng sợ đến thế kia ư?"

"Tôi không chủ-quan hão. Nhưng cái gì quá quý thì cần giữ với nhiều thận-trọng hơn, dầu trước bất cứ đối-nhân nào."

"Trong kinh-doanh, lẫn trong tình-cảm, phải tin nhau. Không khác hơn được."

Cô lại hất tóc. Đàn rắn muốn ngóc cổ mổ người đứng cạnh. Cô đi trái chiều với bãi đậu xe:

"Anh bắt chước tôi rồi: không muốn trốn thoát chủ-đề. Cho anh 1 điểm."

(hai cánh tay giăng ngang, quay nửa vòng như kiểu thể-dục học sinh. Giọng rất mềm)

"Anh đi với Thơ hết khu phố này. (vỗ hai gối) Bằng hai cái này này. Trên kia có công-viên. Vắng lắm."

*

 

Con đường chạy giữa trông như thân của chiếc bình sứ mà hình dạng hai quai mượn hình của mấy vạt xanh. Bãi cỏ ườn dấu hỏi. Nơi tròn nhất của dấu hỏi phía trái (thoảng khi nhận nắng đầy lại giống viền tai của... Thơ, không đeo bông) nằm trên sườn đồi. Nhà cửa và xe thoáng thoáng. Con đường hẹp, và càng hẹp hơn ngay nơi bắt đầu. Hai xe chạy ngược chiều, gặp nhau, một sẽ phải ngừng lại nhường. Dấu hỏi bên phải hơi nghiêng thấp, để cách vành của nó độ hơn thước xa là bắt đầu chùi xuống khoảng trũng. Đất thịt pha sét đỏ ướt. Dưới kia nữa là đường lưu-thông. Được mươi phút đi chân, đường phồng ngang hai phía: một chạy ngoằn lên một ngọn đồi khác, một xuống dãy nhà ngang mà một trong đó là văn-phòng điều-hành công-viên. Đường thật vắng. Và đẹp. Nó như một ốc-đảo gia ân lọt tõm giữa 4 con phố đông-đúc. Càng đi, càng dốc. Mặt trời chạy theo chúng tôi ở trên kia. Thông chòm rậm, mướt, ăn chận hầu hết ánh mặt trời. Không gió. Không chim. Chỉ có lá và lác-đác quả khô phủ trên cỏ và dưới các rãnh dẫn nước mưa.

Thơ đi chân đất bao giờ. Có lẽ từ lúc tôi đứng lại chờ cô trên đỉnh. Khi cô lên sau, ngoài đôi nửa giày nửa dép xách trên bàn tay trái, chiếc jeans của cô cũng đã được xắn cao đến mấy nấc trông như chiếc short dài chơi biển. Cặp đùi mảnh dẻ như đùi trẻ con. Bắp chân trắng, chạy gân xanh. Đôi thớt thịt-pha-xương khúc-khuỷu như hai đường tuyết song song vụt lên hội-tụ nơi một hốc cây già, cộm, tỏa khói đến lung-linh cả khuôn mặt và vòm tóc trên cùng. Và, lại thế nữa cho chứ, nắng không xuống được nơi này nên tôi không thể hoa mắt: lông chân cô không cạo. Tuy chúng có màu hoe nâu, nhưng nhờ bọng chân quá trắng nên trông vẫn rõ. Tôi hơi thất vọng, bởi cái tôi chờ, nếu nó lộ thì cũng không phải là cái trước mắt. Tóc cô đen nhánh, đen đến cứ nghĩ là do thuốc nhuộm. Cơ-hữu cùng loại, tuy khác chỗ, lý ra cũng phải cùng màu. Nhưng không. Tự dưng tôi nóng mặt. Tôi nhớ cô Mễ single mother làm chung shop. Tóc cô ta màu râu bắp. Lông chân cô ta cũng màu râu bắp. Cô ta bảo cứ vài ngày là phải cạo, nếu không thì... oh, my! Có hôm, đang hì-hục tỉa-tót, tôi vào. Cô ngẩng lên, hi, rồi tỉnh bơ tay dao tay kéo. Cô ả to lớn, các vòng trên dưới đều thuộc loại khủng-khiếp, thế mà cũng chẳng khêu gọi tôi nhiều. Còn Thơ? Cô gái mềm oặt như tên người. Mỏng như liễu. Sao chợt khiến tôi lao-chao? Tôi lại nghĩ đến gia-sản cùng loại, khác vùng hun-hút nào kia nữa của cô. (Ồ. [vỗ trán] Đây chỉ là thứ association libre, liên-tưởng tự-do trong các bài học cũø, có gì đáng bị lên án?)

Cô gái này, giáo-dục, tính nết Tây phương, đã làm thay đổi cả bản-chất của màu sắc đông phương của một phần thân thể. Tôi lẩm-cẩm nghĩ thế; và cũng lẩm-cẩm tự biện-hộ biết đâu lại chẳng đúng? Tâm-lý đã chẳng từng được chứng-minh rằng ảnh-hưởng nhiều trên thể-lý đó sao?

"Anh đi đâu mà như trốn nợ thế kia? Theo anh đến vỡ tim!"

Lồng ngực chim sẻ cố ý nhiều hơn thực tình, hộc tốc. Tóc cô cắt như con trai. Sợi mịn, bám vào da đầu. Nhịp động ngụy tạo càng không làm chúng cất cao lên được những vòi đũa sứa. Không-gian thật nhỏ. Nó thu vừa khít hai đầu vú mum-míp của người đàn-bà-con-nít-với-lông-chân-chưa-cạo. Tôi chợt buồn.

"Anh yêu chị ấy. Thế mà vẫn chịu đi chơi với Thơ. Anh có thấy thế là kỳ cục?"

"Vợ là bạn của giai-đoạn cuối cùng. Thơ thì dẫu rất khoan-dung, tôi nghĩ, cũng mới chỉ cho phép mình ghé vào giai-đoạn thứ nhất. Sao tôi lại bị vướng bởi khoảng cách khá rộng như vậy? Thứ đến, tôi là người hãy còn kiểm-soát bước chân mình."

Cô móc túi quần lấy ra miếng napkin lau mồ hôi trán. Cô ngoảnh trái, đưa tay cao, chùi rõ lâu hai hốc dưới hai cánh tay. Vất mạnh vào sọt giấy treo bằng khúc kim loại gần đấy. Quay lại, cô nói:

"Con người anh, ấy là tôi nói bề ngoài, ở gương mặt, lầm-lì, cổ còn hơn trái đất. Cái lý-luận, cái quan-niệm anh vừa cho nghe, quả thật, nếu không là anh mà là người nào khác, tôi sẽ nghĩ nó được trả bài, chắp vá cách buồn cười."

"Thành thật với nhau đâu mất gì. Nó là vốn liếng chúng mình đều sẵn. Tại sao lại tìm mua thứ khác, thứ mình phải trả giá quá cao mà lúc mang ra dùng vẫn không được tự tin, thoải-mái?"

Cô ngồi phệt xuống mép cỏ. Cô lật úp mặt tấm biển có hàng chữ 'Please do not step on grass.' Cô phẩy má bằng mấy ngón tay:

"Cho lương-tâm mình được yên ổn. Không thấy, không tội. Có ai phàn-nàn, cứ bảo, làm sao tôi biết dưới tấm biển này là sự cấm-đoán? Có ai trông thấy sự thật, cái-mà-người-đời-cho-là-sự-thật, ở mặt kia của cái giả hình nhởn-nha trước mắt?"

(Hình như một hột nắng vừa lẻn qua được hàng rào lá. Một lưỡi dài da mặt cô bị loang như khi vụng tay thoa phấn.)

"Hạnh-phúc!" khoảng hơn phút sau, cô tiếp, "không giống như tấm biển kẻ mấy chữ trắng này. Không có bảng hiệu nào hướng-dẫn chúng ta đến đó. Chỉ giống tấm biển là khi nó, tấm biển, bị (ai? số-mệnh) lật ụp xuống. Đương nhiên cái quý hiếm thì không dễ chường mặt. Chúng ta không sinh ra để được hạnh-phúc. Chúng ta phải đi tìm. Án-lệnh từ 'péché originel,' nguyên tội, là lời phán công-bằng. Hái quả trên cành, uống nước trong mội. No bụng, thông cổ. Anh bảo đó là hạnh-phúc? Nếu thế thì chú chim tít trên mây kìa vẫn là, cứ gì anh, tôi? Hạnh-phúc, như vậy, vượt qua bản-năng-tính. Nó chỉ được 'biết,' và do đó, 'có,' cho con người, những con người tỉnh-táo. Người mất trí không có hạnh-phúc. (mắt rực, dữ) Nhưng, với phạm-trù con-người-tỉnh-táo kia, phỏng mấy phần trăm, phần ngàn trong họ rờ được nó? Hạnh-phúc, không là ý-niệm. Không như lớp hương khói mà chúng ta nhìn thấy qua lưới nắng bủa trên những nóc nhà kia. Tôi cho nó có hình-thức, có hình-thù, tựa như đôi nửa giày nửa dép tôi vừa xách lên, đâu rồi, kìa, kìa, vất gần bụi cỏ sau lưng anh. Cầm nó lên, mình thấy chúng nặng, và mình sướng hẳn hoi. Cái sướng không chỉ là tâm-lý, mà lay-động tế-bào mình, như một vẩy sóng, một đũa điện. Nhiều người khuyên tôi, lúc chúng tôi còn sống bên nhau, dầu sau một vài tranh-chấp: chị cứ hạnh-phúc đi; cứ ‘nghĩ’ là mình hạnh-phúc đi. Mất chi đâu nào? Sao lại không chịu cho là mình hạnh-phúc chứ? Bướng-bỉnh ích gì? Cứ ám-thị hoài, ắt có ngày nó hiển-linh. Ôi chao!..."

Tôi nhặt lên cọng thông. 4 lá. Loại hiếm, cho nhiều dầu lắm đây. Có thể vì thế mà khu đồi trồng toàn là thông này vào mùa hạn, vẫn còn bóng-bẩy lắm. Cọng thông trông như cọng chổi lúa. Đã khô, dòn. Núm tròn, nơi gặp của 4 lưỡi lá đã hơi mốc, rạn. Chưa biết nó còn giữ chân 4 anh chị em lá kia được bao lâu. Mùa mưa trước đã qua. Mùa sau còn lâu mới đến. Thông sậm màu rất nhanh khi lìa khỏi cành. Giữa hai mùa, thời-gian này là thời-gian nắng và hanh nhất của năm. Thêm cái nóng của gạch dưới đất (lấy nhiệt từ trời, giữ, và lâu nguội). Chất dầu loãng dần. Lá thông chỉ còn là một tập-hợp của các vật-chất mà mất đi độ ướt dẻo giúp quây-quần chúng lại. Bây giờ, chỉ cần một hơi thổi của tôi là cọng thông trên tay sẽ đứt ngay làm hai làm ba. Tôi chụm tay che gió (trời im; gió đây là từ hơi thở của tôi), thật cẩn-trọng bước đến gần nơi cô đang ngồi. (tôi bỗng tự ví mình như một đồng-tử, tay dâng vật thờ lên nữ thánh ưu-tư.) Mương nước xi-măng vá sần-sùi khiến tôi vấp về trước, và tí nữa thì cọng thông rơi khỏi hang tay. Trong khi bàn chân trái của tôi chưa kịp đặt xuống cho cân bằng thì đã có bàn tay nào giữ cánh tay tôi lại. Tôi ngả về phía đối diện. Bàn tay trèo lên, nắm ngay vạt áo lưng tôi, ghì ngược. Tôi lúng túng, không vì lo ngã, chỉ sợ đánh rơi cọng thông. Vừa vững, tôi quay ra bên, thở dồn. Hơi thở tôi bị chận nửa chừng. Lồng trong nó là hơi của cái-không-phải-là-tôi. Ngộp lắm, tôi đành hít mạnh vào. Mũi tôi nổi gai. Mùi người và phấn và mồ hôi. Tựa như vòi phun nước hoa nhìn qua sọc nắng.

"Anh không hôn tôi được sao?" Giọng thào trợt dưới vành tai tôi.

Tôi nhắm mắt. Cọng thông chẳng biết còn nằm trong lũng tay tôi? Tôi không có gì để ôm cô, dù tôi muốn. Tôi có tất cả dụng cụ để chống trả, dù tôi không muốn. Tôi ú ớ:

"Cô... không chờ được đến lúc nào khác hơn ... là lúc n...à...y?"

(Chất giọng trốn trong luồng suy-tưởng của tôi từ lâu, phút giây này, đang hiện hình):

"Tôi đã chán tìm. Tôi đã ngại đến. Tôi không chờ bất cứ sự thể bất chợt nào. Tôi biết, ngay từ còn bé, tôi sẽ suốt đời là người đánh rơi khi vừa nhặt được. Hiện-tại trở mặt thành quá-khứ. Hai thứ ấy đã lắc-láy thì còn gì kiên-định nữa, hỡi tương-lai? Tôi sợ lắm quãng đời đi học, khi đọc sách, cứ gặp phải các tiết đoạn nói về thời-gian. Cái 'notion du temps' là thứ trái cấm không bao giờ nên chòi ra từ cành chứ đừng nói đến việc mời ngoạm vào. Tôi đã xé không biết bao nhiêu chapitres về đề-mục này của bao nhiêu là sách, đến nỗi bạn bè cứ phàn-nàn sách học của tôi quyển nào cũng lung-lay sứt chỉ. Anh. Anh không là cái tôi tìm. Có thể vô tình là cái tìm đến tôi. Chao ôi! Tôi lẫn lộn hết cả. Anh hôn tôi đi!"

Tôi lên tiếng, và hy-vọng tiếng động sẽ giúp tôi thôi còn là mục-tiêu cố-định với cô:

"Cô cứ nói hết. Tôi vui mà được nghe. Chúng mình sẽõ làm ngơ được yếu-tố thời-gian. Ít nhất thì một khoảng-khắc nào đó mình hư-hóa được nó. Cô không mãn-nguyện sao?"

Màu trắng bệch của da mặt; màu đen vằn bóng thông của hai hạt mắt. Chúng nó là hai thứ loa đẩy lời của chủ ròn-rọt vào tai tôi:

"Anh tin không trong mỗi chúng ta đều ẩn một vị tiên-tri? Nói cho ít vẻ dị đoan hơn, thì đó là sự hé lộ, mặc-khải, thần-cảm...? Tùy mỗi người, và tùy hoàn-cảnh mà vị tiên-tri đó xuất hiện thường-xuyên hay thảng hoặc. Theo sách vở, phái nữ giàu khả-năng tiên-cảm hơn vì họ không ưa suy-luận, thiên về trực tính. Với tôi, trái lại: những năm tôi sử-dụng nhiều óc thực-tế, óc luận-lý lại là những năm tôi gặp gỡ nhiều hơn vị tiên-tri ấy."

Một tay cô vòng lên, luồn sau mái tóc, bám vào cổ tôi, mấy ngón dao nhọn giữ nó ngay ngắn. Tay kia, cô tháo lòng tay đang có thể còn giữ cọng thông của tôi, đan vào đó mấy ngón mịn-màng bén ngót khác, bóp chặt. Bây giờ, bàn tay trên kia của cô mới thong-thả ấn cổ tôi về trước, vỗ khẽ như điểm huyệt, lùa thấp xuống. Tôi vẫn còn đang đứng trên mép rãnh. Mép này cao hơn mặt đường thuộc phần bên kia của cô. Như thế, cô càng thấp thêm so với tôi. Với vị-thế này, nếu đáp-ứng, tôi phải bước sang phần lãnh-thổ của cô thì mới thực hiện được một nụ hôn. Khuôn mặt mỹ-miều gần sát mặt tôi của cô chỉ khiến tôi chiêm-ngưỡng, chứ lại không kích-động tôi được nhiều. Mà tôi thì đang cần đến thứ kích-xúc khác. Tôi chỉ xởi hứng được khi nhìn thấy bộ ngực chanh chua của cô sau chiếc áo hở cổ (lúc này tôi nhìn thấy sợi dây bạc thõn sâu xuống rãnh nông của vú), gợn mông dẹt của cô sau chiếc jeans bạc thếch, và mờ ảo rìa và màu quần lót (ắt cũng mòn vẹt như vậy). Với tôi, chúng là cô. Cô là độc-đáo. Sức mạnh của cô là ở những vùng yếu ớt kia. Các thứ nối kết, thứ tối-hậu, chỉ đến sau. Hơn nữa, lúc này tôi đang định cho cô cái khác: cọng thông.

Tôi nhìn thấy cô nhón gót. Thật khổ. Cô vẫn còn trần chân. Cô đã ném tung đôi nửa giày nửa dép, tuy đế thấp, song vẫn là phương-tiện giúp cô vươn dễ hơn lên mục-tiêu. Cô không thể tự đội cô lên trên mức cho phép; cũng không thể đè tôi thêm về và xuống phía cô. Má cô đã ửng. Mồ hôi bắt đầu làm căng các mụn phấn trắng. Chúng, làn da, phấn hột, các lỗ chân lông của cô, sắp nứt. Chúng sẽ nứt cùng với sức kéo sẽ rã-rời khỏi cô, trong chu-kỳ thở kế tiếp.

Tôi khó thể nhìn thấy người sắp đuối, dù người này vừa và đang còn ý định tấn-công tôi mà không phóng đi chiếc phao đang cầm trong tay. Tôi ưỡn người tới, hơi cúi lưng, vòng tay sau cổ cô, giữ cô lại. Cô trụ dần. Đó là nơi đôi chân. Còn trong cô thì sợi dây nào vừa phựt đứt. Tôi nghe được. Tôi nhăn mặt. Mặt cô tái xám. Hai sợi gân xanh chạy theo hai vành mũi của cô gò lên. Không nghi ngờ gì. Đó là hai sợi dây rắn. Hai kẻ hầu gần-gũi và trung-thành nhất của nữ chúa gầy-gò. Chỉ lúc tuyệt cùng nguy-cấp, chúng mới xuất hiện. Và chúng đang chờ lệnh. Trong khi chủ-nhân mệt nhoài.

Hai hỏn vú tội nghiệp gần chết hơi. Chúng như hai chị em sóng sơ sinh tuyệt-vọng không nhoài lên chơi được mỏm đá. Chúng nằm vật ra đấy, thả hoang. Tôi nghe các thớ mô trong đó đang rũ-rượi. Kéo theo hình ảnh miền sau mỏn rêu phong. Tôi tê điếng.

 

 

Môi cô khỏe gấp trăm lần sức vóc của cô. Dầu đang còn ở thế bị động, sức tấn công cuồng dại của cô đã lôi xộc cô lên, lật sấp tôi xuống. Tôi ngã vào ngực cô. Không nghe được chút sóc nẩy của bông nệm nào. Bàn tay phải của tôi bám vào lưng cô. Mặt vịnh khô, gọn. Xa bãi. Lô-nhô đá. Không gì khó hiểu. Cơ thể mỏng-manh của cô là kết quả của bao năm tu luyện nội khí. Tinh-lực khi đến cao độ thì đã sắc như một khúc cây khô.

Cô đẩy tôi ra nửa chừng:

"Tôi vẫn không xem anh là cái vừa tìm được. Anh phải là cái mà tôi vừa đánh mất. Có như thế tôi mới thấy an ổn ít nhiều. Bởi nó là cái đã là. Tôi không buộc phải bận-bịu, mưu toan, đôi khi lừa lọc để chiếm đoạt. Anh lạ lắm sao? Tôi chỉ còn là tôi phân nửa so với trước ngày tôi quen chàng ta. Cũng may mà tôi còn có được giọt máu người. Không có giọt máu người này, anh không phạm tội như buổi sáng nay."

Cô ăn nói lung tung. Đầu gật gù. Mớ tóc hết bám vào da đầu. Chúng là lũ rắn sổ chuồng. Tôi hiểu hơn những gì cô định nói. Thân hình ốm đét của cô là phần khắc-tinh tương-xứng với bộ óc sắc-sảo thông-minh lạ lùng. Nó là lửa ròng. Lửa thôi cháy, bởi nó đã đóng khối. Nhưng hơi nóng được thêm phần sức nặng. Tôi có quá lắm chăng khi bảo rằng cô chế-ngự người khác, ngoài ảo-thuật của đầu óc, còn bằng nét rù quyến sadique, bạo-trị? Anh chàng kỹ-sư nào đó, và bao anh chàng nào nữa, cũng sẽ quy hàng. Còn tôi? Lúc này thì chưa. Mong đừng có ngày mai. Tôi tự lung-lay ít nhiều!

Cô cài lại khuy áo. Thoáng nét vui. Mái tóc rắn nằm ngoan:

"Đùa anh đấy. Đừng giận. Anh đúng là không là cái tôi vừa tìm thấy. Anh nên biết thế mà hạnh-phúc. Người đàn bà nào cũng tham-lam. Người đàn bà nào cũng chỉ phiêu-lưu trên con đường mà chính họ đã từng đi qua. Nói chung, mọi con đường, và không con đường nào nên dành cho họ. Anh chớ bao giờ đứng về phía bên kia của con đường. Họ sẽ ‘nhìn’ thấy anh; sẽ bắt (kịp) được anh, không lâu đâu. Hãy song hành với họ, nếu anh muốn thoát."

(cười, chọc):

"Tính lịch-lãm của quý ông không phải là vũ-khí hiệu-nghiệm để chinh-phục các bà."

Cô chạy nhanh xuống dốc. Đôi nửa giày nửa dép giăng ngang (cô là bóng chim trên cao in xuống đất bằng mực nắng):

"Anh theo tôi! Rồi cho tôi biết, anh thấy cái shop tóc của tôi thế nào?"

Tôi khá vất-vả để gặp cô dưới mặt nhựa từ đó có một lối tắt dẫn về nơi cô làm việc.

"Anh đã từng cho ý-kiến về nó. Nhưng cái lát nữa đây mới là cái mà tôi sẽ lưu vĩnh-viễn vào 'hồ-sơ.'"

Tiếp, không chờ câu trả lời người đối-thoại:

"Income khá lắm. Cái tôi không sở-trường thì lại sở-đắc. Song tôi chán rồi! Tôi không cần giàu. Cái tôi tìm không là những xấp giấy xanh. Tôi cố làm việc là vì cháu bé. Tiền phụ-cấp của bố nó, ngay tháng thứ nhất, tôi đã gửi trả lại. Tôi muốn mua với giá xứng-đáng chiếc vé vào xem vở kịch lầm lỡ của mình. Anh phải biết tôi quẫn thế nào sau khi vụ ly-dị 'thành-công.' Không dám mở mặt nhìn người. Cúi đầu mà đếm bước. Không mùa nào là mùa xuân với tôi."

Cô vuốt ngực, dìm không-khí xuống bầu phổi. (Có thế cô mới cảm thấy đỡ mệt.):

"Cháu bé là chiếc dù che chở tôi khỏi những đợt mưa hôn-ám của cuộc sống. Song, nếu cháu là thầy thuốc, thì đôi lúc, cháu lại là cơn bệnh, là ảo-ảnh của tôi. Hối-hận quá-khứ vẫn không khiến tôi ngại một gặp gỡ khác. Con tim tôi, ngoài ngăn dành riêng cho cháu, còn ngăn nữa đang khép tạm chờ ai đó đến, mở. Tôi biết tôi tệ quá! Ngay hồi Sinh-viên, đã lắm điều tiếng không hay ho về chuyện trai gái của tôi. Thời-gian, tuổi tác, học-vấn, kinh-nghiệm ... vẫn không giúp tôi ‘hoàn lương.’ Tôi luôn là người thèm, khát. Người ta dễ đến với tôi, rồi cũng dễ đi. Tại sao thế, anh? Tôi không hề giả dối với ai cả, ngay với chính tôi. Tôi không đánh lận điều phi-đạo-đức của mình bằng lá bài đạo-đức. Tôi không che giấu si-mê. Tôi không muốn nó là trái bóng để tôi bóp chặt đầu này rồi lại phình ra ở đầu kia, có thể còn hung tợn hơn. Nó là một phần của con người tôi. Tôi không sợ cái tôi đang là. Tôi không cầu cái tôi sẽ là. Tôi trung-thực với tôi. Điều này có nghĩa là tôi đã gián-tiếp trung-thực với người khác. Hạnh-phúc phải là một quá-trình tìm kiếm. Là một cuộc lên đường. Tôi tìm kiếm, và trực diện với cái mà tôi tìm. Tôi nồng-nhiệt nhận tranh-đua, hòa-nhã đón thất bại, với điều-kiện những thứ đó phải đặt trên nền-tảng công-bằng. Không thủ-thuật. Không ngụy-trang. Sòng phẳng. Anh này! Thèm khát có là tội-lỗi? Tôi sẵn sàng dâng tặng, không tính toan, không cầu trả lại. Tôi trách-nhiệm về chọn lựa của tôi. Đừng nghĩ tôi là fan của thuyết hiện-sinh. Tôi có trước khi nó được du-nhập vào. Tôi không thuyết-lý. Tôi sống. Chủ-nghĩa nào cũng chỉ là phó phẩm của cuộc sống. Tôi chỉ soi vào đó như nhìn vào gương mà biết, hiểu thêm về mình. Cũng thích, tựa như đọc một tác-phẩm mà mình là nhân-vật chính. Nhưng không vì soi gương mà sau đó tôi hành xử khác đi. Tôi dư thừa nồng-nhiệt. Tôi sẵn sàng san-sớt. Sao không ai chịu nhận? Người ta ham-hố. Người ta bạo-cuồng. Nhưng người ta không dấn-thân hoàn toàn với sự vui hưởng. Chân chưa bước trọn vào, đã dợm rút ra. Cuộc chơi đã hỏng nửa ngay từ đầu. Tôi thì chúa ghét cái nửa vời. Nhất là trong tình yêu."

Tôi cũng nuốt nước bọt: (Vị ngòn-ngọt của son đỏ dàn trên đầu lưỡi thật dễ chịu!)

"Tôi làm người nghe. Cô đừng bắt tôi phải là kẻ xét-đoán. Tôi không thích, càng không năng-khiếu. Mà chắc cô cũng không muốn tôi đóng vai trò đó. Tôi đến đây để hoàn-tất việc trung-gian, dầu thật ra nó không cần-thiết lắm. Đàn bà nói chuyện riêng với nhau có thể dễ dàng hơn. Đường vào kinh-doanh có lẽ cần thủ-tục đầu tiên là dàn chào bằng tình-cảm. Cô nhà tôi quá cẩn-thận. Nhưng, nhờ một người ‘có tuổi’ và đã lần quen biết làm sứ-giả, dầu sao cũng tỏ bày được niềm kính-trọng của cô ấy với cô. Cảm ơn cô đã cho biết thêm về cô. Điều này khá giúp cho mối thân tình giữa cô và tôi. Phần tôi, nếu cô vẫn đòi tính-cách 'công-bằng, sòng phẳng' thì hôm nào, tôi sẽ tự kể. Chỉ xin cô khoan nghĩ là sẽ bắt gặp điều thú-vị nào trong."

Cô chải tóc. (Các con rắn đã ngủ.):

"Tôi phải là người cảm ơn. Buổi sáng đáng ghi nhớ. Như ngọn gió vừa về chung quanh ta. Như đám nắng hột đang đùa rắc trên vạt cỏ. Ta có mong chờ nó đâu. Khi nó đến là ta đón lấy."

Cô duỗi thẳng ngón trỏ, quệt một đường cánh cung từ trái qua phải:

"Anh theo lối tắt này về lấy xe. Tôi còn muốn thả bộ thêm chút nữa. Có lẽ tôi sẽ ghé lên club trên đỉnh đồi mua gặm thêm khúc sandwich thay bữa trưa. Được dịp nhớ về thuở ăn khô uống khốc gạo bài thi. Tôi không muốn về nhà. Còn lâu mới đến giờ cháu tan học. Trước tôi, còn một phần bữa tiệc sáng và một phần nhỏ nữa bữa tiệc trưa mà thời-gian đang dọn cho tôi. Điều này thì chẳng cần mong chờ, tôi vẫn hưởng được. Hôm nay, tôi 'biết' tôi đang hưởng.

... Anh về nhé. Nói với chị là tôi rất mến chị, và là niềm vui của tôi được hợp-tác với chị. Từ giờ trở đi, nhóm phụ-nữ chúng tôi có thể nói chuyện với nhau, khỏi cần vời đến ông sứ-giả... dẻo mồm nữa."

Hai chiếc nửa giày nửa dép đã buộc lại vào gót. Bước quay thứ nhất sắp chạm đất. Tôi gọi giật:

"Khoan! Tôi quên đưa cho cô cái này."

Mái tóc ngoái lại. Và đôi mắt. Và hai phần ba khuôn mặt. Cô đẹp quá! Thâàn-kỳ! Nắng lại lên. Cô đâu còn nét yêu ma. Đôi môi đâu còn là hai chiếc kẹp sắt:

"Chi, anh?"

Tôi lên khoảng hai bước rưỡi. Vừa tầm cho bàn tay tôi đến tay cô:

"Cọng thông. Tặng cô."

Nó đà gãy vụn. Một số mẩu nhỏ của nó bị ép trong tay tôi. Tôi úp lòng tay: số còn lại rơi xuống hũm tay cô. Mỗi đứa chỉ được chút vỡ nát. Nhưng ý nghĩ về nó là cái thực nhất và toàn vẹn lúc ngày sắp sang trưa này.

Cô hơi sựng người. Chưa đến hai giây rưỡi, cười nức lên:

"Tuyệt! Thơ thật không hề mong chờ nó đấy. Thế mà vẫn được. Cảm ơn anh."

Cô quay người như bông vụ. Thân-thể còm-nhom của cô là lợi-khí đáng kể giúp cô thoát khỏi cái tình-cờ tìm được nhưng lại muốn đánh mất ngay. Nhưng, mắt tôi còn gầy hơn cả thân hình cô, vẫn một phần bao trăm của giây nhanh hơn động-tác nơi cô của bàn tay đưa các vụn lá trong vụng tay cô lên môi và nhịp thứ nhất của bàn chân trái đặt xuống lòng đường.

 

Nguyễn-hòa-Trước

viết: một.02

sửa: hai.04

 


Copyright © 2004 VHNT Publications. All rights reserved.