|
NGUYỄN VIỆN
CHUNG QUANH LÀ BIỂN
1.
Để tìm một con đường sống, không có cách nào khác là cứ đi
về phía trước. Ông Môise đã làm thế. Thị Mầu cũng đã làm
thế. Trong giấc mơ của con người, những thợ gặt rời khỏi cánh
đồng, những ngư dân bỏ tàu thuyền, và họ đi về phía vô định.
Tôi cũng đã đứng lên và đi. Tự nhủ, ít nhất thì mình cũng
đã đi. Tôi nghe thấy tiếng sóng vỗ dưới những chiếc lá mục.
Những con sâu cũng đã giãn mình ra và bò đi. Những người đàn
bà gồng gánh thời gian trong hõm mắt và bỏ lại tiếng cười, họ
bấu chân xuống đất, bước. Tôi nghe thấy tiếng sóng vỗ dưới
những viên sỏi. Bu nó đâu rồi nhỉ? Thằng Cu, cái Nhớn, cái Bé
vẫn còn ngủ ư? Đánh thức chúng nó dậy và bảo rằng nước đang
lên. Cơn lũ từ tương lai sẽ đổ về quá khứ. Những ông thánh
không biết bơi sẽ phải chết chìm. Ánh sáng không ở cuối đường
hầm. Có những người đã chạy nhanh hơn tôi, họ vượt lên và
bám vào các cành cây, như thể nếu mặt đất rung chuyển thì họ sẽ
thoát. Tự tại là gì? Ngồi xuống và thiền à? Vấn đề là biết
cách hít thở phải không? Đừng để máu nóng dồn lên mặt. Nhắm
mắt mà đưa chân. Quá khứ là một cái hố càng lúc càng sâu,
các đấng thánh phải kê thêm bệ. Giữa lúc ấy gã mặt sắt xuất
hiện, hắn nói: Bình an cho các ngươi. Có người hỏi: Ông có thật
không? Gã mặt sắt nói: Hỡi kẻ thiếu lòng tin kia, cứ tát thử
vào má ta xem. Bố tôi còn sống cũng chẳng dám thử. Tôi tự nghĩ,
đã đến lúc có thể ngồi. Người bên cạnh tôi bảo: Đừng ngồi,
bạn sẽ không đứng lên lại được. Tôi như người đàn bà mắc
đẻ. Nằm ngửa nhìn trời. Một sinh hai, hai sinh bốn, bốn sinh tám.
Biện chứng pháp dịch học là tôi ước có một cô gái mặc váy
đi qua. Thẩm mỹ học thượng thừa là cô gái ngồi xuống phủ chùng
thân phận tôi. Thích nghi là khả năng tồn tại của loài giống ưu
việt. Con cứ hít thở cho sướng đi nhé.
Từ phía núi, đám quan quân xuất hiện. Tất cả họ đều đi vòng
kiềng. Trong ba lô của họ, ngoài thuốc sát trùng còn có mặt nạ
chống hơi độc. Họ bảo vũ khí nguy hiểm nhất là những cái mồm
thối. Tôi, Chu Văn An có ý kiến. Đồng chí cứ nói. Tôi đề xuất
chém đầu bảy kẻ nịnh thần. Đồng chí thử nghĩ xem, có cái gì
sướng hơn được nịnh? Đề nghị đồng chí rút lại ý kiến. Nếu
không thực hiện đề xuất ấy tôi xin từ quan. Cám ơn đồng chí,
chúc đồng chí thượng lộ bình an. Chu Văn An về nhà phụ vợ bán
thịt chó ở đầu ngõ. Cái Nhớn, cái Bé xót xa bố mẹ nghèo đi
làm mát-xa tận Hà Khẩu, Trung Quốc. Chúng nó bảo bọn đàn ông
Trung Quốc dai lắm. Mát-xa mỏi cả tay mà vẫn không chịu ra. Hình như
bọn chúng đeo đồ giả. Tôi bảo, nghi binh đấy. Chúng nó nói, sờ
bằng tay, thử bằng lưỡi, co giật bần bật mà hùng tráng như cột
cờ. Tôi bảo, chúng mày không làm chính trị, chúng mày không biết
thế nào là lộng giả thành chân. Bọn chúng nói không cần biết
chuyện ấy, chỉ cần bạc thật.
Tôi hỏi một người trong đám quan quân: Các bác đi đâu đấy?
Chúng tôi đi cứu nước. Đất nước đang thanh bình cơ mà? Hắn chỉ
vào tay áo, tôi đọc thấy dòng chữ thêu đỏ thắm: "Cư an tư
nguy". À, thì ra thế. Thành Cát Tư Hãn trước khi chết, miệng
lẩm bẩm: Anh hùng
anh hùng
Tôi, trước khi chết, miệng
bập
bập
chùn chụt
Song trùng nhị bội. Tê tái quan san.
Trùng dương hội ngộ. Đám quan quân vẫn nối bước đi qua. Tôi lại
hỏi một người trong số họ: Các bác là chiến sĩ hay liệt sĩ? Liệt
sĩ. Tổ quốc ghi công rồi, sao các bác không an nghỉ? Họ cười như
thể tôi là thằng ngu. Dù thế, tôi vẫn tò mò tọc mạch, hỏi:Tại
sao các bác phải đi vòng kiềng? Chuyện này không nói được.
Tôi nhớ lần đầu mắc bệnh lậu, cũng đi vòng kiềng như thế,
nhưng tất nhiên, không thể suy chuyện mình ra chuyện người. Khổng
Tử bảo kính nhi viễn chi. Các đấng thánh buồn ngủ. Ngũ Tử Tư
vội vàng dâng gái đẹp. Thánh mà ngủ thì còn đâu cương thường.
Một đồng chí cán bộ kiểm tục nói với tôi: Hãy bảo trọng giữ
thân mình, sống để còn viết. Hóa ra, tôi cũng quan trọng hơn mình
tưởng. Đồng chí cán bộ còn nói: Văn ông dự thi được đấy.
Văn tôi không giống văn mẫu thì lấy tiêu chuẩn nào để chấm?
Đúng là ông ngu thật, văn là người, mà người thì đứa nào
đẹp đứa ấy thắng, biết chửa. Thưa anh, em bụng ỏng đít teo.
Ngu thì nghe anh mày dạy này:
Phàm con người ta muốn thành đạt thì phải biết mình biết
người, biết trên biết dưới. Trên là thiên cơ, dưới là địa
lý. Tất cả các quan xây nhà đều có cửa hậu, theo phong thủy Tả
Ao. Nếu cậu biết mình là ai, làm việc gì, thì cũng phải biết vào
cửa nào cho đúng với danh phận mình. Có phải cậu viết để phục
vụ nhân dân không?
Bỏ mẹ. Xin lỗi nhân dân. Viết chỉ là một hành động thủ dâm.
Tôi viết bởi sự thúc đẩy tự sát.
Ông Chu Văn An gõ đầu trẻ con hàng xóm, dạy: "Thời lai đồ
điếu thành công dị". Đứa nào ý kiến ý cò đuổi về chăn
trâu. Tôi, ngày xưa đi chăn dê dưới chân núi Ma Thiên Lãnh, thích
cách ăn tạp của dê, thích tiếng dê kêu. Chiều đến, dê chăn tôi
và đưa tôi về. Bố tôi bảo thái độ bông phèng là một dấu ấn
của nô lệ, tao đã cho mày tự do, sao không tự do? Bố ơi, con đã
hỏi các bác liệt sĩ rồi, các bác ấy bảo, sau cái chết cũng
không tự do.
Từ ngày tôi thất nghiệp, thằng Cu bỏ học, nó bảo để con tự
lo, đi theo bạn bè. Tôi bớt được một gánh nặng cơm áo mà lòng
đau như cắt. Một gánh nặng khác đè trên vai tôi, có lúc tưởng
chừng không chịu nổi. Tôi nghiệm ra một điều, người ta thực sự
chỉ sống vì những điều hết sức nhỏ nhặt. Lộng ngôn là mặt
trái của sự bi phẫn, tôi thích nghe những người đến ăn thịt chó
ở quán vợ chồng tôi chửi tục. Họ chửi từ trên xuống dưới.
Khi uống rượu, họ không sợ đi tù. Những lúc ấy, họ là người
thông minh nhất. Bố tôi bảo đấy cũng là thái độ của người nô
lệ.
Bố ông là ai mà lúc nào cũng ra vẻ minh triết thế? Trước hết
đấy là người đẻ ra tôi. Sau hết đấy là người cõi trên. Mỗi
lần muốn nghe ông ấy nói, tôi phải thắp nhang, khấn người về.
Người về, tóc tai dựng đứng, mắt tóe hào quang, sắc diện bừng
bừng. Phán:
Bố của con đây, từ khởi nguyên đến tận thế, nói và không
nói, nghe và không nghe, sự thật và giả dối. Nhập.
Con phải làm gì để sống?
Hứ.
Con phải làm gì để được yên ổn?
Hứ.
Con phải làm gì để không sợ hãi?
Hứ.
Bố của con đây, từ khởi nguyên đến tận thế, nói và không
nói, nghe và không nghe, sự thật và giả dối. Xuất.
2.
Đầu tiên, tôi thấy cái bàn rung chuyển. Cốc nước sóng sánh
rồi nghiêng đổ. Sau mấy vòng lăn, cốc nước rơi xuống đất, vỡ
toang, để lại một tiếng kêu tiếp tục rung mãi trong không khí.
Những cuốn sách trên kệ cũng từ từ đổ xuống. Trong chốc lát,
cả nền nhà bừa bộn giấy và những mảnh thủy tinh. Từ bên
ngoài, khói chui vào qua những khe cửa. Nhưng chỉ một lúc, tôi nhận
biết đó không phải là khói. Cũng không phải sương mù. Nó là
mây. Rồi cả căn phòng bồng bềnh rung chuyển. Tiếng gió rít. Tôi
chợt nghĩ, chẳng lẽ căn phòng đã trôi ra biển?
Con quỉ vào nhà, nó nói: Em được sinh ra cho anh. Rồi nó cởi
quần áo. Tôi vẫn ngồi trên chiếc ghế xoay trước bàn máy vi tính,
nhìn nó bước tới. Mái tóc nhuộm vàng để dài che ngang phần
ngực. Chùm lông bên dưới cũng hơi vàng. Ánh sáng trên tường
đổ xuống làm những sợi lông măng của nó óng ánh. Con thú
vàng. Ánh mắt trắng. Hơi thở xanh. Mùi da đỏ. Nó ôm tôi vòng qua
lưng ghế. Mọi cố gắng của anh đều vô nghĩa, nó nói, anh không thể
chạy thoát khỏi chính anh.
Tôi bị hiếp.
Nước đã bắt đầu tràn vào nhà. Những quyển sách mỏng nổi
lên, lều phều. Tôi bảo, coi chừng những mảnh thủy tinh đâm vào
chân. Nó nói, không sao. Tôi nghĩ nó không có máu. Đấy là một
thân thể được làm bằng sáp ong. Ngọt nhưng không có linh hồn. Nó
nói: Anh cũng không có linh hồn. Tôi bảo linh hồn tôi bị quỉ bắt
rồi. Không phải, nó nói, anh không có linh hồn. Vì sao? Đơn giản là
chưa bao giờ anh có linh hồn.
Nước đã lên cao tới gần mặt ghế. Tôi bắc ghế lên bàn, rồi
leo lên đó ngồi. Con quỉ cũng lên bàn. Nó ngồi vuốt những sợi
lông chân. Trong một khoảnh khắc thấu thị, tôi nhìn thấy con quỉ trong
suốt. Phía bên trong nó rỗng không giống như một quả bóng bơm đầy
hơi. Nó nói: Cái rỗng không là linh hồn. Tôi buồn bã hút thuốc.
Những quyển sách bị thấm nước đã chìm cả xuống. Tôi cũng đầy
đặc nước. Và tôi biết rằng, chẳng bao lâu nữa, tôi cũng sẽ
chìm xuống.
Linh hồn tôi mặc một chiếc áo bằng giấy đỏ. Tà áo viền hoa
văn những cây thập tự. Con quỉ dẫn tôi xuống một đường hầm
càng lúc càng sâu. Con đường được soi sáng bởi những con mắt
cú vọ.
Tôi nhìn thấy rất đông người. Họ tìm cách với lấy nhau, nhưng
cánh tay của họ không bao giờ chạm tới người khác. Tôi có cảm
giác tiếng kêu của họ đã vượt quá giới hạn của âm thanh
thông thường. Khuôn mặt và cánh tay của họ não nề không chịu
nổi, tôi bước đến cạnh họ và chọc vào giữa bụng họ bằng
một con dao nhọn. Thân thể họ xì hơi và rũ liệt như một đống rẻ
rách. Tôi nói: Họ cũng không có linh hồn.
Bất giác tôi buồn ngủ.
Anh sẽ không bao giờ ngủ được, cả đến khi dốc hết tinh trùng
xuống lỗ cống.
3.
Dường như ký ức tôi đã đảo lộn những sự kiện. Tôi
không còn khái niệm về không gian và thời gian. Thực và ảo. Nhưng
tôi biết chắc chắn tôi đang ngồi ở quán nước. Nhìn xéo, tôi
thấy người đàn bà trẻ ngồi ở chiếc bàn bên cạnh có bộ
ngực rất hỗn, chứng tỏ một nữ quyền lịch lãm. Người đàn bà
nói: Em phải về cho con bú. Hôm nào em lại đến? Em sẽ gọi cho anh.
Thằng nhỏ (hay con nhỏ) chờ sữa. Tôi mường tượng cái miệng
thằng nhỏ há ra như cái mỏ chim.
Người đàn bà đứng lên, thản nhiên xốc lại bộ ngực. Tôi
tưởng tượng tôi bú bầu sữa ấy. Người đàn ông thòm thèm.
Họ rời quán.
Đồng chí kiểm tục bắt tay tôi. Anh khỏe không? Cám ơn, khỏe. Anh
còn viết không? Nhờ hơi hướng đàn bà, tôi vẫn viết.
Tôi tưởng tượng câu chuyện sẽ tiếp diễn thế này:
Anh có âm mưu chống đàn bà không?
Tôi lúc nào cũng có ý thức chống đàn bà.
Vì sao?
Đấy là mộ huyệt.
Thực ra, tôi rất thích cảm giác dậm hai chân xuống mộ. Chôn một
cái gì đó. Xóa sổ một điều gì đó. Đập vỡ một cái gì đó.
Đấy chính là lý do tôi đâm đầu vào việc viết lách.
Tôi hỏi đồng chí kiểm tục:
Anh có thấy người đàn bà vừa ra khỏi quán không?
Có.
Tôi lại tưởng tượng: Hắn ngồi trước màn hình máy vi tính,
dán mắt vào những cảnh làm tình thu được qua những ống kính cài
đặt ở phòng ngủ của các khách sạn, nhà trọ - khu vực hắn phụ
trách. Dương vật dựng đứng. Hắn ghi nhận mọi biến thái vượt
quá qui phạm của tính nhân dân.
Tôi bảo tôi phải đi theo người đàn bà ấy để chào người
đồng chí thân thiết.
Cho tới bây giờ, tôi biết chắc rằng tôi không phải Chu Văn An.
Bố tôi không phải người cõi trên. Cái Nhớn, cái Bé, thằng Cu
không có thật. Một mình tôi bước trên hè phố theo sau cặp mông
người đàn bà lắc, nghĩ về tính nhân dân và thật sự muốn văng
tục. Tôi cảm thấy cần phải đổ vào thân xác rỗng không của mình
một cái gì đấy. Con quỉ hiện ra bảo: Hãy đổ em vào anh. Nhưng tôi
biết rằng, tôi chỉ có thể tìm được sự bình an sau khi giết nó.
Con quỉ bảo: Không bao giờ anh giết được em. Bỗng nhiên tôi đốn
ngộ. Tôi chỉ có thể giết được tôi. Và tôi nghĩ ra một cái
tựa truyện: Chung quanh là biển.
15.10.2003
SÂM THƯƠNG
Một tác
phẩm nghệ thuật
Nhà hàng Continental trên đường Tự Do, nằm giữa
trung tâm thành phố lúc này thật nhộn nhịp. Các phóng viên,
đại diện các hãng thông tấn báo chí và truyền thanh, truyền hình
quốc tế, phần lớn có thói quen tụ tập ở đây để vừa ăn
uống vừa trao đổi tin tức mỗi khi có mặt ở Sài Gòn. Sau đó họ
túa đi khắp các điểm nóng của chiến cuộc. Những ngày này tình
hình chiến sự thật sự đang sôi động, những trận chiến đẫm máu
chưa từng thấy đang diễn ra ở Đông Hà-Quảng Trị giữa hai bên
nhằm mục tiêu chính trị, giành lợi thế trên bàn hội nghị ở Paris
đang ở vào giai đoạn cuối.
Ở góc trong cùng, đạo diễn Phú Văn đẩy tập hồ
sơ đến trước mặt tôi :
- Nếu cậu đồng ý hợp tác với tôi, cậu có thể
ký vào bản hợp đồng và hồ sơ bảo hiểm tôi đã chuẩn bị kỹ.
Tôi đặt bút xuống ký, không đọc qua một chữ nào
trên trang giấy. Ông Phú Văn cũng không quan tâm đến thái độ của
tôi, ông nâng ly Cognac lên môi uống cạn, nói tiếp:
- Tôi biết cậu là một nhà quay phim có tài. Nhưng
để có được một tác phẩm nghệ thuật, tôi có những đòi hỏi
khắc nghiệt hơn nhiều với chính bản thân tôi, cũng như những cộng
sự của tôi.
Ngừng một lát, ông hỏi:
- Cậu có ý kiến gì không?
Tôi nhìn ông, lắc đầu:
- Tôi sẽ cố gắng làm đúng điều ông yêu cầu. Tôi
cũng mơ ước thực hiện một cái gì đó có thể gọi là nghệ
thuật.
- Như vậy, chúng ta đã có chung một mục đích. Những
vấn đề còn lại, nếu có, tôi cho là không quan trọng.
Như sợ ông Văn hiểu sai hay cố tình hiểu sai tinh thần
của cuộc hợp tác, tôi nói như để giải thích:
- Trước hết, tôi không chỉ là một chứng nhân.
Đối với tôi, hình ảnh là hành động. Ông thừa hiểu tôi muốn
bày tỏ và người ta chỉ bày tỏ khi có ước vọng thay đổi.
Khi nói ra xong, tôi hối hận, vì có cảm giác ông
chẳng hề quan tâm đến điều tôi vừa nói. Hình như ông đang tập
trung vào một điều gì đó, nhưng giọng ông lại như ra lệnh:
- Bây giờ, cậu về nhà chuẩn bị, trong vòng nửa
giờ nữa tôi sẽ đến đón cậu ra thẳng phi trường. Chuyến bay của
chúng ta sẽ cất cánh vào lúc 10 giờ 45.
Tôi sốt ruột nhìn ra cửa, rồi lại nhìn đồng hồ.
Có lẽ Maggie không đến được, tôi đành đứng dậy bước ra.
Vừa đến cửa thì Maggie Bancoft bước vào. Tôi đã quen với Maggie
mấy năm trước. Lần đầu chúng tôi gặp nhau, cô mới học năm
thứ ba khoa Báo chí Đại học West Virginia. Cô có người anh trai vừa
tốt nghiệp Quản trị Kinh doanh tại Syracuse University, New York, bị gọi
quân dịch. Đến Việt Nam, mới tham dự cuộc hành quân lần đầu đã
bị chết trận, xác bỏ lại ở chiến trường Tây Ninh. Maggie đến
Việt Nam để thực tập, nhưng đồng thời cô cũng muốn tìm tung tích
của anh cô. Trong khi tôi cùng đám bạn ở dãy nhà sau của Tổng
Hội, đang phân công viết bài cho số báo Sinh Viên mới thì cô
bước vào. Cô hỏi tên tôi và trao lá thư của một người bạn,
nhờ tôi giúp đỡ, hướng dẫn cô khi cần. Tôi ngỡ ngàng vì
đôi mắt nâu sậm quá đẹp của cô. Cô kiên nhẫn ngồi bên ngoài
hành lang chờ cho đến khi tôi xong công việc.
Trong buổi gặp gỡ hôm đó, ở một quán nước bên
bờ sông, cạnh công trường Mê Linh, bến Bạch Đằng, Maggie đã nói
với tôi bằng một giọng nghẹn ngào, pha lẫn chút phẫn nộ về cái
chết của người anh trai, về nỗi đau của mẹ cô, về phong trào
chống chiến tranh Việt Nam và sự khủng hoảng niềm tin của giới trí
thức Mỹ.v.v
Sau lần đó, tôi không có dịp gặp lại cô, nghe
nói cô trở về Mỹ tiếp tục học. Gần hai năm sau, bất ngờ tôi nhận
được một lá thư của Maggie ở địa chỉ cũ của tôi, cô viết:" Sau khi tốt nghiệp, tôi đã may mắn được
nhận vào làm việc cho New York Times. Chính ở đây tôi mong muốn
trở lại Việt Nam, hình như Việt Nam có một sức mạnh vô hình nào
đó luôn cuốn hút tôi, không thể cưỡng lại được. Nhưng trước
tiên, tôi không thích chiến tranh, đặc biệt chiến tranh Việt Nam do
chính quyền nước tôi tiến hành. Trong khả năng của mình, tôi muốn
có cơ hội nói cho nhân dân tôi biết tất cả sự thật, để bớt
đi những cái chết không đáng chết như trường hợp của anh tôi.
Còn anh, hiện nay anh đang làm gì, nghĩ gì về cuộc chiến tranh trên
đất nước anh?". Sau khi đọc xong thư, tôi đã viết cho cô:" Tôi rất vui khi nhận được thư của Maggie và hy vọng
được gặp lại cô ở Việt Nam. Tôi muốn trả lời câu hỏi của
cô, mà đúng ra để trả lời cho chính tôi. Thú thật tôi vẫn chưa
chọn được cho mình một thái độ dứt khoát.Phải chăng tôi là
một kẻ ngụy tín?
". Trong thư, tôi không nói gì
về những thay đổi của tôi. Sau khi tốt nghiệp Đại học Văn khoa,
tôi đã bỏ dạy học và viết báo để theo học một khóa quay phim.
Mãn khóa tôi được gửi đi tu nghiệp ở Paris. Trở về, tôi chính
thức làm việc tại Trung Tâm Quốc Gia Điện Aûnh. Công việc ở
đây, ít ra đã không trực tiếp bắt tôi cầm súng. Tôi không muốn
bắn vào người anh em tôi bên kia chiến tuyến; cũng như tôi không
muốn ngã xuống trước họng súng của họ. Ngoài công việc được
giao phó, thỉnh thoảng tôi cộng tác với một vài hãng phim ngoại
quốc, nhưng tôi vẫn luôn ấp ủ thực hiện những tác phẩm nghệ
thuật của tôi, những phim tài liệu thể hiện nỗi đau của đồng
bào tôi đang phải gánh chịu trong cuộc chiến tranh tàn khốc này.
Tháng 11.1971, Maggie quay lại Việt Nam với tư cách là
một phóng viên chiến trường của báo New York Times, theo như
ước nguyện của cô. Chúng tôi gặp nhau một vài lần vì công việc,
nhưng chỉ thực sự hiểu và cảm thông nhau sau chuyến đi Lộc Ninh hai
tháng trước. Lằn ranh giữa cái sống và cái chết đã đưa chúng
tôi đến gần nhau hơn.
Maggie vừa từ Quảng Trị về được hai hôm, có lẽ
cô bận viết bài nên hai đứa tôi không gặp nhau. Nhưng tôi hiểu
chuyến đi sắp tới sẽ có nhiều hiểm nguy chờ đợi tôi, nên tôi
muốn được nhìn thấy Maggie, muốn nói với cô một điều gì đó
trước khi lên đường. Tôi điện thoại cho cô. Hẹn cô đến đây.
Tôi chưa nói cho Maggie biết tôi đã nhận lời hợp tác đi Quảng
Trị với ông Phú Văn.
Vừa nhìn thấy tôi, đôi mắt Maggie mở to rạng rỡ :
- Em vừa phải chuyển bài phóng sự mặt trận Quảng
Trị của em về tòa soạn ở New York. Sao anh hẹn em ra đây mà lại bỏ
đi? Chúng ta có thể cùng uống cà phê được không?
- Cám ơn Maggie! Anh phải chuẩn bị để ra phi trường.
- Anh đi đâu? Sao lúc nãy anh không nói?
- Quảng Trị !
- Quảng Trị? Em mới ở đó về, bây giờ đến lượt
anh đi sao?
- Ông Phú Văn vừa cho anh biết.
Bất ngờ, Maggie nắm chặt lấy tay tôi, một thoáng lo
âu trong mắt cô, nhưng trên môi vẫn nguyên vẹn nụ cười duyên
dáng và tự tin. Cô cố gắng làm ra vẻ tự nhiên:
- Hãy mang về cho em xem những thước phim của anh quay
ở đó!
Nhìn đôi mắt màu nâu sậm của Maggie, đọc được
nỗi lo lắng mà cô cố che giấu, tôi nói chỉ đủ cho Maggie nghe:
- Anh sẽ vô cùng hạnh phúc, nếu Maggie có mặt trong
buổi chiếu ra mắt đó.
Nói xong, tôi quay người hấp tấp bước ra khỏi nhà
hàng. Tôi biết chắc rằng sau lưng tôi một đôi mắt đang dõi theo.
Tôi thật sự không dám nhìn những giọt nước long lanh chực chờ
trào ra trên khóe mắt đó.
Khi đèn báo hiệu chuyển xanh, tôi dợm chân định
bước nhanh qua đường tới chỗ đậu xe. Bỗng giật nẩy mình lùi
lại, một chiếc xe GMC bám đầy bụi đỏ vụt qua. Một luồng gió tanh
tưởi thổi hắt vào mặt, làm tôi lợm giọng muốn ói.
***
Chiếc DC-6 Hàng Không Việt Nam cất cánh rời phi
trường Tân Sơn Nhất đi Huế. Từ trên cao, tôi đưa mắt nhìn qua
cửa kiếng máy bay, bên dưới là những cánh đồng bỏ hoang, những
sông lạch chảy ngoằn ngoèo, những hố bom lốm đốm trên mặt đất,
những cột khói trắng vật vờ trôi
Nhìn sang bên cạnh, đạo
diễn Phú Văn đang chăm chú đọc báo, những tờ báo phát hành
từ chiều hôm trước mà có lẽø ông chưa kịp đọc. Hình như lúc
nào trông ông cũng có vẻ tất bật, ngay cả khi ông chẳng làm gì
cả. Thực sự, cho đến giây phút này tôi vẫn mơ mơ hồ hồ, chưa
hiểu lý do tại sao tôi nhận lời cùng ông ta ra Quảng Trị quay phim.
Ông đã không nói cho tôi biết nội dung cụ thể. Thực ra, tôi cũng
không mấy chú ý đến những điều ông nói. Tôi đã tình cờ nghe
một vài đồng nghiệp nói ít nhiều về ông. Ông là một đạo diễn
độc lập, có quốc tịch nước ngoài, hợp tác với nhiều hãng phim
và truyền hình lớn. Tên tuổi ông được báo chí và giới làm
phim thế giới đánh giá cao bởi những thước phim mang ý nghĩa sâu
sắc và giàu tính hiện thực. Hình như ở bất cứ đâu trên khắp
thế giới cũng có dấu chân của ông đặt đến. Nhưng có điều gì
nơi ông đã làm tôi không thích tiếp cận hoặc muốn hợp tác. Song
tôi thật sự không hiểu đó là điều gì. Khi ngỏ ý mời tôi
cộng tác, ông chỉ cho tôi biết nhà quay phim đi chung với ông đã
bất ngờ trở về nước vì vợ anh ta bị tai nạn xe hơi.
Mấy tuần qua, báo chí Sài Gòn tường thuật về
những trận chiến đẫm máu nổ ra ở Đông Hà - Quảng Trị, nơi tôi
sắp đặt chân đến. Nhưng không phải vì gian khổ hay vì cái chết đe
dọa mà tôi phân vân trước lời đề nghị của ông. Ngược lại,
tuổi trẻ và máu nghề nghiệp luôn đẩy tôi tới những điểm
nóng. Càng khốc liệt tôi càng bị hút vào, không cưỡng được.
Bằng chứng, tôi vừa từ mặt trận đường 9 Nam Lào, từ chiến
trường Charlie, địa danh của một đỉnh núi gần thị trấn Kontum trở
về. Có một điều chắc chắn, tôi đã không nhận lời ông vì số
tiền được ký kết trong bản hợp đồng - tất nhiên là cao hơn rất
nhiều lần so với đồng lương và phụ cấp hằng tháng của một công
chức như tôi- đó là chưa nói tới số tiền bảo hiểm trong
trường hợp xãy ra điều gì bất trắc với tôi.
Dòng suy nghĩ của tôi bất ngờ bị cắt đứt khi cô
tiếp viên hàng không nhắc tôi cài lại dây an toàn. Máy bay đang
chuẩn bị đáp xuống phi trường Phú Bài. Tôi cảm thấy bối rối khi
ngước lên tình cờ bắt gặp nụ cười trên môi của cô tiếp
viên. Nụ cười gợi cho tôi nhớ lại khuôn mặt của cô gái ở
một làng quê vừa thoát ra khỏi trận giao tranh ở Xuân Lộc. Cô
bước ra, trên cái nền đỏ rực của biển lửa sau lưng, nụ cười
thoáng ánh lên trong mắt, trên môi, và mái tóc dài bay ngược
trên bờ vai. Cô đẹp quá, thánh thiện quá, nhưng chỉ xuất hiện
trong khuôn hình của tôi có mấy giây, nụ cười trên môi cô vụt
tắt, cô gục xuống bởi một mảnh bom xuyên qua người. Đoạn phim
này tôi vẫn chưa sử dụng, để dành dựng nó cho mở đầu một
phim mà tôi đang tìm kiếm ý tưởng.
***
Sau khi kiểm tra lại máy móc, đồ nghề lần cuối tôi
leo lên chiếc xe Citroen cà tàng mà ông Phú Văn mượn hay thuê của
ai đó, và tự mình cầm lái. Trên mặt kiếng trước của xe, ông
không quên dán chữ PRESS thật rõ. Chúng tôi lên đường đi Quảng
Trị. Tôi nhìn lên mặt đồng hồ: 13 giơ, 37 , ngày 17.5.1972.
Khi xe chạy qua cầu Trườøng Tiền, tôi chợt hiểu ra
một điều, có lẽ một trong những lý do thúc đẩy tôi nhận lời
theo ông Phú Văn ra đây, nó hoàn toàn không mang tính nghề nghiệp.
Tôi cứ tưởng tôi không quan tâm đến Huế, không muốn nhắc tới
Huế. Nhưng trong tâm thức tôi vẫn khát khao muốn nhìn lại Huế. Huế
vẫn là nỗi nhớ, là niềm đau trong lòng tôi. Những tà áo trắng
bay bay trong gió mỗi sáng mỗi chiều tôi đi qua trên đó thuở nào
đã luôn khuấy động tâm hồn tôi, chìm sâu trong vô thức.
Qua các ngả đường, ở đâu cũng thấy quán ăn,
tiệm nước, vẫn đông đúc người qua kẻ lại. Nhưng sao khuôn mặt
của Huế có vẻ như thất thần, mất máu. Xe chúng tôi chạy giữa con
đường thẳng tắp quen thuộc với hai hàng cây cao, cành lá xanh, hoa
phượng vỹ đỏ rực, mặt nước sông Hương loang loáng màu bạc
trắng. Tôi nhớ khi còn học ở Quốc Học, đã bao nhiêu lần tôi
lang thang trên con đường này, đứng dưới chân chiếc lư nhìn mưa
bay trên sông, phía sau là cầu Trườøng Tiền mờ mờ ảo ảo. Bây
giờ, cầu bị đánh sập đi mấy vài chưa kịp sửa, chiếc cầu mới
dựng lên, án ngữ mất tầm nhìn, như một bức tranh có một lỗ
hổng thật lớn. Tuổi trẻ của tôi cũng bị cuốn đi trong cơn lốc
củûa chiến tranh.
Tới An Lỗ, tôi bắt đầu cảm nhận được thế nào
là cái nắng nóng và những ngọn gió nồm nơi vùng đất khắc
nghiệt này quất lên da mặt rát bỏng. Mặt đường nhựa sáng loáng
như những vũng nước ảo giác giữa sa mạc, là đà bốc khói. Hai
bên đường chỉ có cát và cát, cây cối khô héo, hút tầm mắt
nhức nhối một màu bạc phếch, nghèo đói, khô cằn
Nhưng sao
dân chúng vẫn bám vào đây để sống, để hiện hữu. Cái gì đã
níu giữ họ? Vùng đất này không chỉ khắc nghiệt bởi thiên nhiên
nóng cháy, bởi giông bão cuồng nộ, mà còn hứng chịu nhiều hơn
bất cứ đâu lượng bom đạn của cuộc chiến tranh dai dẳng này.
Qua khỏi cầu Mỹ Chánh không xa, chúng tôi bị chận
lại bởi một trạm kiểm soát quân sự, do một toán cảnh sát và
quân cảnh phối hợp điều hành. Những cuộn rào kẽm gai chắn ngang
đường. Ông Phú Văn cho xe ngừng lại trước trạm, xuống xe, nói
với viên trung sĩ đứng giữa toán lính, tất cả đều đội nón
sắt, mang súng và đeo phù hiệu:
- Các ông có thể cho phép chúng tôi qua. Chúng tôi
là những người làm phim.
Viên trung sĩ nhìn ông Phú Văn, lắc đầu:
- Chúng tôi được lệnh không cho bất cứ một ai đi
qua đây, vì trước mặt là vùng chiến sự.
Giọng ông Phú Văn vẫn bình tĩnh:
- Dù biết là nguy hiểm, nhưng chúng tôi không thể
không đi.
Bất ngờ, một chiếc xe Jeep từ đằng sau chạy nhanh
tới và thắng lại rất gấp. Từ trên xe một trung úy quân cảnh,
người cao lớn, bước xuống, đưa mắt nhìn những thuộc cấp:
- Chuyện gì?
Viên trung sĩ quay về phía ông Phú Văn:
- Trình trung úy, ông này
Không đợi trung sĩ nói hết câu, ông Phú Văn bước
tới đưa giấy phép và thẻ báo chí cho viên trung úy. Anh ta cầm lên
đọc, đưa mắt nhìn ông Phú Văn như cân lượng đối tượng của
mình là ai, rồi nhìn về phía tôi đang ngồi trên xe. Xong anh ta quay lại
hỏi ông Phú Văn:
- Ông là đạo diễn Phú Văn?
- Vâng!
- Ông có biết trước mặt ông là một biển lửa?
- Tôi biết! Điều đó lại cần thiết cho công việc
của chúng tôi hơn là một vùng đất yên tĩnh.
- Nhưng ông không thể qua được!
Ông Văn làm ra vẻ ngạc nhiên:
- Tại sao? Với tư cách là một nhà báo tôi có
quyền đến bất cứ đâu.
Viên trung úy nhìn ông Phú Văn, mỉm cười:
- Tôi lập lại, ông không được phép đi qua đây!
Giọng ông Phú Văn có phần gay gắt:
- Tôi muốn biết lý do tại sao?
Viên trung úy vẫn từ tốn:
- Tôi không cần giải thích với ông.
- Trung úy có thể cho tôi đi qua hay buộc tôi phải nói
thẳng việc này với Tổng trưởng Hoàng Đức Nhã hoặc tướng
Trần Văn Trung, Tổng cục Chiến Tranh Chính Trị?
Viên trung úy cười khẩy:
- Ông muốn nói với ai, đó là quyền của ông! Ở
đây, tôi là người chịu trách nhiệm
- Trung úy dám cản trở
Làm như không nghe, viên trung úy thản nhiên đi thẳng
vào trạm gác, bỏ mặc ông Phú Văn với nỗi phẫn hận. Nhưng ông
cố đè nén cơn tức giận, mặt ông đỏ bừng, đôi chân ông run
run tưởng chừng đứng không vững. Ông hiểu không thể tranh luận,
hoặc viện bất cứ lý do gì để có thể thay đổi được quyết
định của viên trung úy. Ông lẳng lặng bước lên xe. Không nói một
lời nào, ông mở máy cho xe quay trở lại con đường cũ.
Viên trung úy nhìn xe ông Phú Văn vọt đi, mỉm cười
nói với đám thuộc cấp:
- Thật ra, chẳng có chỉ thị nào cấm cản ông ta hết,
nhưng nhìn cái bản mặït ông ta tao thấy ghét, làm khó chơi. Nhưng
với loại người như ông ta không gì cấm cản được đâu!
***
Đến một ngả ba, ông Phú Văn rẽ trái, chạy vào con
đường đất, lác đác một vài ngôi nhà tranh xiêu vẹo. Giọng ông
Văn vẫn chưa hết hậm hực:
- Hắn cứ tưởng hắn không cho phép thì tôi không
biết tìm đường đi tiếp sao? Chúng ta chỉ cần đi đường vòng rồi
bọc lại. Bọn chúng lấy đâu ra người để có thể kiểm soát tất
cả các ngả đường.
Khi xe đã trở lại trên đường quốc lộ, tôi xoay
người ra phía sau, mở va li sắt lấy chiếc camera cầm lên tay, gắn phim
vào máy, kiểm tra ống kính, rồi đặt máy lên đùi, một thói quen
cố hữu của tôi. Tôi có cảm giác oÂng Phú Văn đang quan sát hành
động của tôi, nhưng mắt ông vẫn hướng về phía trước, giữ
chặt tay lái:
- Tôi muốn hỏi điều gì thúc đẩy cậu chọn nghề quay
phim?
Không bất ngờ trước câu hỏi của ông Phú
Văn,tôi đáp:
- Tôi đã từng viết báo, nhưng rồi tôi cảm nhận
được rằng chữ viết không thể có sức mạnh bằng hình ảnh.
Ông Phú Văn im lặng một lát rồi nói, nhưng hình như
không để nói với tôi:
- Tôi không cần biết nghệ thuật có vĩnh cửu hay
không, nhưng ít ra sự hiện hữu của chính mình trong đời sống cũng
là điều quan trọng.
Theo hướng Bắc trên quốc lộ, tiếng bom đạn dội lại
càng lúc càng gần. Chạy được khoảng mười mấy cây số trong cái
nóng gắt, cháy bỏng của mùa hè, đã thấy xuất hiện những toán
người chân trần lũ lượt bồng bế, gồng gánh chạy ngược chiều,
đổ vào Huế, trốn khỏi nơi chiến sự tìm con đường sống.
Tôi nâng máy lên ngắm và bấm máy ghi nhận những
hình ảnh đang diễn ra trước mắt. Những hình ảnh gần như rất quen
thuộc đối với tôi. Tôi đã bắt gặp trên mọi nẻo đường,
những nơi chiến sự nổ ra. Nhưng đối với tôi, nỗi đau khổ của
những con người đang bỏû ruộng làng, nhà cửa đó trên nét mặt
như còn rất mới, rất riêng, và chắc chắn không ai giống ai, không
có nỗi đau nào giống nỗi đau nào. Trước những cảnh tượng đó,
tôi cứ luôn muốn ghi vào ống kính, mà thật ra nó đang ghi khắc
trong tận cùng trái tim dễ vỡ của tôi.
Đến một khúc quanh, chiếc xe đang chạy bỗng có tiếng
rít lên như xé màng nhĩ. Một quầng lửa đỏ chói bùng lên. Một
tiếng nổ long óc. Mặt đất chao đảo. Không gian méo lệch. Rồi cái
gì đó nóng bỏng, rực lửa, nhọn hoắt, và tung tóe đập vào mặt.
Trong phút chốc, tôi bị ném vào một khoảng trống tối đen và lơ
lửng, hoàn toàn không có khái niệm về thời gian, về cái sống,
cái chết..
Khi mở mắt ra, tôi vẫn còn cảm giác tức tức ở
ngực. Tấm kiếng trước mặt đã bị những mảnh bom phá vỡ. Quay
sang ông Phú Văn, tôi bắt gặp cái nhìn của ông về phía tôi. Tôi
lên tiếng trước:
- Ông có sao không?
Ông Văn mỉm cười gượng gạo, khuôn mặt có phần
nhợt nhạt nhưng vẫn toát ra một nghị lực đặc biệt. Điều đó
làm tôi cảm phục ông.
- Không! Còn cậu?
Tôi đưa tay vuốt lại mái tóc, rồi mỉm cười:
- Tôi còn nhiều nợ nần, nên không chết ở đây
được.
- Tốt! Để tôi khởi động xem thử xe có còn chạy
được nữa không. Nếu không trục trặc thì chúng ta đi tiếp.
***
Xe tiếp tục chạy về phía Hải Lăng, vượt qua trên
đoạn đường dài lỗ chỗ những hố bom, những xác người vương
vãi, những chiếc sọ trắng hếu vất vưởng. Bất ngờ ông Phú Văn
cho xe ngừng lại. Phía trước, ngay trên mặt đường nhựa có những
ụ cát như những chiếc nón, những nấm mồ, cách khoảng vài ba mét
một ụ, có đến mấy chục ụ. Tôi ngạc nhiên chưa hiểu chuyện gì.
Ông Phú Văn thản nhiên bước xuống xe và quay lại nói với tôi:
- Ở dưới những ụ cát đó có thể là mìn, hoặc
chỉ để nghi binh.
Tôi vẫn chưa hết ngạc nhiên:
- Mìn?
Ông Phú Văn không trả lời trực tiếp câu hỏi của
tôi:
- Bây giờ , cậu chuẩn bị đặt máy ở góc bên
dưới , ống kính chiếu thẳng về phía ụ cát cuối cùng. Khi nào tôi
ra hiệu quay thì cậu bấm nút tự động cho máy chạy là được.
Ông Phú Văn vừa nói dứt câu thì ở phía trước,
trên bầu trời xuất hiện khoảng mười mấy chiến đấu cơ gầm thét
bay lượn, tiếp theo là những tiếng nổ dữ dội, những cột khói
như những hìnhï nấm khổng lồ bốc cao, thật gần.
Ông Phú Văn lên tiếng thúc giục:
- Cậu làm nhanh lên !
Dù chưa hiểu ông muốn quay những gì, nhưng tôi lập
tức kéo cái va li sắt ra khỏi xe, vác lên vai nhảy xuống bờ, chạy
đến vị trí ông đã dặn, sắp đặt chân đứng, đặt máy quay, kiểm
tra ống kính. Khi mọi chuẩn bị coi như hoàn tất, tôi rút chai nước
uống một ngụm, rồi quay lại hỏi ông Phú Văn:
- Chúng ta sẽ quay gì đây, thưa ông?
Ông Phú Văn mỉm cười, nhìn thẳng vào mặt tôi:
- Không phải cậu muốn có những thước phim sống
động đó sao? Tuy nhiên, nghề của chúng ta cũng phụ thuộc vào ân
sủng của Thượng Đế. Không biết hôm nay chúng ta có may mắn không
đây?
Vừa nói ông vừa đến bên máy quay, đưa mắt nhìn
vào ống kính, hình như ông muốn kiểm tra lại máy móc lần cuối.
Tôi đang định nói với ông một điều gì đó mà chưa biết mở
lời như thế nào. Bất ngờ,ø phía cuối đường những âm thanh náo
loạn dội lại. Một chiếc xe khách, tôi nhìn kỹ nó giống như một
chiếc xe khách xuất hiện trên mặt đường, trên xe chất đầy
người, những người dân chạy loạn, có lẽ họ từ Hải Lăng
vào; ngoài những người ngồi chật cứng trên nóc, những người
khác đeo toòng teng vào thành xe và cánh cửa. Tôi hoảng hốt khi
nhận ra chiếc xe chạy thẳng về phía những ụ cát. Không kịp suy nghĩ,
tôi bỏ máy chạy về phía chiếc xe khách đang trườn tới, đưa hai
tay ngăn và hét lên:
- Ngừng lại! Ngừng lại! Nguy hiểm
Không nên
chạy qua đó!
Nhưng ông Phú Văn đã chạy theo, nắm tay tôi kéo
trở lại:
- Cậu làm gì vậy? Trách nhiệm của cậu là đứng sau
máy quay!
Tôi quắc mắt nhìn ông:
- Thế ai trách nhiệm về cái chết của những người
đi trên chuyến xe đó?
Ông Phú Văn giận dữ đấm thẳng vào mặt tôi một
cú đấm như trời giáng. Tôi đau đớn bật ngửa người, ngồi bệt
xuống, hai tay chống lên mặt cát bỏng, tê cứng không cử động
được.
Ông nhìn tôi, gằn giọng:
- Tôi trả lời câu hỏi của cậu đây. Trách nhiệm
về cái chết của những người đó, chắc chắn không phải là
trách nhiệm của tôi hay của cậu. Cậu đừng có ảo tưởng. Đó
là trách nhiệm của Thượng Đế, nếu cậu tin có Thượng Đế hay ít
ra là của hai phe đang đánh nhau kìa. Tôi không làm chính trị, cũng
không làm từ thiện. Tôi làm điều mà tôi yêu thích, đó là
nghệ thuật. Ít ra, trong cuộc đời tôi cũng có một công việc để
đeo đuổi, để tận tụy và tôi sẽ đi đến cùng mục đích của
tôi.
Nói xong, ông thản nhiên lùi lại bên máy quay, đưa
mắt vào ống kính điều chỉnh, rồi bấm lên nút tự động của máy,
ống kính vẫn chiếu thẳng về phía những ụ cát cuối cùng trên
đường nhựa.
Chiếc xe vẫn vô tình tiến tới, rồi những tiếng nổ
dữ dội liên tiếp vang lên, những tiếng la hét thất thanh. Tôi quay
lại, chiếc xe đò bị hất bắn lên, những xác người tung tóe văng
ra, máu tươi vung vãi.
Tôi nhắm nghiền đôi mắt không dám nhìn thêm cảnh
tượng bi thương đang diễn ra trước mắt. Ông Phú Văn vẫn kiên trì
và chăm chú bên máy quay. Tiếng máy vẫn chạy rè rè xoáy vào tai
tôi. Bình thường tôi yêu những âm thanh quen thuộc này lắm, bởi
vì nó là mơ ước, là khát vọng và là cuộc sống của tôi; nhưng
sao hôm nay nó làm tôi đau đớùn, phẫn nộ, đầu tôi căng nhức
như bị động kinh. Trong cơn hốt hoảng, trí óc tưởng như tê dại,
tôi cắm đầu chạy, bỏ mặc ông Phú Văn với những thước phim
của ông, một tác phẩm nghệ thuật đang hình thành.
Aùnh nắng chiều nhạt nhòa. Tiếng đạn bom vẫn tiếp
tục gầm thét. Đứng giữa cánh đồng cát trắng hoang vắng, chợt
nhớ đến đôi mắt nâu sậm và lời dặn dò của Maggie trước khi
lên đường, tôi ôm mặt khóc như một đứa trẻ bị bỏ rơi không
biết đường về nhà.
***
Khi tôi bước vào nhà hàng Continental, Maggie đã ngồi
sẵn chờ tôi ở đó tụ bao giờ. Nhìn thấy tôi, nàng đứng dậy,
đưa hai tay ôm chặt lấy tôi, như sợ vuột mất. Khuôn mặt nàng như
thể được chiếu sáng từ bên trong bởi một nguồn sáng có sức
cuốn hút kỳ diệu. Tôi có cảm giác chưa bao giờ nàng cảm thấy
hạnh phúc như lúc này. Maggie rưng rưng nước mắt:
- Cám ơn Thượng Đế đã trả anh về cho em.
Không đáp lại lời nàng, tôi hôn lên đôi mắt
của Maggie. Khi đã ngồi xuống ghế nệm dài, bên một cái bàn nhỏ,
Maggie đẩy tờ Washington Post đến trước mặt tôi, đưa tay chỉ
vào cột báo ở trang nhất, bên phải. Tôi cầm tờ báo lên, đọc
qua, bài viết hết lời khen ngợi cuốn phim, cũng như tài năng của
ông Phú Văn. Không ngạc nhiên, tôi đặt tờ báo xuống bàn.
Maggie nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng nàng nửa yêu
thương, nửa hờn trách:
- Em đã được mời xem phim. Cuốn phim đã cuốn hút
em, tạo ấn tượng rất mạnh đối với em và tất cả những người
cùng xem. Thật khủng khiếp! Em không tin nổi những hình ảnh đã quay
được. Nhưng em thắc mắc không biết làm cách nào các anh có thể
có được góc máy như thế, chiếc xe tung bổng lên khỏi mặt đất,
những đôi chân bị cắt ngang từ từ rơi xuống? Và tại sao anh vắng
mặt trong buổi chiếu ra mắt ?
Sự ân cần của nàng, sự dịu dàng của nàng khiến
tôi xúc động. Tôi nắm chặt lấy hai bàn tay xinh đẹp của Maggie và
muốn nói, nói tất cả, nhưng có cái gì đó đã làm tôi nghẹn ứ
cổ họng, nói không ra tiếng. Nhưng tôi vẫn cố gắng hết sức,
không kềm giữ được:
- Maggie, anh đã trở về đây, nhưng anh không có
thước phim nào trong tay để tặng em như anh đã mơ ước. Anh không
thể xây dựng tác phẩm của anh bằng chính nỗi đau của người
khác.
Maggie ngước lên nhìn thẳng vào tôi, mắt nàng long
lanh như sắp khóc. Bên ngoài, đường phố đã lên đèn, cơn mưa
bất chợt đổ ập xuống. Maggie và tôi nhìn nhau không nói. Bất ngờ
hai đứa bật dậy, nắm chặt lấy tay nhau hấp tấp bước ra khỏi nhà
hàng. Đường phố vắng tanh. Chúng tôi lặng lẽ đi trong cơn mưa tầm
tã
22.12.2002
VÕ PHÚ
Hai Người Bạn
Hắn dọn đến khu ký túc xá lúc năm giờ chiều,
giữa lúc nắng còn gắt. Sau khi dọn hết đồ đạc vào phòng, trời
vừa chụp tối. Mẹ hắn nhét vào túi hắn một cọc tiền, bà dặn
dò:
- Ở một mình ráng giữ gìn sức khỏe. Khi nào hết
tiền nhớ gọi về cho mẹ. Hãy chăm chỉ học hành, đừng lêu
lõng...
Hắn vâng vâng dạ dạ rồi tiễn bố mẹ ra chổ đậu
xe. Chờ cho chiếc xe rời khỏi hẳn, hắn lững thững trở về phòng.
Hắn thu xếp lại căn phòng. Nhìn qua, cảm thấy hài lòng, hắn mở
gói xôi nếp, định ăn, thì bạn hắn dọn đến.
Bạn hắn là họa sĩ, hắn chỉ biết có thế.
Bạn hắn chào:
- Hello. Tôi tên là Eric.
- Hi! Còn tôi, Hùng. Hân hạnh được... làm bạn chung
phòng.
Nói xong, cả hai cùng cười.
Hắn phụ Eric bưng đồ vào phòng. Hắn đưa mắt nhìn
quanh căn phòng, chợt dừng lại chiếc giường chồng. Lúc nãy, khi
dọn vào, quá vui, vì lần đầu xa nhà, nên hắn quên mất là phòng
này có hai người ở. Ngoài hắn ra còn có Eric, thằng bạn họa sĩ,
mà hắn biết được khi đọc tập hồ sơ sinh viên. Hắn chỉ biết bạn
hắn là họa sĩ, chỉ có thế.
Hắn nhìn Eric, rồi căn phòng, lần nữa. Trong đầu hắn
đang làm một bài toán nhanh để xếp căn phòng cho gọn lại, hầu tìm
chổ tách cái giường chồng ra. Nhưng, hắn vô kế khả thi.
Trường hắn học nằm trong khu vực thành phố. Căn
phòng ký túc xá của hắn nhỏ bằng cái lổ mũi, vậy mà tới hai
đứa ở.
Hắn suy nghĩ hoài, nhưng không cách nào thực hiện
được ý định tách đôi chiếc giường. Hắn hỏi bạn:
- Eric, mày nghĩ sao khi chúng ta đem cái giường này
xuống?
- Nhưng chổ đâu để?
- Chẳng biết. Thôi thì để vậy. Mày muốn ngủ trên
hay dưới?
- Ở dưới.
- Tao thích ở trên.
- Vậy, okay! Deal!
Bạn hắn là họa sĩ, hắn chỉ biết có thế.
Thằng bạn họa sĩ của hắn khác thường. Cũng có lẽ
là hắn khác thường!
Hắn nghe nhiều người nói họa sĩ thường là những
người khùng khùng điên điên, nhưng hắn có bao giờ tiếp xúc
với những con người "khùng-khùng-điên-điên" họa sĩ kia?
Bạn hắn là họa sĩ, hắn chỉ biết có thế.
Eric thích ăn đồ ăn của chó. Eric không ăn cơm phần
của ký túc xá. Eric chê cơm nhạt nhẽo thua cả đồ ăn của chó.
Có một lần Eric mời hắn:
- Hê Hùng, muốn thử đồ hộp không?
Hắn cười, lắc đầu:
- Đồ ăn của chó tao không dám ăn.
- Thử đi, ngon lắm.
Dù thằng bạn họa sĩ của hắn có chiêu dụ cách nào
đi nữa, nhất quyết hắn chẳng chịu ăn đồ ăn của chó.
Eric lẩm bẩm:
- Chó có gì đáng sợ? Chó nhiều khi có tình hơn cả
người. Chó là bạn của nhân loại. "Dogs are men best friends."
Chó đâu biết lọc lừa, dối trá, chó đâu biết làm chính trị?
Hắn lắc đầu, hắn buông ra một câu bằng tiếng Việt:
- Đúng là....họa sĩ ĐIÊN.
Eric không hiểu, hỏi lại:
- Mày nói gì vậy?
- Không gì.
Bạn hắn là họa sĩ, hắn chỉ biết có thế.
Hắn chẳng bao giờ thấy thằng bạn họa sĩ cầm quyển
sách để đọc hay để làm bài tập như mọi sinh viên khác. Có lần
vui miệng, hắn hỏi:
- Ê, Eric, học như mày sướng thật đó.
Thằng bạn họa sĩ cười, chẳng trả lời. Thấy vậy,
hắn hỏi tiếp:
- Mày học vẽ, vậy có khi nào vẽ khỏa thân chưa?
- Có chứ.
- Có khoái không?
- Cũng tùy. Nhiều lúc thì thích lắm, nếu gặp những
con trẻ đẹp và thơm. Còn hôm nào ông thầy mướn mấy thằng con
trai hay mấy mụ già về là... chán ngắt.
Suy nghĩ một hồi, Eric tiếp:
- Có lần từ đâu ông thầy mướn về một mụ già
làm mẫu. Mà mầy biết đấy, mụ già thì có đẹp bao giờ. Bụng
của mụ ấy chảy xệ xuống tới mông. Da thì nhăn-đùn cả đống
còn tệ hơn cả da Hà Mã. Khi mụ khỏa thân, thấy lợm cả người,
vậy mà cũng đành mở mắt trao tráo ra để vẽ mụ. Tội cho mấy
đứa đứng gần đấy. Đứng gần ngưởi mùi từ chổ kín mụ tiết
ra, thúi muốn mửa.
Kể xong, Eric lắc đầu, như cố xua đuổi hình bóng của
bà già làm mẫu đó đi. Còn hắn thì ôm bụng cười. Hắn cười
đến độ nước mắt trào ra.
Bạn hắn là họa sĩ, hắn chỉ biết có thế.
Cả tuần nay hắn chẳng thấy Eric ăn gì. Eric chỉ uống
nước. Hắn thấy lạ, hỏi:
- Cả tuần nay sao tao không thấy mày đi ăn?
- Đồ ăn ở trường chán ngắt, thua cả đồ ăn của
chó.
- Vậy sao mày không ăn đồ ăn chó?
- Hết bà nó rồi.
- Thì đi mua.
- Hết tiền.
- Sao không nói, tao có nè. Cho mày mượn.
- Tao không thích mượn. Cám ơn mày. Yên trí đi, ngày
mai vẽ xong tấm hình này là sẽ có tiền ăn.
Vừa nói Eric vừa vuốt vuốt cái bụng rồi nuốc
nước bọt cái ực. Hôm sau, Eric khiêng về cả một thùng đồ ăn
của chó. Eric nói với hắn:
- Hôm nay tao bán bức tranh được hai trăm. Mua hết
trăm bạc tiền cọ, sơn, và giấy. Còn nhiêu đổ vô đống đồ này.
- Sao mày không để dành?
- Dành làm gì? Chết cũng chẳng mang theo, được. Có
thì sài cho hết chứ.
- Ở đây thì không có, chứ ở nước tao, hay ở
Tàu, khi chết người ta cho tiền vào miệng để hối lộ qua cửa
khẩu.
- Tụi mày có điên không? Chết còn mang theo tiền?
- Mày điên thì có.
Chắc cả hai đều điên như nhau, có lẽ thế.
Bạn hắn là họa sĩ, hắn chỉ biết có thế.
Hắn đi học về, mở cửa phòng, hắn thấy Eric ngồi
trong phòng nghe nhạc. Thấy hắn, Eric hỏi:
- Ngày mai mày rảnh không?
- Rảnh, có chuyện gì vậy?
- Đi coi sexy!
- Tao không đi.
- Mày gay hả? Sao không đi coi sexy?
- Tao không phải. Nhưng tao thấy không đúng khi coi họ
cỏi truồng.
- Đúng là đạo đức giã. Cỏi truồng mà không chịu
coi. Hay mày sợ coi rồi không chịu nổi?
Hắn im lặng, không trả lời. Có lẽ Eric nói đúng
một phần nào về con người hắn. Hắn biết đi coi vũ sexy cũng không
gì là thái quá, nhưng đầu óc phong kiến của hắn vẫn còn nặng,
nên hắn không thể chấp nhận. Những bài học vỡ lòng về đạo
đức, Khổng Tử, Lão Tử, làm hắn e dè. Phải chi hắn đừng học
và đừng biết về Khổng/Lão Tử thì có lẽ hắn sẽ vui vẻ đi xem.
Thấy hắn có vẽ suy nghĩ, Eric hỏi:
- Vậy mày không đi coi sexy phải không?
- Không đi. Mày đi chơi vui vẻ.
- Cám ơn. Chắc chắn là vui rồi. Đâu như mày...
Bạn hắn là họa sĩ, hắn chỉ biết có thế.
Mùa đông năm đó, có bão tuyết. Bông tuyết to như
những muối bông gòn rãi xuống mặt đường. Thoáng chốc mà đã
ngập cả đám cỏ trước sân, phủ luôn lối đi. Thằng bạn họa sĩ
của hắn phán:
- Thế nào ngày mai trường cũng cho nghỉ.
Mà quả thật vậy, trường cho nghỉ. Không đi học, ở
trong phòng chẳng làm gì, hắn lấy sách ra đọc. Hắn trèo lên
giường, rồi trùm mền đọc. Đó là cái thú của hắn mỗi khi mùa
đông đến.
Eric hỏi:
- Mày đang làm gì đó?
- Tao đọc sách.
- Rõ chán! Sách có gì đáng đọc.
- Sách cho ta nhiều thứ để học hỏi. Nói như mày
vậy mày đi học để làm gì?
- Đi học để kiếm gái.
- Gái thì đâu cần phảo vô trường. Và, họa sĩ thì
đâu cần học. Tao chẳng nghĩ họa sĩ chẳng nên đi học bao giờ.
- Ừ... Nhưng đi học dễ kiếm gái và kiếm tiền hơn.
Bạn hắn là họa sĩ, hắn chỉ biết có thế.
*
Hắn chiêm bao thấy mình cùng gia đình vượt biển trên
chiếc ghe bầu. Những con sóng phủ đầu đánh vào mạng ghe ầm ầm
làm cho chiếc ghe lắc lư. Hắn cảm thấy sợ hãi.
Giật mình, hắn thức giấc.
Chiếc giường hắn ngủ rung lên từng nhịp như sóng
vỗ. Hắn nghe tiếng thở phì phò và tiếng nhớp nhép trong đêm
đông thanh vắng. Hắn mỉm cười và chợt hiểu ra thằng bạn họa sĩ
nằm bên dưới là nguyên nhân gây ra nhịp sóng đó. Hắn đưa mắt
nhìn đồng hồ, ánh dạ quang của cây kim chỉ đúng hai giờ sáng. Hắn
chửi thầm:
- Họa sĩ điên, rõ chán.
Hắn cố dỗ giấc ngủ, nhưng không tài nào ngủ
được. Những âm thanh quái ác nghe chem chép cứ liên tục đánh
vào tai hắn. Còn cái giường thì rung lên từng đợt theo nhịp của
thằng bạn họa sĩ. Hạ bộ hắn tưng tức khó chịu. Hắn cố gắng nín
thở.
Hắn chịu hết nổi, đành leo xuống giường. Thằng bạn
họa sĩ hỏi:
- Tụi tao làm ồn mày ngủ không được à?
- Ừ. Tao phải đi tiểu.
- Sorry mày. Nếu ngủ không được thì nhập cuộc với
tụi tao cho vui? Muốn không?
- Thôi đi, cho tao xin.
- Mày đúng là thằng gay.
- Không nói chuyện với mày. Tao đi tiểu.
Khi trở về, Eric vẫn còn hì hục trên bụng người con
gái.
Hắn đóng cửa phòng, bỏ ra ngoài. Hắn trốn chạy.
Đầu hắn lùng bùng, náo loạn. Hắn muốn xóa đi hết những hình
ảnh, âm thanh của dục vọng, nhưng hắn không thể. Hắn cố cố nghĩ
đến những lời lẽ của Khổng/Lão Tử, những lời răn dạy của
thánh nhân để xa lánh những gì mà hắn nghĩ trái với luân
thường đạo lý. Nhưng hắn hoài công. Luân thường, đạo lý, lẽ
phải,... khi đối diện với tình dục, thể xác của tuổi sung sức như
hắn có lẽ vô ích. Những hình ảnh lăn lộn, gào thét, của khoái
lại luôn nhảy múa trong đầu hắn, xóa mờ đi cả những Khổng/Lão
mà hắn được học từ sách vỡ.
Hắn lầm lủi đi trong đêm. Cái lạnh của mùa đông,
của tuyết lùa vào, hắn chợt nhớ ra quên đem theo áo ấm.
Võ Phú
MCV 10.27.03
NGUYỄN TRUNG TÂY
con sâu, con nhộng,
và con bướm
con sâu
Vậy là con sâu chuyển mình, nóng sốt. Thế là con sâu
nằm trong kén, ốm nặng. Năm nào cũng vậy, con sâu phải dính một
trận cúm nặng, phải ho nát gan nát phổi, phải hỉ ra bao nhiêu mầu
xanh xanh, phải đổi giọng mất tiếng nói khoảng một hoặc hai tuần
lễ.
Hồi mới sinh ra, con đầu lòng thiếu tháng, nó bị
nhốt trong lồng kiếng gần hai tuần. Sau một năm nó cao lớn bình
thường như những đứa trẻ một tuổi, nhưng hay đau ốm cảm cúm
xụt xùi vào mùa đông. Ba nó nói tại cục A-mi-đan ở cổ; trời
lạnh cục thịt dư sưng lên; thế là đau. Năm nay nó lại cúm. Không
biết nó bị cảm lạnh là tại cục thịt dư như lời ba nó nói, hay
tại những con vi khuẩn cảm cúm bay ngập tràn trong căn phòng kiếng
của hãng, hay tại tối hôm thứ Tư vừa rồi, trời lạnh, nó đứng
ngoài sân nhà hút thuốc.
Nó hút thuốc cũng khá lâu rồi. Có lẽ từ hồi
trung học. Tại áp lực của bạn bè? Chắc vậy. Má nó ghét thuốc
lá. Ba nó không hút. Ngũ quỷ, bốn đứa em trai cũng không. Con em
út, con gái còn nhỏ không tính. Từ lớp Mẫu Giáo cho tới Lớp
Mười Một nó chưa bao giờ đụng tới điếu thuốc nói chi đến
chuyện hút. Một lần hồi còn nhỏ theo ba má về Việt Nam thăm họ
hàng, nó thấy người Việt Nam hút thuốc khắp nơi, miệng hôi thật
hôi! Nhăn trán, bịt mũi, nó kêu hôi quá khi người ta thả khói
thuốc vào mặt nó! Họ hàng thì thào,
- Thằng Mỹ con này khó tính như quỷ.
Có một lần mấy thằng bạn lớp Mười Một đè nó
ra, nhét thuốc cháy đỏ vào miệng. Mấy thằng còn lại thọt lét
nó. Nó cười sặc sụa, hít vào. Cuối tuần nó hay la cà tại những
quán bi-da với mấy đứa bạn. Quán bi-da nào cũng vậy, khói thuốc
bốc cao ngập trần nhà. Bạn nó bên bàn bi-da, con gái cũng như con
trai, đứa nào cũng hút thuốc. Mấy con nhỏ nhìn nó, ánh mắt khinh
bỉ. Có cô cười nhếch mép,
- Nếu mày không hút thuốc, tới đây làm chi? Sao không lên San
Francisco mà thục bi-da?
Nó đỏ bừng bừng như mặt trời ửng hồng mùa hè. Tự ái con
trai tổn thương nặng nề. Cuối cùng nó cầm điếu thuốc đưa lên
miệng. Giờ này đã hơn mười năm, hút không ngừng, hút liên
tục, hút không cho lá phổi nghỉ ngơi dù chỉ là một ngày. Sáng,
mở mắt ra, hai điếu. Tối, nhắm mắt lại, hai điếu. Trong ngày tùy
hứng, nếu hứng, đốt hết hơn một gói; không hứng, xấp xỉ khoảng
một bao.
Cô bạn gái đầu tiên thời trung học, sinh nhật nào
của nó cũng mua tặng nguyên cây thuốc Malboro đỏ hộp cứng, gói
chung với cái áo sơ-mi cổ 15ơ có hai cúc, tay 30/32. Hai đứa hôn
nhau, cô thì thào nói không có mùi thuốc Malboro, em có cảm tưởng
hôn người khác. Nó nhìn, nhăn mặt, hỏi ai? Chuyện tình chó con,
bởi hai đứa cuối cùng cũng bỏ nhau. Giờ cô ta bán bảo hiểm. Có
một lần nó gặp người tình cũ đi trên phố với chồng với con.
Thằng con có nét mặt của thằng bố. Nó thắc mắc không biết nếu
hai đứa lấy nhau, đứa con sẽ giống ai. Nó thắc mắc không biết
người chồng của người tình xưa có hút thuốc hay không. Len lén đi
theo một hồi, nó tới gần chào hỏi, móc thuốc mời. Người chồng
lắc đầu nói tôi không hút thuốc. Kéo đứa con tránh sang một
bên, người tình ngày xưa nhăn mặt nhìn người tình cũ phun khói
thuốc mịt mù. Tối đó nó thắp nhang vái tám phương tứ hướng,
cúng giải oan cho một chuyện tình.
Cô bạn hồi đại học không hút thuốc, nhưng học xong
hai đứa dẫn nhau đi ăn. Thấy nó hút, cô hút theo. Nó trợn mắt,
khùng hả? Sang năm thứ ba, không một lời giã từ, cô ta đổi
trường đại học. Mùa Giáng Sinh gặp người tình âu yếm một
người thanh niên mặt trắng đeo kính trong tiệm ăn, nó ghé lại bàn
hỏi chuyện. Mời thuốc, tình nhân không hút mặt lạnh lùng xa vắng.
Tối đó nó về nhà hút hết một gói. Ánh sáng trời cao rọi sáng
tâm hồn tối đen, nó hiểu nhiều hơn về tình yêu. Nó nhớ lại
truyện cổ tích thời Hồng Bàng. Nó hiểu tại sao Thủy Tinh dâng
nước đòi Mỵ Nương. Nó, nó không dâng nước, nhưng đi kiếm Mỵ
Nương khác.
Người thứ ba đặc biệt hơn. Cô nói,
- Anh muốn hút thì cứ tự nhiên. Nhưng nếu có
chuyện xảy đến với anh bởi thuốc lá, em đi kiếm người khác, coi
anh như một dĩ vãng.
Nó ngạc nhiên,
- Nếu anh chết vì lý do khác? Thí dụ
bị mấy
người khùng căn me bắn sẻ ngoài đường phố. Hoặc
anh bị xe
đụng?
- Em sẽ ở vậy thờ anh cả đời.
- Em ghét thuốc lá đến cỡ đó hay sao?
Rồi cuối cùng người ta cũng đi mất. Người ta bỏ
nó hơn một tháng rồi. Hãng thuốc lá và hãng rượu kiếm thêm
được bao nhiêu tiền trong vòng gần một tuần lễ.
Càng ngày người Hoa Kỳ càng chủ trương bài trừ
thuốc lá. Mọi nơi người ta cấm hút thuốc. Khắp nơi người ta đối
xử với dân hút thuốc như công dân hạng hai trong xã hội. Bao
nhiêu đại phi trường quốc tế trên đất Hiệp Chủng Quốc dẹp bỏ
Phòng Hút Thuốc. Bình thường thì cũng không sao, nhưng sau biến cố
ngày 11 tháng 9 để hút được một điếu thuốc trong khi ngồi chờ
đợi tại phi trường, nó phải vượt qua bao nhiêu hàng rào lính vũ
trang ngập tới miệng. Hút xong hai điếu bên ngoài cửa phi trường,
nó lại phải cởi giầy, cởi áo khoác, cởi thắt lưng, quần trễ
tới rốn, cởi đồng hồ, móc bóp ra trình bằng lái xe, vượt cạn
một mình qua hàng rào nhân viên an ninh dầy đặc như kiến đen. Thoát
qua được khung cửa dò kim khí có hình dạng như máy chém thời Tây
thuộc địa, nó hoàn hồn sờ lại cổ, loay hoay buộc lại dây giầy,
mặc lại áo khoác, thắt lại giây lưng, đeo lại đồng hồ, cất bằng
lái xe vào lại trong bóp. Mỗi một lần bay, lại thêm một lần nó
có thêm nhiều lý do để ghét bỏ Osama bin Ladin. Trong hãng, nơi nó
đang làm, tự dưng người ta dẹp bỏ Phòng Hút Thuốc. Thế là cả
đám con cái của rồng phun khói phun lửa phải dẫn nhau ra đứng ngồi
ngoài trời. Mùa hè thì cũng không sao. Gặp lúc trời lạnh, tuyết
đổ, hút được một điếu thuốc cũng thấy nhọc nhằn. Có lần đang
đứng phì phèo trong giờ giải lao, xếp đi ngang qua. Nhìn thấy nó,
xếp khinh bỉ nói,
- Không biết mắc cở hay sao?
Nó tính cãi xếp ơi, em hút thuốc hay không thì có
liên can chi đến ai. Em hút, em đứng nơi công cộng. Em không trốn
trong phòng lén lút uống rượu uống bia. Em không nấp trong xó nhà
len lén coi phim nhà nghèo. Em không dối vợ trốn con chui lên Las Vegas
cờ bạc đỏ đen, bán nhà bán cửa. Nhưng nhớ lại thân phận bọt
bèo của mình, nó cười gượng gạo. Cơ hội rồi cũng tới. Có hai
ba lần, bị mấy người dưng nước lã tỉnh bơ lên lớp về vụ hút
thuốc, nó cười nhếch mép,
- Cám ơn. Ba má tôi còn sống đầy đủ.
Thế là lặng yên. Thế là hết chuyện. Nhưng kỳ thị
dân hút thuốc không phải là nguyên nhân chính khiến con sâu muốn
nhả tơ làm kén.
Càng ngày thuốc lá càng mắc. Chính phủ Mỹ chơi ác,
nâng cao tiền thuế thuốc lá, nại cớ lấy tiền đó chữa bệnh ung
thư phổi và những bệnh hiểm nghèo liên quan đến khói thuốc. Mỗi
ngày nó tốn khoảng 5 đô la xanh lè cho 20 điếu thuốc đốt cháy hai
lá phổi. Làm một con toán nhân đơn giản, một tháng nó phải xuất
ra trên dưới 150 đô la cho mây cho khói. Nhưng tiền bạc cũng không
phải là nguyên nhân chính khiến nó muốn trở thành con nhộng.
Càng ngày sức khỏe của nó càng tệ đi. Năm vừa
rồi nó đau hai lần trong vòng một năm. Mùa thu cảm. Mùa xuân cúm.
Cách đây hơn ba tuần, trời cuối tháng 10 trở lạnh, nó ho, ho liên
tục trong vòng ba ngày. Ngày thứ tư nó ho văng ra một cục nho nhỏ
mầu vàng bằng khoảng đầu đũa, mùi hôi hôi. Ngày thứ năm nó ho
ra máu. Cục đàm bay ra để lại hai mầu trên miếng giấy lau tay, một
mầu xanh xanh, một mầu đỏ tươi. Nó nóng lạnh nhìn bức tranh lập
thể hai mầu. Nó không biết tại phổi của nó lủng lỗ chỗ như tổ
ong hay tại vì ho, cổ họng xây xát đổ máu đỏ. Nó nghĩ tới bác
sỹ, tới nhà thương, tới ung thư phổi, tới những ống những giây
lòng thòng quấn quanh người. Nó liên tưởng tới giường bệnh
trải khăn trắng. Có thể nó sẽ bị ung thư cổ. Người ta sẽ đục
cổ nó, nhét vào một cái còi để nó nói giống như ông bố của
thằng bạn. Ông ta hút thuốc hơn ba mươi năm rồi. Giờ này ung thư
cổ. Tàn đời. Ngồi trên xe lăn, muốn gì, ông bóp cái còi ngay
cổ. Kèn kêu toe toe, thằng bạn chạy lại, đổ bô thay tã. Tối hôm
đó nó mơ bị ung thư cổ, ho ra một đống máu rồi bất tỉnh. Tưởng
nó chết, người ta khiêng xác quẳng vào hòm. Kèn vướng trên cổ,
nó nói không được. Nó bóp kèn. Kèn kêu toe toe. Người ta đậy
nắp lại. Tiếng đinh tiếng búa đóng nắp hòm vang dội che lấp tiếng
kèn. Nó ngộp thở. Vùng dậy, nó tỉnh cơn ác mộng. Người nó
lạnh toát, da nổi sần sượng, trán đổ mồ hôi. Hơn mười năm
rồi hút thuốc. Cục đàm xanh lè đỏ tươi sáng nay chạy đuổi sâu
vào trong giấc ngủ. Nó sợ! Nó nghĩ tới việc bỏ thuốc. Nó nghĩ
tới hình ảnh của con nhộng. Chui vào tổ kén, nhộng chết đi đợi
chờ một ngày mới. Ngày đó nhộng sống lại, cắn rách kén, chui ra
làm bướm.
Nhưng nó vẫn không dám chắc cục đàm xanh lè vương
máu đỏ là nguyên nhân chính khiến con sâu muốn chuyển mình biến
thành con nhộng.
con nhộng
Tối thứ Tư giữa tháng 11, cơ hội để con sâu biến thành con nhộng
đã tới. Bà chủ nhà dáng thướt tha, khó tính, không cho người
mướn phòng hút thuốc trong nhà, ngay cả trong căn phòng riêng tư
của nó, căn phòng 350 đô la một tháng bao điện nước. Chiều hôm
đó nó về tới nhà trễ sau khi xếp gãi tai, cười tươi với hai
mươi mấy đứa nhân viên. Cả đám phải ngồi lại trong hãng làm
thêm sáu tiếng. Về tới nhà, nó đứng sau sân vườn dưới mái
hiên chơi luôn hai điếu thuốc. Khói thuốc nồng nàn thấm sâu vào
từng tế bào hai buồng phổi. Khói quyện tròn hòa tan trong máu.
Người lâng lâng bay bổng. Trời tháng 11, gió thu thổi xôn xao, gió
bấc thổi ớn lạnh. Nó ngứa mũi, ắt xì liên tục! Di di tàn thuốc
dưới chân, nó bỏ vô nhà, chui lên giường nhắm mắt, ngủ thẳng
một mạch.
Sáng thứ Năm, nó choàng dậy, căn phòng lạnh ngắt.
Nó hắt hơi liên tục. Ắt xì! Ắt xì! Ắt xi! Mười cái ắt xì đều
đặn. Mỗi lần ắt xì cách nhau khoảng 5 giây. Ba lần đầu chưa có
chi. Lần thứ tư ớn lạnh trong người. Thêm một lần ắt xì, thêm
một lần ớn lạnh. Nó nghĩ chắc mình sẽ bị cảm. Rửa mặt, mặc
quần áo, nó đề máy nhập vào dòng xe cộ đỏ chóe trên xa lộ.
Tới giờ ăn trưa, mắt nó hoa lên, người nóng sốt. Xếp cai nhìn
nó,
- Mày có sao không? Sao mặt mày xanh lè vậy?
Mặt xanh lè? Người đang nóng ran như than hồng BBQ, sao
mặt lại xanh lè được? Mua dĩa cơm, nhưng nó ăn không hết, bởi
lưỡi và cổ đắng nghét. 3 giờ chiều, nó hy vọng xếp đừng nhăn
nhăn mặt, đừng lởn vởn đi tới đi lui, đừng gãi tai, đừng
cười cầu viện với nhân viên giống như ngày hôm qua. Giờ này
tiền bạc chỉ là mảnh giấy vụn. Giờ này nó chỉ muốn được nằm
dài trên giường. 3 giờ 30, nó đứng dậy. Về tới nhà, len lén
vặn vòi hoa sen nước nóng phòng tắm lên hết cỡ, nó tắm hơi.
Tính nhờ bà chủ cạo gió, nhưng nhớ ông chủ nhà mặt mày bậm
trợn, có tính ghen; thôi, né đi; không nên chơi dại! Ăn mì, mì
không hương không vị. Đổ một nửa tô mì vào thùng rác, nó ra
sân nhà đốt thuốc, nhưng miệng sao nhạt phèo. Hơi thuốc vô vị,
đắng, nhạt nhẽo như nước cháo nguội. Có lẽ đau nặng, chắc gà
toi rồi. Hút không hết điếu thuốc, nó thở dài nhìn đầu lửa
đỏ và khói thuốc đang dần dần tan loãng vào trong thinh không. Di di
điếu thuốc dưới chân, nó bỏ vô phòng. Trước khi leo lên
giường ngủ, nó uống hai viên thuốc cảm.
Sáng thứ Sáu, nó gục luôn. Nằm trên giường, nó
gọi vào trong hãng nói xếp ơi, em bị cúm! Nói xong, nó chìm vào
giấc ngủ nặng nề. Bà chủ nhà gõ cửa,
- Tui thấy xe chú còn đậu trong sân... Chú đau hả?
Mặt sao xanh lét vậy? Ăn cháo không? Tui nấu. Hay là để tui cạo gió
cho.
Nó nhìn người đàn bà. Giờ này ông chồng đi làm,
mấy đứa con đi học. Bà chủ hình như mới ngủ dậy. Chắc không
phải, bởi tóc tai chải gọn gàng như thế kia. Nghĩ tới ông chủ
nhà bắp thịt nở nang, tập tạ đều đặn, cuối tuần hay sách súng
đi săn, nó quyết định nhắm mắt lại,
- Tôi không sao! Cám ơn bà chủ.
Nguyên một ngày, nó nằm trong phòng liệt giường
liệt chiếu, không ăn uống chi. Ngày đầu tiên trong cuộc đời, nó
không hút một điếu thuốc. Người nóng sốt. Mũi tắc nghẹn! Cổ
đắng nghét! Tai lùng bùng! Siêu vi khuẩn cảm cúm kéo mền che nó
kín mít từ đầu tới chân. Vicks DayQuil ru nó ngủ li bì. Mở mắt ra,
gần 3 giờ chiều, lưỡi khô ran.
Nó nghĩ tới điếu thuốc. Nó nhìn lên bàn, gói thuốc Malboro đỏ
hộp cứng đang nằm chờ đợi. Nó ho, ho liên tục, ho từng hồi, ho
rách trời. Nó nhớ tới lần ho ra máu, mầu máu đỏ tươi vẫn còn
đỏ đậm trong đầu như mầu đỏ của gói thuốc Malboro. Nó nghĩ tới
ung thư phổi. Tóc rụng xơ xác, da bủng xanh xao, thân thể gầy còm,
cổ co rút lại tương tự dân chết đói năm Ất Dậu 45. Nó nghĩ
tới ung thư cuống họng với cái kèn thổi toe toe. Nó nghĩ về sức
khỏe. Năm nào cũng bị cúm bị cảm. Nó nghĩ về ba người con gái
đã đi ngang qua cuộc đời, đặc biệt là người thứ ba. Nó quyết
định cầm gói thuốc lên. Mở cửa phòng, nó lê những bước chân
chầm chậm ra nhà bếp, những bước chân hụt hẫng trên mây trên
khói. Nó nhìn ra ngoài cửa sổ, nắng vàng mùa thu xanh xao bệnh hoạn.
Nó bước tới, quẳng gói thuốc vào trong thùng rác, miệng nói,
- Vĩnh biệt người tình.
Bà chủ nhà đang nấu cơm, nhìn nó,
- Chú đỡ chưa!
Thấy dáng điệu của người thuê phòng, người đàn bà tiếp tục,
- Mặt chú xám đen à. Để tui cạo gió cho.
- Cám ơn bà chủ.
- Hay để tui nấu cháo nhé. Cả ngày hôm nay chú đã ăn chi
đâu.
- Cám ơn. Nhà còn nước cam không bà chủ?
Bà chủ mở tủ lạnh, lấy bình nước cam đưa cho nó.
- Chú cầm lấy mang về phòng đi. Chút nữa tui ra chợ mua thêm.
Nó cầm lấy bình nước cam đi thẳng về phòng. Nó uống thuốc cúm
với nước cam. Thuốc ngủ của Vicks DayQuil thấm tan trong máu; máu đưa
thuốc ngủ lên đầu; đầu chằng chịt giây thần kinh; giây thần kinh
giật chuông gõ trống toàn thân; toàn thân tê tê như bị điện
giật. Cứ thế nhộng mơ màng, tiếp tục chết đi trong kén.
Ngày thứ Bẩy, sáng sớm nó thức dậy. Nhìn qua cửa sổ, tuyết
mỏng manh đầu mùa bay nhè nhẹ ngoài trời phản chiếu ánh sáng
vàng vọt của đèn đường. Mỏi mệt, nó nhìn lên bàn. Gói thuốc
Malboro đỏ đã biến mất. Nó nhớ lại tối thứ Năm, biết là đau,
thế mà vẫn còn hút thuốc. Nó chép miệng thở dài, không đau
nặng cũng uổng đời. Nó nhớ lại chiều hôm qua đã mang gói thuốc
đỏ ra chôn sống trong thùng rác của nhà bếp. Nó trằn trọc trên
giường, đầu óc liên tưởng tới gói thuốc đỏ tươi đầu lọc
thơm mùi thuốc lá. Nó nuốt nước miếng, chui ra khỏi giường. Nó
nhón gót đi ra nhà bếp, mở thùng rác tìm kiếm. Bà chủ nhà đã
thay bao rác mới. Như vậy gói thuốc của nó phải nằm bên ngoài
sân nhà. Vén rèm cửa nhìn ra. Những bao rác nằm xếp lớp bên
ngoài đã biến mất. Thôi rồi, sáng nay, sáng thứ Bẩy, Sở Vệ Sinh
đã tới nhà hốt rác mang đi. Nó nghĩ tới tiệm tạp hóa 7-Eleven
đầu đường mở cửa cả ngày. Nó nghĩ tới cục đàm xanh có máu
đỏ trên miếng giấy lau tay mầu trắng. Nó nghĩ tới cái kèn thổi
toe toe. Nó nghĩ tới người con gái đã đi vào cuộc đời của nó.
Tự ái con trai nổi lên, nó cảm thấy mình hèn! Nó bỏ đi thẳng về
phòng. Đồng hồ đỏ tươi con số 5:00.
Năm giờ sáng rồi.
Đã hơn một ngày chất ni-cô-tin không còn được bơm vào người.
Hai ngày rồi nó không ăn một hột cơm. Nó lại đi ra nhà bếp. Bây
giờ nó mới nhận ra đôi chân run run như đôi chân cò hương khẳng
khiu. Người phất phơ như đang đi với gió với mây, như bị điện
giật tưng tưng. Nó không hiểu tại sao lại tưng tưng? Tại thuốc Vicks
DayQuil hay tại ni-cô-tin đang dẫy dụa gào thét trong từng mạch máu?
Nó đổ nước nóng vào tô mì. Hơi nóng quyện vào hương mì bay tỏa
lên mũi. Nó ngửi được mùi mì thơm, vị hành khô nồng nàn.
Đợi thêm ba phút nữa, nó nhấc đôi tay lên, đôi tay run run như
đôi chân xiêu vẹo. Nó lọng cọng, loay hoay, sửa tới sửa lui đôi
đũa như người mới biết cầm đũa, rồi đẩy thẳng những sợi mì
vào hai lỗ mũi!
con bướm
Ngày Chúa Nhật, nó mở mắt ra. Nắng bình minh của ngày cuối tuần
rực rỡ chiếu xiên qua khung cửa. Cơn sốt hình như biến mất. Nó
vô phòng tắm, đổ xà-bông vào bồn, mở nước nóng. Mùi xà
bông va-ni-la ngào ngạt bay lên thơm ngát hai lỗ mũi, hai lỗ mũi
không bị khói thuốc vàng bám phủ gần ba ngày rồi.
Có tiếng gõ cửa phòng tắm. Nó làm lơ không trả lời. Nằm trong
bồn nước nóng, nó mơ màng nghĩ tới cánh đồng mùa xuân với
những cánh bướm nhởn nhơ tung bay trên thảm cỏ. Có một thời nó
là con sâu, lông lá lởm chởm xấu xí. Có một thời nó làm
nhộng, chết lặng lẽ trong tổ kén. Bây giờ nó quyết định cắn tổ
kén, chui ra làm bướm. Nó mở cửa phòng tắm, bước ra ngoài. Hơi
nóng bay tỏa mịt mờ như khói thuốc trong những quán bi-da. Mặt trời
chiếu xiên xiên ngang qua hơi nước óng ánh mầu sương sớm. Nó nhìn
quanh. Bà chủ nhà bước tới nhìn nó, nhìn hơi nước mịt mờ,
- Chú mới tắm với nước nóng phải không?
Nó khó chịu. Tiền nhà 350 đồng một tháng bao điện nước, nó trả
đều đặn. Bà chủ nhà xót tiền điện, tiếc tiền gas, ngại tiền
nước. Mỗi lần biết nó tắm nước nóng, người đẹp đi tới lui
nhìn ngó hơi nước bốc mịt mờ trong phòng tắm. Gần một năm chịu
đựng. Giờ này tức nước vỡ bờ. Nó nghĩ chắc phải nói một
lần cho xong, nếu không cả đời ấm ức. Nó muốn nói dạ tôi mới
tắm với nước nóng xong, có chuyện chi không bà chủ.
- Đúng rồi. Chú đang bệnh. Tắm nước nóng thì tốt nhất. Sao
không nói, tui nấu nước nóng với sả cho chú tắm luôn.
Nó ngỡ ngàng nhìn. Người đàn bà tiếp,
- Hai ngày rồi, thấy chú đau nằm trong phòng, không ăn không
uống chi hết. Tui tính nấu cháo cho chú, nhưng hỏi, chú cứ lắc đầu
quầy quậy. Sáng nay đi chợ, tui ghé qua tiệm phở mua cho chú một tô
xe lửa. Chú tắm xong, ăn phở nóng nhé!
Nó tiếp tục ngỡ ngàng, bà chủ không những đẹp người mà lại
còn đẹp nết, nhìn giống như thiên thần.
Bước vào nhà bếp, nhìn thấy tô phở nóng bốc hơi quyến rũ chờ
đợi trên bàn, nó ngồi xuống. Kéo ghế ngồi đối diện, người
đàn bà gãi gãi trán,
- Chú vẫn còn liên lạc với vợ chú hay không?
- Dạ có.
- Thấy chú ốm đau mấy ngày rồi, tui tính báo cho cô ấy biết.
Nhưng tui đâu có số điện thoại của vợ chú.
Bà chủ nhà nhìn, ánh mắt dò hỏi,
- Nếu có dịp, tui sẽ cố gắng nói thêm mấy lời
Nó cười nhẹ. Người đàn bà đẹp người tốt bụng đâu biết
tại sao vợ nó bỏ đi hơn một tháng rồi. Dám bà ta tưởng vợ nó
bỏ đi theo trai. Tầm bậy! Cũng tại vợ nó có thai. Nàng nói,
- Anh à! Anh có hút thuốc hay không, em vẫn thương anh, em vẫn là
vợ anh; nhưng, em nói rồi, nếu anh chết vì thuốc lá, em sẽ coi anh như
là một dĩ vãng. Bây giờ thì hơi khác. Anh biết em có thai hơn một
tháng. Em ngửi mùi thuốc của anh cũng không sao. Nhưng con trong bụng,
nó không đi đâu được. Nằm trong bụng em, nó bị ép ngửi khói
thuốc của anh. Trong thời gian em có thai, anh tạm ngưng hút thuốc đi.
Mai mốt sanh con xong, anh muốn làm gì thì làm.
Nó không chịu. Hai vợ chồng nói qua nói lại mấy câu. Thế là vợ
nó bỏ về nhà ở với bố mẹ. Vợ nó nói khi nào em sanh xong, con
cứng cáp, em sẽ quay về.
Nó nhìn tô phở cạn nước không còn một sợi phở dưới đáy.
Nó cảm thấy khỏe hẳn ra. Cảm cúm hình như biến mất. Nó nhìn bà
chủ, cười, nói cám ơn chị, tô phở ngon quá!?
Tháng Mười Hai 2003
Epworth, Iowa

Copyright © 2004
VHNT Publications. All rights reserved.

|