vhnt_bnr.gif (16671 bytes)

 


 





  
Số
562- 22 tháng 4, 2004


 

 

NGUYỄN VIỆN

CHUNG QUANH LÀ BIỂN

 

1.

Để tìm một con đường sống, không có cách nào khác là cứ đi về phía trước. Ông Môise đã làm thế. Thị Mầu cũng đã làm thế. Trong giấc mơ của con người, những thợ gặt rời khỏi cánh đồng, những ngư dân bỏ tàu thuyền, và họ đi về phía vô định. Tôi cũng đã đứng lên và đi. Tự nhủ, ít nhất thì mình cũng đã đi. Tôi nghe thấy tiếng sóng vỗ dưới những chiếc lá mục. Những con sâu cũng đã giãn mình ra và bò đi. Những người đàn bà gồng gánh thời gian trong hõm mắt và bỏ lại tiếng cười, họ bấu chân xuống đất, bước. Tôi nghe thấy tiếng sóng vỗ dưới những viên sỏi. Bu nó đâu rồi nhỉ? Thằng Cu, cái Nhớn, cái Bé vẫn còn ngủ ư? Đánh thức chúng nó dậy và bảo rằng nước đang lên. Cơn lũ từ tương lai sẽ đổ về quá khứ. Những ông thánh không biết bơi sẽ phải chết chìm. Ánh sáng không ở cuối đường hầm. Có những người đã chạy nhanh hơn tôi, họ vượt lên và bám vào các cành cây, như thể nếu mặt đất rung chuyển thì họ sẽ thoát. Tự tại là gì? Ngồi xuống và thiền à? Vấn đề là biết cách hít thở phải không? Đừng để máu nóng dồn lên mặt. Nhắm mắt mà đưa chân. Quá khứ là một cái hố càng lúc càng sâu, các đấng thánh phải kê thêm bệ. Giữa lúc ấy gã mặt sắt xuất hiện, hắn nói: Bình an cho các ngươi. Có người hỏi: Ông có thật không? Gã mặt sắt nói: Hỡi kẻ thiếu lòng tin kia, cứ tát thử vào má ta xem. Bố tôi còn sống cũng chẳng dám thử. Tôi tự nghĩ, đã đến lúc có thể ngồi. Người bên cạnh tôi bảo: Đừng ngồi, bạn sẽ không đứng lên lại được. Tôi như người đàn bà mắc đẻ. Nằm ngửa nhìn trời. Một sinh hai, hai sinh bốn, bốn sinh tám. Biện chứng pháp dịch học là tôi ước có một cô gái mặc váy đi qua. Thẩm mỹ học thượng thừa là cô gái ngồi xuống phủ chùng thân phận tôi. Thích nghi là khả năng tồn tại của loài giống ưu việt. Con cứ hít thở cho sướng đi nhé.

Từ phía núi, đám quan quân xuất hiện. Tất cả họ đều đi vòng kiềng. Trong ba lô của họ, ngoài thuốc sát trùng còn có mặt nạ chống hơi độc. Họ bảo vũ khí nguy hiểm nhất là những cái mồm thối. Tôi, Chu Văn An có ý kiến. Đồng chí cứ nói. Tôi đề xuất chém đầu bảy kẻ nịnh thần. Đồng chí thử nghĩ xem, có cái gì sướng hơn được nịnh? Đề nghị đồng chí rút lại ý kiến. Nếu không thực hiện đề xuất ấy tôi xin từ quan. Cám ơn đồng chí, chúc đồng chí thượng lộ bình an. Chu Văn An về nhà phụ vợ bán thịt chó ở đầu ngõ. Cái Nhớn, cái Bé xót xa bố mẹ nghèo đi làm mát-xa tận Hà Khẩu, Trung Quốc. Chúng nó bảo bọn đàn ông Trung Quốc dai lắm. Mát-xa mỏi cả tay mà vẫn không chịu ra. Hình như bọn chúng đeo đồ giả. Tôi bảo, nghi binh đấy. Chúng nó nói, sờ bằng tay, thử bằng lưỡi, co giật bần bật mà hùng tráng như cột cờ. Tôi bảo, chúng mày không làm chính trị, chúng mày không biết thế nào là lộng giả thành chân. Bọn chúng nói không cần biết chuyện ấy, chỉ cần bạc thật.

Tôi hỏi một người trong đám quan quân: Các bác đi đâu đấy? Chúng tôi đi cứu nước. Đất nước đang thanh bình cơ mà? Hắn chỉ vào tay áo, tôi đọc thấy dòng chữ thêu đỏ thắm: "Cư an tư nguy". À, thì ra thế. Thành Cát Tư Hãn trước khi chết, miệng lẩm bẩm: Anh hùng… anh hùng… Tôi, trước khi chết, miệng bập… bập… chùn chụt… Song trùng nhị bội. Tê tái quan san. Trùng dương hội ngộ. Đám quan quân vẫn nối bước đi qua. Tôi lại hỏi một người trong số họ: Các bác là chiến sĩ hay liệt sĩ? Liệt sĩ. Tổ quốc ghi công rồi, sao các bác không an nghỉ? Họ cười như thể tôi là thằng ngu. Dù thế, tôi vẫn tò mò tọc mạch, hỏi:Tại sao các bác phải đi vòng kiềng? Chuyện này không nói được.

Tôi nhớ lần đầu mắc bệnh lậu, cũng đi vòng kiềng như thế, nhưng tất nhiên, không thể suy chuyện mình ra chuyện người. Khổng Tử bảo kính nhi viễn chi. Các đấng thánh buồn ngủ. Ngũ Tử Tư vội vàng dâng gái đẹp. Thánh mà ngủ thì còn đâu cương thường. Một đồng chí cán bộ kiểm tục nói với tôi: Hãy bảo trọng giữ thân mình, sống để còn viết. Hóa ra, tôi cũng quan trọng hơn mình tưởng. Đồng chí cán bộ còn nói: Văn ông dự thi được đấy. Văn tôi không giống văn mẫu thì lấy tiêu chuẩn nào để chấm? Đúng là ông ngu thật, văn là người, mà người thì đứa nào đẹp đứa ấy thắng, biết chửa. Thưa anh, em bụng ỏng đít teo.

Ngu thì nghe anh mày dạy này:

Phàm con người ta muốn thành đạt thì phải biết mình biết người, biết trên biết dưới. Trên là thiên cơ, dưới là địa lý. Tất cả các quan xây nhà đều có cửa hậu, theo phong thủy Tả Ao. Nếu cậu biết mình là ai, làm việc gì, thì cũng phải biết vào cửa nào cho đúng với danh phận mình. Có phải cậu viết để phục vụ nhân dân không?

Bỏ mẹ. Xin lỗi nhân dân. Viết chỉ là một hành động thủ dâm. Tôi viết bởi sự thúc đẩy tự sát.

Ông Chu Văn An gõ đầu trẻ con hàng xóm, dạy: "Thời lai đồ điếu thành công dị". Đứa nào ý kiến ý cò đuổi về chăn trâu. Tôi, ngày xưa đi chăn dê dưới chân núi Ma Thiên Lãnh, thích cách ăn tạp của dê, thích tiếng dê kêu. Chiều đến, dê chăn tôi và đưa tôi về. Bố tôi bảo thái độ bông phèng là một dấu ấn của nô lệ, tao đã cho mày tự do, sao không tự do? Bố ơi, con đã hỏi các bác liệt sĩ rồi, các bác ấy bảo, sau cái chết cũng không tự do.

Từ ngày tôi thất nghiệp, thằng Cu bỏ học, nó bảo để con tự lo, đi theo bạn bè. Tôi bớt được một gánh nặng cơm áo mà lòng đau như cắt. Một gánh nặng khác đè trên vai tôi, có lúc tưởng chừng không chịu nổi. Tôi nghiệm ra một điều, người ta thực sự chỉ sống vì những điều hết sức nhỏ nhặt. Lộng ngôn là mặt trái của sự bi phẫn, tôi thích nghe những người đến ăn thịt chó ở quán vợ chồng tôi chửi tục. Họ chửi từ trên xuống dưới. Khi uống rượu, họ không sợ đi tù. Những lúc ấy, họ là người thông minh nhất. Bố tôi bảo đấy cũng là thái độ của người nô lệ.

Bố ông là ai mà lúc nào cũng ra vẻ minh triết thế? Trước hết đấy là người đẻ ra tôi. Sau hết đấy là người cõi trên. Mỗi lần muốn nghe ông ấy nói, tôi phải thắp nhang, khấn người về. Người về, tóc tai dựng đứng, mắt tóe hào quang, sắc diện bừng bừng. Phán:

Bố của con đây, từ khởi nguyên đến tận thế, nói và không nói, nghe và không nghe, sự thật và giả dối. Nhập.

Con phải làm gì để sống?

Hứ.

Con phải làm gì để được yên ổn?

Hứ.

Con phải làm gì để không sợ hãi?

Hứ.

…

Bố của con đây, từ khởi nguyên đến tận thế, nói và không nói, nghe và không nghe, sự thật và giả dối. Xuất.

 

 

2.

Đầu tiên, tôi thấy cái bàn rung chuyển. Cốc nước sóng sánh rồi nghiêng đổ. Sau mấy vòng lăn, cốc nước rơi xuống đất, vỡ toang, để lại một tiếng kêu tiếp tục rung mãi trong không khí. Những cuốn sách trên kệ cũng từ từ đổ xuống. Trong chốc lát, cả nền nhà bừa bộn giấy và những mảnh thủy tinh. Từ bên ngoài, khói chui vào qua những khe cửa. Nhưng chỉ một lúc, tôi nhận biết đó không phải là khói. Cũng không phải sương mù. Nó là mây. Rồi cả căn phòng bồng bềnh rung chuyển. Tiếng gió rít. Tôi chợt nghĩ, chẳng lẽ căn phòng đã trôi ra biển?

Con quỉ vào nhà, nó nói: Em được sinh ra cho anh. Rồi nó cởi quần áo. Tôi vẫn ngồi trên chiếc ghế xoay trước bàn máy vi tính, nhìn nó bước tới. Mái tóc nhuộm vàng để dài che ngang phần ngực. Chùm lông bên dưới cũng hơi vàng. Ánh sáng trên tường đổ xuống làm những sợi lông măng của nó óng ánh. Con thú vàng. Ánh mắt trắng. Hơi thở xanh. Mùi da đỏ. Nó ôm tôi vòng qua lưng ghế. Mọi cố gắng của anh đều vô nghĩa, nó nói, anh không thể chạy thoát khỏi chính anh.

Tôi bị hiếp.

Nước đã bắt đầu tràn vào nhà. Những quyển sách mỏng nổi lên, lều phều. Tôi bảo, coi chừng những mảnh thủy tinh đâm vào chân. Nó nói, không sao. Tôi nghĩ nó không có máu. Đấy là một thân thể được làm bằng sáp ong. Ngọt nhưng không có linh hồn. Nó nói: Anh cũng không có linh hồn. Tôi bảo linh hồn tôi bị quỉ bắt rồi. Không phải, nó nói, anh không có linh hồn. Vì sao? Đơn giản là chưa bao giờ anh có linh hồn.

Nước đã lên cao tới gần mặt ghế. Tôi bắc ghế lên bàn, rồi leo lên đó ngồi. Con quỉ cũng lên bàn. Nó ngồi vuốt những sợi lông chân. Trong một khoảnh khắc thấu thị, tôi nhìn thấy con quỉ trong suốt. Phía bên trong nó rỗng không giống như một quả bóng bơm đầy hơi. Nó nói: Cái rỗng không là linh hồn. Tôi buồn bã hút thuốc. Những quyển sách bị thấm nước đã chìm cả xuống. Tôi cũng đầy đặc nước. Và tôi biết rằng, chẳng bao lâu nữa, tôi cũng sẽ chìm xuống.

Linh hồn tôi mặc một chiếc áo bằng giấy đỏ. Tà áo viền hoa văn những cây thập tự. Con quỉ dẫn tôi xuống một đường hầm càng lúc càng sâu. Con đường được soi sáng bởi những con mắt cú vọ.

Tôi nhìn thấy rất đông người. Họ tìm cách với lấy nhau, nhưng cánh tay của họ không bao giờ chạm tới người khác. Tôi có cảm giác tiếng kêu của họ đã vượt quá giới hạn của âm thanh thông thường. Khuôn mặt và cánh tay của họ não nề không chịu nổi, tôi bước đến cạnh họ và chọc vào giữa bụng họ bằng một con dao nhọn. Thân thể họ xì hơi và rũ liệt như một đống rẻ rách. Tôi nói: Họ cũng không có linh hồn.

Bất giác tôi buồn ngủ.

Anh sẽ không bao giờ ngủ được, cả đến khi dốc hết tinh trùng xuống lỗ cống.

 

3.

Dường như ký ức tôi đã đảo lộn những sự kiện. Tôi không còn khái niệm về không gian và thời gian. Thực và ảo. Nhưng tôi biết chắc chắn tôi đang ngồi ở quán nước. Nhìn xéo, tôi thấy người đàn bà trẻ ngồi ở chiếc bàn bên cạnh có bộ ngực rất hỗn, chứng tỏ một nữ quyền lịch lãm. Người đàn bà nói: Em phải về cho con bú. Hôm nào em lại đến? Em sẽ gọi cho anh.

Thằng nhỏ (hay con nhỏ) chờ sữa. Tôi mường tượng cái miệng thằng nhỏ há ra như cái mỏ chim.

Người đàn bà đứng lên, thản nhiên xốc lại bộ ngực. Tôi tưởng tượng tôi bú bầu sữa ấy. Người đàn ông thòm thèm. Họ rời quán.

Đồng chí kiểm tục bắt tay tôi. Anh khỏe không? Cám ơn, khỏe. Anh còn viết không? Nhờ hơi hướng đàn bà, tôi vẫn viết.

Tôi tưởng tượng câu chuyện sẽ tiếp diễn thế này:

Anh có âm mưu chống đàn bà không?

Tôi lúc nào cũng có ý thức chống đàn bà.

Vì sao?

Đấy là mộ huyệt.

Thực ra, tôi rất thích cảm giác dậm hai chân xuống mộ. Chôn một cái gì đó. Xóa sổ một điều gì đó. Đập vỡ một cái gì đó. Đấy chính là lý do tôi đâm đầu vào việc viết lách.

Tôi hỏi đồng chí kiểm tục:

Anh có thấy người đàn bà vừa ra khỏi quán không?

Có.

Tôi lại tưởng tượng: Hắn ngồi trước màn hình máy vi tính, dán mắt vào những cảnh làm tình thu được qua những ống kính cài đặt ở phòng ngủ của các khách sạn, nhà trọ - khu vực hắn phụ trách. Dương vật dựng đứng. Hắn ghi nhận mọi biến thái vượt quá qui phạm của tính nhân dân.

Tôi bảo tôi phải đi theo người đàn bà ấy để chào người đồng chí thân thiết.

Cho tới bây giờ, tôi biết chắc rằng tôi không phải Chu Văn An. Bố tôi không phải người cõi trên. Cái Nhớn, cái Bé, thằng Cu không có thật. Một mình tôi bước trên hè phố theo sau cặp mông người đàn bà lắc, nghĩ về tính nhân dân và thật sự muốn văng tục. Tôi cảm thấy cần phải đổ vào thân xác rỗng không của mình một cái gì đấy. Con quỉ hiện ra bảo: Hãy đổ em vào anh. Nhưng tôi biết rằng, tôi chỉ có thể tìm được sự bình an sau khi giết nó. Con quỉ bảo: Không bao giờ anh giết được em. Bỗng nhiên tôi đốn ngộ. Tôi chỉ có thể giết được tôi. Và tôi nghĩ ra một cái tựa truyện: Chung quanh là biển.

15.10.2003


 

SÂM THƯƠNG

Một tác phẩm nghệ thuật

 

Nhà hàng Continental trên đường Tự Do, nằm giữa trung tâm thành phố lúc này thật nhộn nhịp. Các phóng viên, đại diện các hãng thông tấn báo chí và truyền thanh, truyền hình quốc tế, phần lớn có thói quen tụ tập ở đây để vừa ăn uống vừa trao đổi tin tức mỗi khi có mặt ở Sài Gòn. Sau đó họ túa đi khắp các điểm nóng của chiến cuộc. Những ngày này tình hình chiến sự thật sự đang sôi động, những trận chiến đẫm máu chưa từng thấy đang diễn ra ở Đông Hà-Quảng Trị giữa hai bên nhằm mục tiêu chính trị, giành lợi thế trên bàn hội nghị ở Paris đang ở vào giai đoạn cuối.

Ở góc trong cùng, đạo diễn Phú Văn đẩy tập hồ sơ đến trước mặt tôi :

- Nếu cậu đồng ý hợp tác với tôi, cậu có thể ký vào bản hợp đồng và hồ sơ bảo hiểm tôi đã chuẩn bị kỹ.

Tôi đặt bút xuống ký, không đọc qua một chữ nào trên trang giấy. Ông Phú Văn cũng không quan tâm đến thái độ của tôi, ông nâng ly Cognac lên môi uống cạn, nói tiếp:

- Tôi biết cậu là một nhà quay phim có tài. Nhưng để có được một tác phẩm nghệ thuật, tôi có những đòi hỏi khắc nghiệt hơn nhiều với chính bản thân tôi, cũng như những cộng sự của tôi.

Ngừng một lát, ông hỏi:

- Cậu có ý kiến gì không?

Tôi nhìn ông, lắc đầu:

- Tôi sẽ cố gắng làm đúng điều ông yêu cầu. Tôi cũng mơ ước thực hiện một cái gì đó có thể gọi là nghệ thuật.

- Như vậy, chúng ta đã có chung một mục đích. Những vấn đề còn lại, nếu có, tôi cho là không quan trọng.

Như sợ ông Văn hiểu sai hay cố tình hiểu sai tinh thần của cuộc hợp tác, tôi nói như để giải thích:

- Trước hết, tôi không chỉ là một chứng nhân. Đối với tôi, hình ảnh là hành động. Ông thừa hiểu tôi muốn bày tỏ và người ta chỉ bày tỏ khi có ước vọng thay đổi.

Khi nói ra xong, tôi hối hận, vì có cảm giác ông chẳng hề quan tâm đến điều tôi vừa nói. Hình như ông đang tập trung vào một điều gì đó, nhưng giọng ông lại như ra lệnh:

- Bây giờ, cậu về nhà chuẩn bị, trong vòng nửa giờ nữa tôi sẽ đến đón cậu ra thẳng phi trường. Chuyến bay của chúng ta sẽ cất cánh vào lúc 10 giờ 45.

Tôi sốt ruột nhìn ra cửa, rồi lại nhìn đồng hồ. Có lẽ Maggie không đến được, tôi đành đứng dậy bước ra. Vừa đến cửa thì Maggie Bancoft bước vào. Tôi đã quen với Maggie mấy năm trước. Lần đầu chúng tôi gặp nhau, cô mới học năm thứ ba khoa Báo chí Đại học West Virginia. Cô có người anh trai vừa tốt nghiệp Quản trị Kinh doanh tại Syracuse University, New York, bị gọi quân dịch. Đến Việt Nam, mới tham dự cuộc hành quân lần đầu đã bị chết trận, xác bỏ lại ở chiến trường Tây Ninh. Maggie đến Việt Nam để thực tập, nhưng đồng thời cô cũng muốn tìm tung tích của anh cô. Trong khi tôi cùng đám bạn ở dãy nhà sau của Tổng Hội, đang phân công viết bài cho số báo Sinh Viên mới thì cô bước vào. Cô hỏi tên tôi và trao lá thư của một người bạn, nhờ tôi giúp đỡ, hướng dẫn cô khi cần. Tôi ngỡ ngàng vì đôi mắt nâu sậm quá đẹp của cô. Cô kiên nhẫn ngồi bên ngoài hành lang chờ cho đến khi tôi xong công việc.

Trong buổi gặp gỡ hôm đó, ở một quán nước bên bờ sông, cạnh công trường Mê Linh, bến Bạch Đằng, Maggie đã nói với tôi bằng một giọng nghẹn ngào, pha lẫn chút phẫn nộ về cái chết của người anh trai, về nỗi đau của mẹ cô, về phong trào chống chiến tranh Việt Nam và sự khủng hoảng niềm tin của giới trí thức Mỹ.v.v…

Sau lần đó, tôi không có dịp gặp lại cô, nghe nói cô trở về Mỹ tiếp tục học. Gần hai năm sau, bất ngờ tôi nhận được một lá thư của Maggie ở địa chỉ cũ của tôi, cô viết:" Sau khi tốt nghiệp, tôi đã may mắn được nhận vào làm việc cho New York Times. Chính ở đây tôi mong muốn trở lại Việt Nam, hình như Việt Nam có một sức mạnh vô hình nào đó luôn cuốn hút tôi, không thể cưỡng lại được. Nhưng trước tiên, tôi không thích chiến tranh, đặc biệt chiến tranh Việt Nam do chính quyền nước tôi tiến hành. Trong khả năng của mình, tôi muốn có cơ hội nói cho nhân dân tôi biết tất cả sự thật, để bớt đi những cái chết không đáng chết như trường hợp của anh tôi. Còn anh, hiện nay anh đang làm gì, nghĩ gì về cuộc chiến tranh trên đất nước anh?". Sau khi đọc xong thư, tôi đã viết cho cô:" Tôi rất vui khi nhận được thư của Maggie và hy vọng được gặp lại cô ở Việt Nam. Tôi muốn trả lời câu hỏi của cô, mà đúng ra để trả lời cho chính tôi. Thú thật tôi vẫn chưa chọn được cho mình một thái độ dứt khoát.Phải chăng tôi là một kẻ ngụy tín". Trong thư, tôi không nói gì về những thay đổi của tôi. Sau khi tốt nghiệp Đại học Văn khoa, tôi đã bỏ dạy học và viết báo để theo học một khóa quay phim. Mãn khóa tôi được gửi đi tu nghiệp ở Paris. Trở về, tôi chính thức làm việc tại Trung Tâm Quốc Gia Điện Aûnh. Công việc ở đây, ít ra đã không trực tiếp bắt tôi cầm súng. Tôi không muốn bắn vào người anh em tôi bên kia chiến tuyến; cũng như tôi không muốn ngã xuống trước họng súng của họ. Ngoài công việc được giao phó, thỉnh thoảng tôi cộng tác với một vài hãng phim ngoại quốc, nhưng tôi vẫn luôn ấp ủ thực hiện những tác phẩm nghệ thuật của tôi, những phim tài liệu thể hiện nỗi đau của đồng bào tôi đang phải gánh chịu trong cuộc chiến tranh tàn khốc này.

Tháng 11.1971, Maggie quay lại Việt Nam với tư cách là một phóng viên chiến trường của báo New York Times, theo như ước nguyện của cô. Chúng tôi gặp nhau một vài lần vì công việc, nhưng chỉ thực sự hiểu và cảm thông nhau sau chuyến đi Lộc Ninh hai tháng trước. Lằn ranh giữa cái sống và cái chết đã đưa chúng tôi đến gần nhau hơn.

Maggie vừa từ Quảng Trị về được hai hôm, có lẽ cô bận viết bài nên hai đứa tôi không gặp nhau. Nhưng tôi hiểu chuyến đi sắp tới sẽ có nhiều hiểm nguy chờ đợi tôi, nên tôi muốn được nhìn thấy Maggie, muốn nói với cô một điều gì đó trước khi lên đường. Tôi điện thoại cho cô. Hẹn cô đến đây. Tôi chưa nói cho Maggie biết tôi đã nhận lời hợp tác đi Quảng Trị với ông Phú Văn.

Vừa nhìn thấy tôi, đôi mắt Maggie mở to rạng rỡ :

- Em vừa phải chuyển bài phóng sự mặt trận Quảng Trị của em về tòa soạn ở New York. Sao anh hẹn em ra đây mà lại bỏ đi? Chúng ta có thể cùng uống cà phê được không?

- Cám ơn Maggie! Anh phải chuẩn bị để ra phi trường.

- Anh đi đâu? Sao lúc nãy anh không nói?

- Quảng Trị !

- Quảng Trị? Em mới ở đó về, bây giờ đến lượt anh đi sao?

- Ông Phú Văn vừa cho anh biết.

Bất ngờ, Maggie nắm chặt lấy tay tôi, một thoáng lo âu trong mắt cô, nhưng trên môi vẫn nguyên vẹn nụ cười duyên dáng và tự tin. Cô cố gắng làm ra vẻ tự nhiên:

- Hãy mang về cho em xem những thước phim của anh quay ở đó!

Nhìn đôi mắt màu nâu sậm của Maggie, đọc được nỗi lo lắng mà cô cố che giấu, tôi nói chỉ đủ cho Maggie nghe:

- Anh sẽ vô cùng hạnh phúc, nếu Maggie có mặt trong buổi chiếu ra mắt đó.

Nói xong, tôi quay người hấp tấp bước ra khỏi nhà hàng. Tôi biết chắc rằng sau lưng tôi một đôi mắt đang dõi theo. Tôi thật sự không dám nhìn những giọt nước long lanh chực chờ trào ra trên khóe mắt đó.

Khi đèn báo hiệu chuyển xanh, tôi dợm chân định bước nhanh qua đường tới chỗ đậu xe. Bỗng giật nẩy mình lùi lại, một chiếc xe GMC bám đầy bụi đỏ vụt qua. Một luồng gió tanh tưởi thổi hắt vào mặt, làm tôi lợm giọng muốn ói.

 

***

Chiếc DC-6 Hàng Không Việt Nam cất cánh rời phi trường Tân Sơn Nhất đi Huế. Từ trên cao, tôi đưa mắt nhìn qua cửa kiếng máy bay, bên dưới là những cánh đồng bỏ hoang, những sông lạch chảy ngoằn ngoèo, những hố bom lốm đốm trên mặt đất, những cột khói trắng vật vờ trôi… Nhìn sang bên cạnh, đạo diễn Phú Văn đang chăm chú đọc báo, những tờ báo phát hành từ chiều hôm trước mà có lẽø ông chưa kịp đọc. Hình như lúc nào trông ông cũng có vẻ tất bật, ngay cả khi ông chẳng làm gì cả. Thực sự, cho đến giây phút này tôi vẫn mơ mơ hồ hồ, chưa hiểu lý do tại sao tôi nhận lời cùng ông ta ra Quảng Trị quay phim. Ông đã không nói cho tôi biết nội dung cụ thể. Thực ra, tôi cũng không mấy chú ý đến những điều ông nói. Tôi đã tình cờ nghe một vài đồng nghiệp nói ít nhiều về ông. Ông là một đạo diễn độc lập, có quốc tịch nước ngoài, hợp tác với nhiều hãng phim và truyền hình lớn. Tên tuổi ông được báo chí và giới làm phim thế giới đánh giá cao bởi những thước phim mang ý nghĩa sâu sắc và giàu tính hiện thực. Hình như ở bất cứ đâu trên khắp thế giới cũng có dấu chân của ông đặt đến. Nhưng có điều gì nơi ông đã làm tôi không thích tiếp cận hoặc muốn hợp tác. Song tôi thật sự không hiểu đó là điều gì. Khi ngỏ ý mời tôi cộng tác, ông chỉ cho tôi biết nhà quay phim đi chung với ông đã bất ngờ trở về nước vì vợ anh ta bị tai nạn xe hơi.

Mấy tuần qua, báo chí Sài Gòn tường thuật về những trận chiến đẫm máu nổ ra ở Đông Hà - Quảng Trị, nơi tôi sắp đặt chân đến. Nhưng không phải vì gian khổ hay vì cái chết đe dọa mà tôi phân vân trước lời đề nghị của ông. Ngược lại, tuổi trẻ và máu nghề nghiệp luôn đẩy tôi tới những điểm nóng. Càng khốc liệt tôi càng bị hút vào, không cưỡng được. Bằng chứng, tôi vừa từ mặt trận đường 9 Nam Lào, từ chiến trường Charlie, địa danh của một đỉnh núi gần thị trấn Kontum trở về. Có một điều chắc chắn, tôi đã không nhận lời ông vì số tiền được ký kết trong bản hợp đồng - tất nhiên là cao hơn rất nhiều lần so với đồng lương và phụ cấp hằng tháng của một công chức như tôi- đó là chưa nói tới số tiền bảo hiểm trong trường hợp xãy ra điều gì bất trắc với tôi.

Dòng suy nghĩ của tôi bất ngờ bị cắt đứt khi cô tiếp viên hàng không nhắc tôi cài lại dây an toàn. Máy bay đang chuẩn bị đáp xuống phi trường Phú Bài. Tôi cảm thấy bối rối khi ngước lên tình cờ bắt gặp nụ cười trên môi của cô tiếp viên. Nụ cười gợi cho tôi nhớ lại khuôn mặt của cô gái ở một làng quê vừa thoát ra khỏi trận giao tranh ở Xuân Lộc. Cô bước ra, trên cái nền đỏ rực của biển lửa sau lưng, nụ cười thoáng ánh lên trong mắt, trên môi, và mái tóc dài bay ngược trên bờ vai. Cô đẹp quá, thánh thiện quá, nhưng chỉ xuất hiện trong khuôn hình của tôi có mấy giây, nụ cười trên môi cô vụt tắt, cô gục xuống bởi một mảnh bom xuyên qua người. Đoạn phim này tôi vẫn chưa sử dụng, để dành dựng nó cho mở đầu một phim mà tôi đang tìm kiếm ý tưởng.

 

***

Sau khi kiểm tra lại máy móc, đồ nghề lần cuối tôi leo lên chiếc xe Citroen cà tàng mà ông Phú Văn mượn hay thuê của ai đó, và tự mình cầm lái. Trên mặt kiếng trước của xe, ông không quên dán chữ PRESS thật rõ. Chúng tôi lên đường đi Quảng Trị. Tôi nhìn lên mặt đồng hồ: 13 giơ, 37 , ngày 17.5.1972.

Khi xe chạy qua cầu Trườøng Tiền, tôi chợt hiểu ra một điều, có lẽ một trong những lý do thúc đẩy tôi nhận lời theo ông Phú Văn ra đây, nó hoàn toàn không mang tính nghề nghiệp. Tôi cứ tưởng tôi không quan tâm đến Huế, không muốn nhắc tới Huế. Nhưng trong tâm thức tôi vẫn khát khao muốn nhìn lại Huế. Huế vẫn là nỗi nhớ, là niềm đau trong lòng tôi. Những tà áo trắng bay bay trong gió mỗi sáng mỗi chiều tôi đi qua trên đó thuở nào đã luôn khuấy động tâm hồn tôi, chìm sâu trong vô thức.

Qua các ngả đường, ở đâu cũng thấy quán ăn, tiệm nước, vẫn đông đúc người qua kẻ lại. Nhưng sao khuôn mặt của Huế có vẻ như thất thần, mất máu. Xe chúng tôi chạy giữa con đường thẳng tắp quen thuộc với hai hàng cây cao, cành lá xanh, hoa phượng vỹ đỏ rực, mặt nước sông Hương loang loáng màu bạc trắng. Tôi nhớ khi còn học ở Quốc Học, đã bao nhiêu lần tôi lang thang trên con đường này, đứng dưới chân chiếc lư nhìn mưa bay trên sông, phía sau là cầu Trườøng Tiền mờ mờ ảo ảo. Bây giờ, cầu bị đánh sập đi mấy vài chưa kịp sửa, chiếc cầu mới dựng lên, án ngữ mất tầm nhìn, như một bức tranh có một lỗ hổng thật lớn. Tuổi trẻ của tôi cũng bị cuốn đi trong cơn lốc củûa chiến tranh.

Tới An Lỗ, tôi bắt đầu cảm nhận được thế nào là cái nắng nóng và những ngọn gió nồm nơi vùng đất khắc nghiệt này quất lên da mặt rát bỏng. Mặt đường nhựa sáng loáng như những vũng nước ảo giác giữa sa mạc, là đà bốc khói. Hai bên đường chỉ có cát và cát, cây cối khô héo, hút tầm mắt nhức nhối một màu bạc phếch, nghèo đói, khô cằn… Nhưng sao dân chúng vẫn bám vào đây để sống, để hiện hữu. Cái gì đã níu giữ họ? Vùng đất này không chỉ khắc nghiệt bởi thiên nhiên nóng cháy, bởi giông bão cuồng nộ, mà còn hứng chịu nhiều hơn bất cứ đâu lượng bom đạn của cuộc chiến tranh dai dẳng này.

Qua khỏi cầu Mỹ Chánh không xa, chúng tôi bị chận lại bởi một trạm kiểm soát quân sự, do một toán cảnh sát và quân cảnh phối hợp điều hành. Những cuộn rào kẽm gai chắn ngang đường. Ông Phú Văn cho xe ngừng lại trước trạm, xuống xe, nói với viên trung sĩ đứng giữa toán lính, tất cả đều đội nón sắt, mang súng và đeo phù hiệu:

- Các ông có thể cho phép chúng tôi qua. Chúng tôi là những người làm phim.

Viên trung sĩ nhìn ông Phú Văn, lắc đầu:

- Chúng tôi được lệnh không cho bất cứ một ai đi qua đây, vì trước mặt là vùng chiến sự.

Giọng ông Phú Văn vẫn bình tĩnh:

- Dù biết là nguy hiểm, nhưng chúng tôi không thể không đi.

Bất ngờ, một chiếc xe Jeep từ đằng sau chạy nhanh tới và thắng lại rất gấp. Từ trên xe một trung úy quân cảnh, người cao lớn, bước xuống, đưa mắt nhìn những thuộc cấp:

- Chuyện gì?

Viên trung sĩ quay về phía ông Phú Văn:

- Trình trung úy, ông này…

Không đợi trung sĩ nói hết câu, ông Phú Văn bước tới đưa giấy phép và thẻ báo chí cho viên trung úy. Anh ta cầm lên đọc, đưa mắt nhìn ông Phú Văn như cân lượng đối tượng của mình là ai, rồi nhìn về phía tôi đang ngồi trên xe. Xong anh ta quay lại hỏi ông Phú Văn:

- Ông là đạo diễn Phú Văn?

- Vâng!

- Ông có biết trước mặt ông là một biển lửa?

- Tôi biết! Điều đó lại cần thiết cho công việc của chúng tôi hơn là một vùng đất yên tĩnh.

- Nhưng ông không thể qua được!

Ông Văn làm ra vẻ ngạc nhiên:

- Tại sao? Với tư cách là một nhà báo tôi có quyền đến bất cứ đâu.

Viên trung úy nhìn ông Phú Văn, mỉm cười:

- Tôi lập lại, ông không được phép đi qua đây!

Giọng ông Phú Văn có phần gay gắt:

- Tôi muốn biết lý do tại sao?

Viên trung úy vẫn từ tốn:

- Tôi không cần giải thích với ông.

- Trung úy có thể cho tôi đi qua hay buộc tôi phải nói thẳng việc này với Tổng trưởng Hoàng Đức Nhã hoặc tướng Trần Văn Trung, Tổng cục Chiến Tranh Chính Trị?

Viên trung úy cười khẩy:

- Ông muốn nói với ai, đó là quyền của ông! Ở đây, tôi là người chịu trách nhiệm…

- Trung úy dám cản trở…

Làm như không nghe, viên trung úy thản nhiên đi thẳng vào trạm gác, bỏ mặc ông Phú Văn với nỗi phẫn hận. Nhưng ông cố đè nén cơn tức giận, mặt ông đỏ bừng, đôi chân ông run run tưởng chừng đứng không vững. Ông hiểu không thể tranh luận, hoặc viện bất cứ lý do gì để có thể thay đổi được quyết định của viên trung úy. Ông lẳng lặng bước lên xe. Không nói một lời nào, ông mở máy cho xe quay trở lại con đường cũ.

Viên trung úy nhìn xe ông Phú Văn vọt đi, mỉm cười nói với đám thuộc cấp:

- Thật ra, chẳng có chỉ thị nào cấm cản ông ta hết, nhưng nhìn cái bản mặït ông ta tao thấy ghét, làm khó chơi. Nhưng với loại người như ông ta không gì cấm cản được đâu!

 

***

Đến một ngả ba, ông Phú Văn rẽ trái, chạy vào con đường đất, lác đác một vài ngôi nhà tranh xiêu vẹo. Giọng ông Văn vẫn chưa hết hậm hực:

- Hắn cứ tưởng hắn không cho phép thì tôi không biết tìm đường đi tiếp sao? Chúng ta chỉ cần đi đường vòng rồi bọc lại. Bọn chúng lấy đâu ra người để có thể kiểm soát tất cả các ngả đường.

Khi xe đã trở lại trên đường quốc lộ, tôi xoay người ra phía sau, mở va li sắt lấy chiếc camera cầm lên tay, gắn phim vào máy, kiểm tra ống kính, rồi đặt máy lên đùi, một thói quen cố hữu của tôi. Tôi có cảm giác oÂng Phú Văn đang quan sát hành động của tôi, nhưng mắt ông vẫn hướng về phía trước, giữ chặt tay lái:

- Tôi muốn hỏi điều gì thúc đẩy cậu chọn nghề quay phim?

Không bất ngờ trước câu hỏi của ông Phú Văn,tôi đáp:

- Tôi đã từng viết báo, nhưng rồi tôi cảm nhận được rằng chữ viết không thể có sức mạnh bằng hình ảnh.

Ông Phú Văn im lặng một lát rồi nói, nhưng hình như không để nói với tôi:

- Tôi không cần biết nghệ thuật có vĩnh cửu hay không, nhưng ít ra sự hiện hữu của chính mình trong đời sống cũng là điều quan trọng.

Theo hướng Bắc trên quốc lộ, tiếng bom đạn dội lại càng lúc càng gần. Chạy được khoảng mười mấy cây số trong cái nóng gắt, cháy bỏng của mùa hè, đã thấy xuất hiện những toán người chân trần lũ lượt bồng bế, gồng gánh chạy ngược chiều, đổ vào Huế, trốn khỏi nơi chiến sự tìm con đường sống.

Tôi nâng máy lên ngắm và bấm máy ghi nhận những hình ảnh đang diễn ra trước mắt. Những hình ảnh gần như rất quen thuộc đối với tôi. Tôi đã bắt gặp trên mọi nẻo đường, những nơi chiến sự nổ ra. Nhưng đối với tôi, nỗi đau khổ của những con người đang bỏû ruộng làng, nhà cửa đó trên nét mặt như còn rất mới, rất riêng, và chắc chắn không ai giống ai, không có nỗi đau nào giống nỗi đau nào. Trước những cảnh tượng đó, tôi cứ luôn muốn ghi vào ống kính, mà thật ra nó đang ghi khắc trong tận cùng trái tim dễ vỡ của tôi.

Đến một khúc quanh, chiếc xe đang chạy bỗng có tiếng rít lên như xé màng nhĩ. Một quầng lửa đỏ chói bùng lên. Một tiếng nổ long óc. Mặt đất chao đảo. Không gian méo lệch. Rồi cái gì đó nóng bỏng, rực lửa, nhọn hoắt, và tung tóe đập vào mặt. Trong phút chốc, tôi bị ném vào một khoảng trống tối đen và lơ lửng, hoàn toàn không có khái niệm về thời gian, về cái sống, cái chết..

Khi mở mắt ra, tôi vẫn còn cảm giác tức tức ở ngực. Tấm kiếng trước mặt đã bị những mảnh bom phá vỡ. Quay sang ông Phú Văn, tôi bắt gặp cái nhìn của ông về phía tôi. Tôi lên tiếng trước:

- Ông có sao không?

Ông Văn mỉm cười gượng gạo, khuôn mặt có phần nhợt nhạt nhưng vẫn toát ra một nghị lực đặc biệt. Điều đó làm tôi cảm phục ông.

- Không! Còn cậu?

Tôi đưa tay vuốt lại mái tóc, rồi mỉm cười:

- Tôi còn nhiều nợ nần, nên không chết ở đây được.

- Tốt! Để tôi khởi động xem thử xe có còn chạy được nữa không. Nếu không trục trặc thì chúng ta đi tiếp.

 

***

Xe tiếp tục chạy về phía Hải Lăng, vượt qua trên đoạn đường dài lỗ chỗ những hố bom, những xác người vương vãi, những chiếc sọ trắng hếu vất vưởng. Bất ngờ ông Phú Văn cho xe ngừng lại. Phía trước, ngay trên mặt đường nhựa có những ụ cát như những chiếc nón, những nấm mồ, cách khoảng vài ba mét một ụ, có đến mấy chục ụ. Tôi ngạc nhiên chưa hiểu chuyện gì. Ông Phú Văn thản nhiên bước xuống xe và quay lại nói với tôi:

- Ở dưới những ụ cát đó có thể là mìn, hoặc chỉ để nghi binh.

Tôi vẫn chưa hết ngạc nhiên:

- Mìn?

Ông Phú Văn không trả lời trực tiếp câu hỏi của tôi:

- Bây giờ , cậu chuẩn bị đặt máy ở góc bên dưới , ống kính chiếu thẳng về phía ụ cát cuối cùng. Khi nào tôi ra hiệu quay thì cậu bấm nút tự động cho máy chạy là được.

Ông Phú Văn vừa nói dứt câu thì ở phía trước, trên bầu trời xuất hiện khoảng mười mấy chiến đấu cơ gầm thét bay lượn, tiếp theo là những tiếng nổ dữ dội, những cột khói như những hìnhï nấm khổng lồ bốc cao, thật gần.

Ông Phú Văn lên tiếng thúc giục:

- Cậu làm nhanh lên !

Dù chưa hiểu ông muốn quay những gì, nhưng tôi lập tức kéo cái va li sắt ra khỏi xe, vác lên vai nhảy xuống bờ, chạy đến vị trí ông đã dặn, sắp đặt chân đứng, đặt máy quay, kiểm tra ống kính. Khi mọi chuẩn bị coi như hoàn tất, tôi rút chai nước uống một ngụm, rồi quay lại hỏi ông Phú Văn:

- Chúng ta sẽ quay gì đây, thưa ông?

Ông Phú Văn mỉm cười, nhìn thẳng vào mặt tôi:

- Không phải cậu muốn có những thước phim sống động đó sao? Tuy nhiên, nghề của chúng ta cũng phụ thuộc vào ân sủng của Thượng Đế. Không biết hôm nay chúng ta có may mắn không đây?

Vừa nói ông vừa đến bên máy quay, đưa mắt nhìn vào ống kính, hình như ông muốn kiểm tra lại máy móc lần cuối. Tôi đang định nói với ông một điều gì đó mà chưa biết mở lời như thế nào. Bất ngờ,ø phía cuối đường những âm thanh náo loạn dội lại. Một chiếc xe khách, tôi nhìn kỹ nó giống như một chiếc xe khách xuất hiện trên mặt đường, trên xe chất đầy người, những người dân chạy loạn, có lẽ họ từ Hải Lăng vào; ngoài những người ngồi chật cứng trên nóc, những người khác đeo toòng teng vào thành xe và cánh cửa. Tôi hoảng hốt khi nhận ra chiếc xe chạy thẳng về phía những ụ cát. Không kịp suy nghĩ, tôi bỏ máy chạy về phía chiếc xe khách đang trườn tới, đưa hai tay ngăn và hét lên:

- Ngừng lại! Ngừng lại! Nguy hiểm… Không nên chạy qua đó!

Nhưng ông Phú Văn đã chạy theo, nắm tay tôi kéo trở lại:

- Cậu làm gì vậy? Trách nhiệm của cậu là đứng sau máy quay!

Tôi quắc mắt nhìn ông:

- Thế ai trách nhiệm về cái chết của những người đi trên chuyến xe đó?

Ông Phú Văn giận dữ đấm thẳng vào mặt tôi một cú đấm như trời giáng. Tôi đau đớn bật ngửa người, ngồi bệt xuống, hai tay chống lên mặt cát bỏng, tê cứng không cử động được.

Ông nhìn tôi, gằn giọng:

- Tôi trả lời câu hỏi của cậu đây. Trách nhiệm về cái chết của những người đó, chắc chắn không phải là trách nhiệm của tôi hay của cậu. Cậu đừng có ảo tưởng. Đó là trách nhiệm của Thượng Đế, nếu cậu tin có Thượng Đế hay ít ra là của hai phe đang đánh nhau kìa. Tôi không làm chính trị, cũng không làm từ thiện. Tôi làm điều mà tôi yêu thích, đó là nghệ thuật. Ít ra, trong cuộc đời tôi cũng có một công việc để đeo đuổi, để tận tụy và tôi sẽ đi đến cùng mục đích của tôi.

Nói xong, ông thản nhiên lùi lại bên máy quay, đưa mắt vào ống kính điều chỉnh, rồi bấm lên nút tự động của máy, ống kính vẫn chiếu thẳng về phía những ụ cát cuối cùng trên đường nhựa.

Chiếc xe vẫn vô tình tiến tới, rồi những tiếng nổ dữ dội liên tiếp vang lên, những tiếng la hét thất thanh. Tôi quay lại, chiếc xe đò bị hất bắn lên, những xác người tung tóe văng ra, máu tươi vung vãi.

Tôi nhắm nghiền đôi mắt không dám nhìn thêm cảnh tượng bi thương đang diễn ra trước mắt. Ông Phú Văn vẫn kiên trì và chăm chú bên máy quay. Tiếng máy vẫn chạy rè rè xoáy vào tai tôi. Bình thường tôi yêu những âm thanh quen thuộc này lắm, bởi vì nó là mơ ước, là khát vọng và là cuộc sống của tôi; nhưng sao hôm nay nó làm tôi đau đớùn, phẫn nộ, đầu tôi căng nhức như bị động kinh. Trong cơn hốt hoảng, trí óc tưởng như tê dại, tôi cắm đầu chạy, bỏ mặc ông Phú Văn với những thước phim của ông, một tác phẩm nghệ thuật đang hình thành.

Aùnh nắng chiều nhạt nhòa. Tiếng đạn bom vẫn tiếp tục gầm thét. Đứng giữa cánh đồng cát trắng hoang vắng, chợt nhớ đến đôi mắt nâu sậm và lời dặn dò của Maggie trước khi lên đường, tôi ôm mặt khóc như một đứa trẻ bị bỏ rơi không biết đường về nhà.

 

***

Khi tôi bước vào nhà hàng Continental, Maggie đã ngồi sẵn chờ tôi ở đó tụ bao giờ. Nhìn thấy tôi, nàng đứng dậy, đưa hai tay ôm chặt lấy tôi, như sợ vuột mất. Khuôn mặt nàng như thể được chiếu sáng từ bên trong bởi một nguồn sáng có sức cuốn hút kỳ diệu. Tôi có cảm giác chưa bao giờ nàng cảm thấy hạnh phúc như lúc này. Maggie rưng rưng nước mắt:

- Cám ơn Thượng Đế đã trả anh về cho em.

Không đáp lại lời nàng, tôi hôn lên đôi mắt của Maggie. Khi đã ngồi xuống ghế nệm dài, bên một cái bàn nhỏ, Maggie đẩy tờ Washington Post đến trước mặt tôi, đưa tay chỉ vào cột báo ở trang nhất, bên phải. Tôi cầm tờ báo lên, đọc qua, bài viết hết lời khen ngợi cuốn phim, cũng như tài năng của ông Phú Văn. Không ngạc nhiên, tôi đặt tờ báo xuống bàn.

Maggie nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng nàng nửa yêu thương, nửa hờn trách:

- Em đã được mời xem phim. Cuốn phim đã cuốn hút em, tạo ấn tượng rất mạnh đối với em và tất cả những người cùng xem. Thật khủng khiếp! Em không tin nổi những hình ảnh đã quay được. Nhưng em thắc mắc không biết làm cách nào các anh có thể có được góc máy như thế, chiếc xe tung bổng lên khỏi mặt đất, những đôi chân bị cắt ngang từ từ rơi xuống? Và tại sao anh vắng mặt trong buổi chiếu ra mắt ?

Sự ân cần của nàng, sự dịu dàng của nàng khiến tôi xúc động. Tôi nắm chặt lấy hai bàn tay xinh đẹp của Maggie và muốn nói, nói tất cả, nhưng có cái gì đó đã làm tôi nghẹn ứ cổ họng, nói không ra tiếng. Nhưng tôi vẫn cố gắng hết sức, không kềm giữ được:

- Maggie, anh đã trở về đây, nhưng anh không có thước phim nào trong tay để tặng em như anh đã mơ ước. Anh không thể xây dựng tác phẩm của anh bằng chính nỗi đau của người khác.

Maggie ngước lên nhìn thẳng vào tôi, mắt nàng long lanh như sắp khóc. Bên ngoài, đường phố đã lên đèn, cơn mưa bất chợt đổ ập xuống. Maggie và tôi nhìn nhau không nói. Bất ngờ hai đứa bật dậy, nắm chặt lấy tay nhau hấp tấp bước ra khỏi nhà hàng. Đường phố vắng tanh. Chúng tôi lặng lẽ đi trong cơn mưa tầm tã…

 

22.12.2002

 

 

 

 


 

 

VÕ P

Hai Người Bạn

Hắn dọn đến khu ký túc xá lúc năm giờ chiều, giữa lúc nắng còn gắt. Sau khi dọn hết đồ đạc vào phòng, trời vừa chụp tối. Mẹ hắn nhét vào túi hắn một cọc tiền, bà dặn dò:

- Ở một mình ráng giữ gìn sức khỏe. Khi nào hết tiền nhớ gọi về cho mẹ. Hãy chăm chỉ học hành, đừng lêu lõng...

Hắn vâng vâng dạ dạ rồi tiễn bố mẹ ra chổ đậu xe. Chờ cho chiếc xe rời khỏi hẳn, hắn lững thững trở về phòng. Hắn thu xếp lại căn phòng. Nhìn qua, cảm thấy hài lòng, hắn mở gói xôi nếp, định ăn, thì bạn hắn dọn đến.

Bạn hắn là họa sĩ, hắn chỉ biết có thế.

Bạn hắn chào:

- Hello. Tôi tên là Eric.

- Hi! Còn tôi, Hùng. Hân hạnh được... làm bạn chung phòng.

Nói xong, cả hai cùng cười.

Hắn phụ Eric bưng đồ vào phòng. Hắn đưa mắt nhìn quanh căn phòng, chợt dừng lại chiếc giường chồng. Lúc nãy, khi dọn vào, quá vui, vì lần đầu xa nhà, nên hắn quên mất là phòng này có hai người ở. Ngoài hắn ra còn có Eric, thằng bạn họa sĩ, mà hắn biết được khi đọc tập hồ sơ sinh viên. Hắn chỉ biết bạn hắn là họa sĩ, chỉ có thế.

Hắn nhìn Eric, rồi căn phòng, lần nữa. Trong đầu hắn đang làm một bài toán nhanh để xếp căn phòng cho gọn lại, hầu tìm chổ tách cái giường chồng ra. Nhưng, hắn vô kế khả thi.

Trường hắn học nằm trong khu vực thành phố. Căn phòng ký túc xá của hắn nhỏ bằng cái lổ mũi, vậy mà tới hai đứa ở.

Hắn suy nghĩ hoài, nhưng không cách nào thực hiện được ý định tách đôi chiếc giường. Hắn hỏi bạn:

- Eric, mày nghĩ sao khi chúng ta đem cái giường này xuống?

- Nhưng chổ đâu để?

- Chẳng biết. Thôi thì để vậy. Mày muốn ngủ trên hay dưới?

- Ở dưới.

- Tao thích ở trên.

- Vậy, okay! Deal!

Bạn hắn là họa sĩ, hắn chỉ biết có thế.

Thằng bạn họa sĩ của hắn khác thường. Cũng có lẽ là hắn khác thường!

Hắn nghe nhiều người nói họa sĩ thường là những người khùng khùng điên điên, nhưng hắn có bao giờ tiếp xúc với những con người "khùng-khùng-điên-điên" họa sĩ kia?

Bạn hắn là họa sĩ, hắn chỉ biết có thế.

Eric thích ăn đồ ăn của chó. Eric không ăn cơm phần của ký túc xá. Eric chê cơm nhạt nhẽo thua cả đồ ăn của chó. Có một lần Eric mời hắn:

- Hê Hùng, muốn thử đồ hộp không?

Hắn cười, lắc đầu:

- Đồ ăn của chó tao không dám ăn.

- Thử đi, ngon lắm.

Dù thằng bạn họa sĩ của hắn có chiêu dụ cách nào đi nữa, nhất quyết hắn chẳng chịu ăn đồ ăn của chó.

Eric lẩm bẩm:

- Chó có gì đáng sợ? Chó nhiều khi có tình hơn cả người. Chó là bạn của nhân loại. "Dogs are men best friends." Chó đâu biết lọc lừa, dối trá, chó đâu biết làm chính trị?

Hắn lắc đầu, hắn buông ra một câu bằng tiếng Việt:

- Đúng là....họa sĩ ĐIÊN.

Eric không hiểu, hỏi lại:

- Mày nói gì vậy?

- Không gì.

Bạn hắn là họa sĩ, hắn chỉ biết có thế.

Hắn chẳng bao giờ thấy thằng bạn họa sĩ cầm quyển sách để đọc hay để làm bài tập như mọi sinh viên khác. Có lần vui miệng, hắn hỏi:

- Ê, Eric, học như mày sướng thật đó.

Thằng bạn họa sĩ cười, chẳng trả lời. Thấy vậy, hắn hỏi tiếp:

- Mày học vẽ, vậy có khi nào vẽ khỏa thân chưa?

- Có chứ.

- Có khoái không?

- Cũng tùy. Nhiều lúc thì thích lắm, nếu gặp những con trẻ đẹp và thơm. Còn hôm nào ông thầy mướn mấy thằng con trai hay mấy mụ già về là... chán ngắt.

Suy nghĩ một hồi, Eric tiếp:

- Có lần từ đâu ông thầy mướn về một mụ già làm mẫu. Mà mầy biết đấy, mụ già thì có đẹp bao giờ. Bụng của mụ ấy chảy xệ xuống tới mông. Da thì nhăn-đùn cả đống còn tệ hơn cả da Hà Mã. Khi mụ khỏa thân, thấy lợm cả người, vậy mà cũng đành mở mắt trao tráo ra để vẽ mụ. Tội cho mấy đứa đứng gần đấy. Đứng gần ngưởi mùi từ chổ kín mụ tiết ra, thúi muốn mửa.

Kể xong, Eric lắc đầu, như cố xua đuổi hình bóng của bà già làm mẫu đó đi. Còn hắn thì ôm bụng cười. Hắn cười đến độ nước mắt trào ra.

Bạn hắn là họa sĩ, hắn chỉ biết có thế.

Cả tuần nay hắn chẳng thấy Eric ăn gì. Eric chỉ uống nước. Hắn thấy lạ, hỏi:

- Cả tuần nay sao tao không thấy mày đi ăn?

- Đồ ăn ở trường chán ngắt, thua cả đồ ăn của chó.

- Vậy sao mày không ăn đồ ăn chó?

- Hết bà nó rồi.

- Thì đi mua.

- Hết tiền.

- Sao không nói, tao có nè. Cho mày mượn.

- Tao không thích mượn. Cám ơn mày. Yên trí đi, ngày mai vẽ xong tấm hình này là sẽ có tiền ăn.

Vừa nói Eric vừa vuốt vuốt cái bụng rồi nuốc nước bọt cái ực. Hôm sau, Eric khiêng về cả một thùng đồ ăn của chó. Eric nói với hắn:

- Hôm nay tao bán bức tranh được hai trăm. Mua hết trăm bạc tiền cọ, sơn, và giấy. Còn nhiêu đổ vô đống đồ này.

- Sao mày không để dành?

- Dành làm gì? Chết cũng chẳng mang theo, được. Có thì sài cho hết chứ.

- Ở đây thì không có, chứ ở nước tao, hay ở Tàu, khi chết người ta cho tiền vào miệng để hối lộ qua cửa khẩu.

- Tụi mày có điên không? Chết còn mang theo tiền?

- Mày điên thì có.

Chắc cả hai đều điên như nhau, có lẽ thế.

Bạn hắn là họa sĩ, hắn chỉ biết có thế.

Hắn đi học về, mở cửa phòng, hắn thấy Eric ngồi trong phòng nghe nhạc. Thấy hắn, Eric hỏi:

- Ngày mai mày rảnh không?

- Rảnh, có chuyện gì vậy?

- Đi coi sexy!

- Tao không đi.

- Mày gay hả? Sao không đi coi sexy?

- Tao không phải. Nhưng tao thấy không đúng khi coi họ cỏi truồng.

- Đúng là đạo đức giã. Cỏi truồng mà không chịu coi. Hay mày sợ coi rồi không chịu nổi?

Hắn im lặng, không trả lời. Có lẽ Eric nói đúng một phần nào về con người hắn. Hắn biết đi coi vũ sexy cũng không gì là thái quá, nhưng đầu óc phong kiến của hắn vẫn còn nặng, nên hắn không thể chấp nhận. Những bài học vỡ lòng về đạo đức, Khổng Tử, Lão Tử, làm hắn e dè. Phải chi hắn đừng học và đừng biết về Khổng/Lão Tử thì có lẽ hắn sẽ vui vẻ đi xem.

Thấy hắn có vẽ suy nghĩ, Eric hỏi:

- Vậy mày không đi coi sexy phải không?

- Không đi. Mày đi chơi vui vẻ.

- Cám ơn. Chắc chắn là vui rồi. Đâu như mày...

Bạn hắn là họa sĩ, hắn chỉ biết có thế.

Mùa đông năm đó, có bão tuyết. Bông tuyết to như những muối bông gòn rãi xuống mặt đường. Thoáng chốc mà đã ngập cả đám cỏ trước sân, phủ luôn lối đi. Thằng bạn họa sĩ của hắn phán:

- Thế nào ngày mai trường cũng cho nghỉ.

Mà quả thật vậy, trường cho nghỉ. Không đi học, ở trong phòng chẳng làm gì, hắn lấy sách ra đọc. Hắn trèo lên giường, rồi trùm mền đọc. Đó là cái thú của hắn mỗi khi mùa đông đến.

Eric hỏi:

- Mày đang làm gì đó?

- Tao đọc sách.

- Rõ chán! Sách có gì đáng đọc.

- Sách cho ta nhiều thứ để học hỏi. Nói như mày vậy mày đi học để làm gì?

- Đi học để kiếm gái.

- Gái thì đâu cần phảo vô trường. Và, họa sĩ thì đâu cần học. Tao chẳng nghĩ họa sĩ chẳng nên đi học bao giờ.

- Ừ... Nhưng đi học dễ kiếm gái và kiếm tiền hơn.

Bạn hắn là họa sĩ, hắn chỉ biết có thế.

 

*

 

Hắn chiêm bao thấy mình cùng gia đình vượt biển trên chiếc ghe bầu. Những con sóng phủ đầu đánh vào mạng ghe ầm ầm làm cho chiếc ghe lắc lư. Hắn cảm thấy sợ hãi.

Giật mình, hắn thức giấc.

Chiếc giường hắn ngủ rung lên từng nhịp như sóng vỗ. Hắn nghe tiếng thở phì phò và tiếng nhớp nhép trong đêm đông thanh vắng. Hắn mỉm cười và chợt hiểu ra thằng bạn họa sĩ nằm bên dưới là nguyên nhân gây ra nhịp sóng đó. Hắn đưa mắt nhìn đồng hồ, ánh dạ quang của cây kim chỉ đúng hai giờ sáng. Hắn chửi thầm:

- Họa sĩ điên, rõ chán.

Hắn cố dỗ giấc ngủ, nhưng không tài nào ngủ được. Những âm thanh quái ác nghe chem chép cứ liên tục đánh vào tai hắn. Còn cái giường thì rung lên từng đợt theo nhịp của thằng bạn họa sĩ. Hạ bộ hắn tưng tức khó chịu. Hắn cố gắng nín thở.

Hắn chịu hết nổi, đành leo xuống giường. Thằng bạn họa sĩ hỏi:

- Tụi tao làm ồn mày ngủ không được à?

- Ừ. Tao phải đi tiểu.

- Sorry mày. Nếu ngủ không được thì nhập cuộc với tụi tao cho vui? Muốn không?

- Thôi đi, cho tao xin.

- Mày đúng là thằng gay.

- Không nói chuyện với mày. Tao đi tiểu.

Khi trở về, Eric vẫn còn hì hục trên bụng người con gái.

Hắn đóng cửa phòng, bỏ ra ngoài. Hắn trốn chạy. Đầu hắn lùng bùng, náo loạn. Hắn muốn xóa đi hết những hình ảnh, âm thanh của dục vọng, nhưng hắn không thể. Hắn cố cố nghĩ đến những lời lẽ của Khổng/Lão Tử, những lời răn dạy của thánh nhân để xa lánh những gì mà hắn nghĩ trái với luân thường đạo lý. Nhưng hắn hoài công. Luân thường, đạo lý, lẽ phải,... khi đối diện với tình dục, thể xác của tuổi sung sức như hắn có lẽ vô ích. Những hình ảnh lăn lộn, gào thét, của khoái lại luôn nhảy múa trong đầu hắn, xóa mờ đi cả những Khổng/Lão mà hắn được học từ sách vỡ.

Hắn lầm lủi đi trong đêm. Cái lạnh của mùa đông, của tuyết lùa vào, hắn chợt nhớ ra quên đem theo áo ấm.

 

 

Võ Phú

MCV 10.27.03

 

 


NGUYỄN TRUNG TÂY

con sâu, con nhộng,
và con bướm



   
con sâu
    Vậy là con sâu chuyển mình, nóng sốt. Thế là con sâu nằm trong kén, ốm nặng. Năm nào cũng vậy, con sâu phải dính một trận cúm nặng, phải ho nát gan nát phổi, phải hỉ ra bao nhiêu mầu xanh xanh, phải đổi giọng mất tiếng nói khoảng một hoặc hai tuần lễ.
    Hồi mới sinh ra, con đầu lòng thiếu tháng, nó bị nhốt trong lồng kiếng gần hai tuần. Sau một năm nó cao lớn bình thường như những đứa trẻ một tuổi, nhưng hay đau ốm cảm cúm xụt xùi vào mùa đông. Ba nó nói tại cục A-mi-đan ở cổ; trời lạnh cục thịt dư sưng lên; thế là đau. Năm nay nó lại cúm. Không biết nó bị cảm lạnh là tại cục thịt dư như lời ba nó nói, hay tại những con vi khuẩn cảm cúm bay ngập tràn trong căn phòng kiếng của hãng, hay tại tối hôm thứ Tư vừa rồi, trời lạnh, nó đứng ngoài sân nhà hút thuốc.
    Nó hút thuốc cũng khá lâu rồi. Có lẽ từ hồi trung học. Tại áp lực của bạn bè? Chắc vậy. Má nó ghét thuốc lá. Ba nó không hút. Ngũ quỷ, bốn đứa em trai cũng không. Con em út, con gái còn nhỏ không tính. Từ lớp Mẫu Giáo cho tới Lớp Mười Một nó chưa bao giờ đụng tới điếu thuốc nói chi đến chuyện hút. Một lần hồi còn nhỏ theo ba má về Việt Nam thăm họ hàng, nó thấy người Việt Nam hút thuốc khắp nơi, miệng hôi thật hôi! Nhăn trán, bịt mũi, nó kêu hôi quá khi người ta thả khói thuốc vào mặt nó! Họ hàng thì thào,
   
- Thằng Mỹ con này khó tính như quỷ.
    Có một lần mấy thằng bạn lớp Mười Một đè nó ra, nhét thuốc cháy đỏ vào miệng. Mấy thằng còn lại thọt lét nó. Nó cười sặc sụa, hít vào. Cuối tuần nó hay la cà tại những quán bi-da với mấy đứa bạn. Quán bi-da nào cũng vậy, khói thuốc bốc cao ngập trần nhà. Bạn nó bên bàn bi-da, con gái cũng như con trai, đứa nào cũng hút thuốc. Mấy con nhỏ nhìn nó, ánh mắt khinh bỉ. Có cô cười nhếch mép,
- Nếu mày không hút thuốc, tới đây làm chi? Sao không lên San Francisco mà thục bi-da?
Nó đỏ bừng bừng như mặt trời ửng hồng mùa hè. Tự ái con trai tổn thương nặng nề. Cuối cùng nó cầm điếu thuốc đưa lên miệng. Giờ này đã hơn mười năm, hút không ngừng, hút liên tục, hút không cho lá phổi nghỉ ngơi dù chỉ là một ngày. Sáng, mở mắt ra, hai điếu. Tối, nhắm mắt lại, hai điếu. Trong ngày tùy hứng, nếu hứng, đốt hết hơn một gói; không hứng, xấp xỉ khoảng một bao.
    Cô bạn gái đầu tiên thời trung học, sinh nhật nào của nó cũng mua tặng nguyên cây thuốc Malboro đỏ hộp cứng, gói chung với cái áo sơ-mi cổ 15ơ có hai cúc, tay 30/32. Hai đứa hôn nhau, cô thì thào nói không có mùi thuốc Malboro, em có cảm tưởng hôn người khác. Nó nhìn, nhăn mặt, hỏi ai? Chuyện tình chó con, bởi hai đứa cuối cùng cũng bỏ nhau. Giờ cô ta bán bảo hiểm. Có một lần nó gặp người tình cũ đi trên phố với chồng với con. Thằng con có nét mặt của thằng bố. Nó thắc mắc không biết nếu hai đứa lấy nhau, đứa con sẽ giống ai. Nó thắc mắc không biết người chồng của người tình xưa có hút thuốc hay không. Len lén đi theo một hồi, nó tới gần chào hỏi, móc thuốc mời. Người chồng lắc đầu nói tôi không hút thuốc. Kéo đứa con tránh sang một bên, người tình ngày xưa nhăn mặt nhìn người tình cũ phun khói thuốc mịt mù. Tối đó nó thắp nhang vái tám phương tứ hướng, cúng giải oan cho một chuyện tình.
    Cô bạn hồi đại học không hút thuốc, nhưng học xong hai đứa dẫn nhau đi ăn. Thấy nó hút, cô hút theo. Nó trợn mắt, khùng hả? Sang năm thứ ba, không một lời giã từ, cô ta đổi trường đại học. Mùa Giáng Sinh gặp người tình âu yếm một người thanh niên mặt trắng đeo kính trong tiệm ăn, nó ghé lại bàn hỏi chuyện. Mời thuốc, tình nhân không hút mặt lạnh lùng xa vắng. Tối đó nó về nhà hút hết một gói. Ánh sáng trời cao rọi sáng tâm hồn tối đen, nó hiểu nhiều hơn về tình yêu. Nó nhớ lại truyện cổ tích thời Hồng Bàng. Nó hiểu tại sao Thủy Tinh dâng nước đòi Mỵ Nương. Nó, nó không dâng nước, nhưng đi kiếm Mỵ Nương khác.
    Người thứ ba đặc biệt hơn. Cô nói,
   
- Anh muốn hút thì cứ tự nhiên. Nhưng nếu có chuyện xảy đến với anh bởi thuốc lá, em đi kiếm người khác, coi anh như một dĩ vãng.
    Nó ngạc nhiên,
   
- Nếu anh chết vì lý do khác? Thí dụ…bị mấy người khùng căn me bắn sẻ ngoài đường phố. Hoặc…anh bị xe đụng?
   
- Em sẽ ở vậy thờ anh cả đời.
   
- Em ghét thuốc lá đến cỡ đó hay sao?
    Rồi cuối cùng người ta cũng đi mất. Người ta bỏ nó hơn một tháng rồi. Hãng thuốc lá và hãng rượu kiếm thêm được bao nhiêu tiền trong vòng gần một tuần lễ.

    Càng ngày người Hoa Kỳ càng chủ trương bài trừ thuốc lá. Mọi nơi người ta cấm hút thuốc. Khắp nơi người ta đối xử với dân hút thuốc như công dân hạng hai trong xã hội. Bao nhiêu đại phi trường quốc tế trên đất Hiệp Chủng Quốc dẹp bỏ Phòng Hút Thuốc. Bình thường thì cũng không sao, nhưng sau biến cố ngày 11 tháng 9 để hút được một điếu thuốc trong khi ngồi chờ đợi tại phi trường, nó phải vượt qua bao nhiêu hàng rào lính vũ trang ngập tới miệng. Hút xong hai điếu bên ngoài cửa phi trường, nó lại phải cởi giầy, cởi áo khoác, cởi thắt lưng, quần trễ tới rốn, cởi đồng hồ, móc bóp ra trình bằng lái xe, vượt cạn một mình qua hàng rào nhân viên an ninh dầy đặc như kiến đen. Thoát qua được khung cửa dò kim khí có hình dạng như máy chém thời Tây thuộc địa, nó hoàn hồn sờ lại cổ, loay hoay buộc lại dây giầy, mặc lại áo khoác, thắt lại giây lưng, đeo lại đồng hồ, cất bằng lái xe vào lại trong bóp. Mỗi một lần bay, lại thêm một lần nó có thêm nhiều lý do để ghét bỏ Osama bin Ladin. Trong hãng, nơi nó đang làm, tự dưng người ta dẹp bỏ Phòng Hút Thuốc. Thế là cả đám con cái của rồng phun khói phun lửa phải dẫn nhau ra đứng ngồi ngoài trời. Mùa hè thì cũng không sao. Gặp lúc trời lạnh, tuyết đổ, hút được một điếu thuốc cũng thấy nhọc nhằn. Có lần đang đứng phì phèo trong giờ giải lao, xếp đi ngang qua. Nhìn thấy nó, xếp khinh bỉ nói,
   
- Không biết mắc cở hay sao?
    Nó tính cãi xếp ơi, em hút thuốc hay không thì có liên can chi đến ai. Em hút, em đứng nơi công cộng. Em không trốn trong phòng lén lút uống rượu uống bia. Em không nấp trong xó nhà len lén coi phim nhà nghèo. Em không dối vợ trốn con chui lên Las Vegas cờ bạc đỏ đen, bán nhà bán cửa. Nhưng nhớ lại thân phận bọt bèo của mình, nó cười gượng gạo. Cơ hội rồi cũng tới. Có hai ba lần, bị mấy người dưng nước lã tỉnh bơ lên lớp về vụ hút thuốc, nó cười nhếch mép,
   
- Cám ơn. Ba má tôi còn sống đầy đủ.
    Thế là lặng yên. Thế là hết chuyện. Nhưng kỳ thị dân hút thuốc không phải là nguyên nhân chính khiến con sâu muốn nhả tơ làm kén.
    Càng ngày thuốc lá càng mắc. Chính phủ Mỹ chơi ác, nâng cao tiền thuế thuốc lá, nại cớ lấy tiền đó chữa bệnh ung thư phổi và những bệnh hiểm nghèo liên quan đến khói thuốc. Mỗi ngày nó tốn khoảng 5 đô la xanh lè cho 20 điếu thuốc đốt cháy hai lá phổi. Làm một con toán nhân đơn giản, một tháng nó phải xuất ra trên dưới 150 đô la cho mây cho khói. Nhưng tiền bạc cũng không phải là nguyên nhân chính khiến nó muốn trở thành con nhộng.
    Càng ngày sức khỏe của nó càng tệ đi. Năm vừa rồi nó đau hai lần trong vòng một năm. Mùa thu cảm. Mùa xuân cúm. Cách đây hơn ba tuần, trời cuối tháng 10 trở lạnh, nó ho, ho liên tục trong vòng ba ngày. Ngày thứ tư nó ho văng ra một cục nho nhỏ mầu vàng bằng khoảng đầu đũa, mùi hôi hôi. Ngày thứ năm nó ho ra máu. Cục đàm bay ra để lại hai mầu trên miếng giấy lau tay, một mầu xanh xanh, một mầu đỏ tươi. Nó nóng lạnh nhìn bức tranh lập thể hai mầu. Nó không biết tại phổi của nó lủng lỗ chỗ như tổ ong hay tại vì ho, cổ họng xây xát đổ máu đỏ. Nó nghĩ tới bác sỹ, tới nhà thương, tới ung thư phổi, tới những ống những giây lòng thòng quấn quanh người. Nó liên tưởng tới giường bệnh trải khăn trắng. Có thể nó sẽ bị ung thư cổ. Người ta sẽ đục cổ nó, nhét vào một cái còi để nó nói giống như ông bố của thằng bạn. Ông ta hút thuốc hơn ba mươi năm rồi. Giờ này ung thư cổ. Tàn đời. Ngồi trên xe lăn, muốn gì, ông bóp cái còi ngay cổ. Kèn kêu toe toe, thằng bạn chạy lại, đổ bô thay tã. Tối hôm đó nó mơ bị ung thư cổ, ho ra một đống máu rồi bất tỉnh. Tưởng nó chết, người ta khiêng xác quẳng vào hòm. Kèn vướng trên cổ, nó nói không được. Nó bóp kèn. Kèn kêu toe toe. Người ta đậy nắp lại. Tiếng đinh tiếng búa đóng nắp hòm vang dội che lấp tiếng kèn. Nó ngộp thở. Vùng dậy, nó tỉnh cơn ác mộng. Người nó lạnh toát, da nổi sần sượng, trán đổ mồ hôi. Hơn mười năm rồi hút thuốc. Cục đàm xanh lè đỏ tươi sáng nay chạy đuổi sâu vào trong giấc ngủ. Nó sợ! Nó nghĩ tới việc bỏ thuốc. Nó nghĩ tới hình ảnh của con nhộng. Chui vào tổ kén, nhộng chết đi đợi chờ một ngày mới. Ngày đó nhộng sống lại, cắn rách kén, chui ra làm bướm.
    Nhưng nó vẫn không dám chắc cục đàm xanh lè vương máu đỏ là nguyên nhân chính khiến con sâu muốn chuyển mình biến thành con nhộng.

    con nhộng
Tối thứ Tư giữa tháng 11, cơ hội để con sâu biến thành con nhộng đã tới. Bà chủ nhà dáng thướt tha, khó tính, không cho người mướn phòng hút thuốc trong nhà, ngay cả trong căn phòng riêng tư của nó, căn phòng 350 đô la một tháng bao điện nước. Chiều hôm đó nó về tới nhà trễ sau khi xếp gãi tai, cười tươi với hai mươi mấy đứa nhân viên. Cả đám phải ngồi lại trong hãng làm thêm sáu tiếng. Về tới nhà, nó đứng sau sân vườn dưới mái hiên chơi luôn hai điếu thuốc. Khói thuốc nồng nàn thấm sâu vào từng tế bào hai buồng phổi. Khói quyện tròn hòa tan trong máu. Người lâng lâng bay bổng. Trời tháng 11, gió thu thổi xôn xao, gió bấc thổi ớn lạnh. Nó ngứa mũi, ắt xì liên tục! Di di tàn thuốc dưới chân, nó bỏ vô nhà, chui lên giường nhắm mắt, ngủ thẳng một mạch.
    Sáng thứ Năm, nó choàng dậy, căn phòng lạnh ngắt. Nó hắt hơi liên tục. Ắt xì! Ắt xì! Ắt xi! Mười cái ắt xì đều đặn. Mỗi lần ắt xì cách nhau khoảng 5 giây. Ba lần đầu chưa có chi. Lần thứ tư ớn lạnh trong người. Thêm một lần ắt xì, thêm một lần ớn lạnh. Nó nghĩ chắc mình sẽ bị cảm. Rửa mặt, mặc quần áo, nó đề máy nhập vào dòng xe cộ đỏ chóe trên xa lộ. Tới giờ ăn trưa, mắt nó hoa lên, người nóng sốt. Xếp cai nhìn nó,
   
- Mày có sao không? Sao mặt mày xanh lè vậy?
    Mặt xanh lè? Người đang nóng ran như than hồng BBQ, sao mặt lại xanh lè được? Mua dĩa cơm, nhưng nó ăn không hết, bởi lưỡi và cổ đắng nghét. 3 giờ chiều, nó hy vọng xếp đừng nhăn nhăn mặt, đừng lởn vởn đi tới đi lui, đừng gãi tai, đừng cười cầu viện với nhân viên giống như ngày hôm qua. Giờ này tiền bạc chỉ là mảnh giấy vụn. Giờ này nó chỉ muốn được nằm dài trên giường. 3 giờ 30, nó đứng dậy. Về tới nhà, len lén vặn vòi hoa sen nước nóng phòng tắm lên hết cỡ, nó tắm hơi. Tính nhờ bà chủ cạo gió, nhưng nhớ ông chủ nhà mặt mày bậm trợn, có tính ghen; thôi, né đi; không nên chơi dại! Ăn mì, mì không hương không vị. Đổ một nửa tô mì vào thùng rác, nó ra sân nhà đốt thuốc, nhưng miệng sao nhạt phèo. Hơi thuốc vô vị, đắng, nhạt nhẽo như nước cháo nguội. Có lẽ đau nặng, chắc gà toi rồi. Hút không hết điếu thuốc, nó thở dài nhìn đầu lửa đỏ và khói thuốc đang dần dần tan loãng vào trong thinh không. Di di điếu thuốc dưới chân, nó bỏ vô phòng. Trước khi leo lên giường ngủ, nó uống hai viên thuốc cảm.
    Sáng thứ Sáu, nó gục luôn. Nằm trên giường, nó gọi vào trong hãng nói xếp ơi, em bị cúm! Nói xong, nó chìm vào giấc ngủ nặng nề. Bà chủ nhà gõ cửa,
   
- Tui thấy xe chú còn đậu trong sân... Chú đau hả? Mặt sao xanh lét vậy? Ăn cháo không? Tui nấu. Hay là để tui cạo gió cho.
    Nó nhìn người đàn bà. Giờ này ông chồng đi làm, mấy đứa con đi học. Bà chủ hình như mới ngủ dậy. Chắc không phải, bởi tóc tai chải gọn gàng như thế kia. Nghĩ tới ông chủ nhà bắp thịt nở nang, tập tạ đều đặn, cuối tuần hay sách súng đi săn, nó quyết định nhắm mắt lại,
   
- Tôi không sao! Cám ơn bà chủ.
    Nguyên một ngày, nó nằm trong phòng liệt giường liệt chiếu, không ăn uống chi. Ngày đầu tiên trong cuộc đời, nó không hút một điếu thuốc. Người nóng sốt. Mũi tắc nghẹn! Cổ đắng nghét! Tai lùng bùng! Siêu vi khuẩn cảm cúm kéo mền che nó kín mít từ đầu tới chân. Vicks DayQuil ru nó ngủ li bì. Mở mắt ra, gần 3 giờ chiều, lưỡi khô ran.
Nó nghĩ tới điếu thuốc. Nó nhìn lên bàn, gói thuốc Malboro đỏ hộp cứng đang nằm chờ đợi. Nó ho, ho liên tục, ho từng hồi, ho rách trời. Nó nhớ tới lần ho ra máu, mầu máu đỏ tươi vẫn còn đỏ đậm trong đầu như mầu đỏ của gói thuốc Malboro. Nó nghĩ tới ung thư phổi. Tóc rụng xơ xác, da bủng xanh xao, thân thể gầy còm, cổ co rút lại tương tự dân chết đói năm Ất Dậu 45. Nó nghĩ tới ung thư cuống họng với cái kèn thổi toe toe. Nó nghĩ về sức khỏe. Năm nào cũng bị cúm bị cảm. Nó nghĩ về ba người con gái đã đi ngang qua cuộc đời, đặc biệt là người thứ ba. Nó quyết định cầm gói thuốc lên. Mở cửa phòng, nó lê những bước chân chầm chậm ra nhà bếp, những bước chân hụt hẫng trên mây trên khói. Nó nhìn ra ngoài cửa sổ, nắng vàng mùa thu xanh xao bệnh hoạn. Nó bước tới, quẳng gói thuốc vào trong thùng rác, miệng nói,
- Vĩnh biệt người tình.
Bà chủ nhà đang nấu cơm, nhìn nó,
-
Chú đỡ chưa!
Thấy dáng điệu của người thuê phòng, người đàn bà tiếp tục,
-
Mặt chú xám đen à. Để tui cạo gió cho.
-
Cám ơn bà chủ.
- Hay để tui nấu cháo nhé. Cả ngày hôm nay chú đã ăn chi đâu.
-
Cám ơn. Nhà còn nước cam không bà chủ?
Bà chủ mở tủ lạnh, lấy bình nước cam đưa cho nó.
-
Chú cầm lấy mang về phòng đi. Chút nữa tui ra chợ mua thêm.
Nó cầm lấy bình nước cam đi thẳng về phòng. Nó uống thuốc cúm với nước cam. Thuốc ngủ của Vicks DayQuil thấm tan trong máu; máu đưa thuốc ngủ lên đầu; đầu chằng chịt giây thần kinh; giây thần kinh giật chuông gõ trống toàn thân; toàn thân tê tê như bị điện giật. Cứ thế nhộng mơ màng, tiếp tục chết đi trong kén.
Ngày thứ Bẩy, sáng sớm nó thức dậy. Nhìn qua cửa sổ, tuyết mỏng manh đầu mùa bay nhè nhẹ ngoài trời phản chiếu ánh sáng vàng vọt của đèn đường. Mỏi mệt, nó nhìn lên bàn. Gói thuốc Malboro đỏ đã biến mất. Nó nhớ lại tối thứ Năm, biết là đau, thế mà vẫn còn hút thuốc. Nó chép miệng thở dài, không đau nặng cũng uổng đời. Nó nhớ lại chiều hôm qua đã mang gói thuốc đỏ ra chôn sống trong thùng rác của nhà bếp. Nó trằn trọc trên giường, đầu óc liên tưởng tới gói thuốc đỏ tươi đầu lọc thơm mùi thuốc lá. Nó nuốt nước miếng, chui ra khỏi giường. Nó nhón gót đi ra nhà bếp, mở thùng rác tìm kiếm. Bà chủ nhà đã thay bao rác mới. Như vậy gói thuốc của nó phải nằm bên ngoài sân nhà. Vén rèm cửa nhìn ra. Những bao rác nằm xếp lớp bên ngoài đã biến mất. Thôi rồi, sáng nay, sáng thứ Bẩy, Sở Vệ Sinh đã tới nhà hốt rác mang đi. Nó nghĩ tới tiệm tạp hóa 7-Eleven đầu đường mở cửa cả ngày. Nó nghĩ tới cục đàm xanh có máu đỏ trên miếng giấy lau tay mầu trắng. Nó nghĩ tới cái kèn thổi toe toe. Nó nghĩ tới người con gái đã đi vào cuộc đời của nó. Tự ái con trai nổi lên, nó cảm thấy mình hèn! Nó bỏ đi thẳng về phòng. Đồng hồ đỏ tươi con số 5:00.
Năm giờ sáng rồi.
Đã hơn một ngày chất ni-cô-tin không còn được bơm vào người. Hai ngày rồi nó không ăn một hột cơm. Nó lại đi ra nhà bếp. Bây giờ nó mới nhận ra đôi chân run run như đôi chân cò hương khẳng khiu. Người phất phơ như đang đi với gió với mây, như bị điện giật tưng tưng. Nó không hiểu tại sao lại tưng tưng? Tại thuốc Vicks DayQuil hay tại ni-cô-tin đang dẫy dụa gào thét trong từng mạch máu? Nó đổ nước nóng vào tô mì. Hơi nóng quyện vào hương mì bay tỏa lên mũi. Nó ngửi được mùi mì thơm, vị hành khô nồng nàn. Đợi thêm ba phút nữa, nó nhấc đôi tay lên, đôi tay run run như đôi chân xiêu vẹo. Nó lọng cọng, loay hoay, sửa tới sửa lui đôi đũa như người mới biết cầm đũa, rồi đẩy thẳng những sợi mì vào hai lỗ mũi!

con bướm
Ngày Chúa Nhật, nó mở mắt ra. Nắng bình minh của ngày cuối tuần rực rỡ chiếu xiên qua khung cửa. Cơn sốt hình như biến mất. Nó vô phòng tắm, đổ xà-bông vào bồn, mở nước nóng. Mùi xà bông va-ni-la ngào ngạt bay lên thơm ngát hai lỗ mũi, hai lỗ mũi không bị khói thuốc vàng bám phủ gần ba ngày rồi.
Có tiếng gõ cửa phòng tắm. Nó làm lơ không trả lời. Nằm trong bồn nước nóng, nó mơ màng nghĩ tới cánh đồng mùa xuân với những cánh bướm nhởn nhơ tung bay trên thảm cỏ. Có một thời nó là con sâu, lông lá lởm chởm xấu xí. Có một thời nó làm nhộng, chết lặng lẽ trong tổ kén. Bây giờ nó quyết định cắn tổ kén, chui ra làm bướm. Nó mở cửa phòng tắm, bước ra ngoài. Hơi nóng bay tỏa mịt mờ như khói thuốc trong những quán bi-da. Mặt trời chiếu xiên xiên ngang qua hơi nước óng ánh mầu sương sớm. Nó nhìn quanh. Bà chủ nhà bước tới nhìn nó, nhìn hơi nước mịt mờ,
-
Chú mới tắm với nước nóng phải không?
Nó khó chịu. Tiền nhà 350 đồng một tháng bao điện nước, nó trả đều đặn. Bà chủ nhà xót tiền điện, tiếc tiền gas, ngại tiền nước. Mỗi lần biết nó tắm nước nóng, người đẹp đi tới lui nhìn ngó hơi nước bốc mịt mờ trong phòng tắm. Gần một năm chịu đựng. Giờ này tức nước vỡ bờ. Nó nghĩ chắc phải nói một lần cho xong, nếu không cả đời ấm ức. Nó muốn nói dạ tôi mới tắm với nước nóng xong, có chuyện chi không bà chủ.
-
Đúng rồi. Chú đang bệnh. Tắm nước nóng thì tốt nhất. Sao không nói, tui nấu nước nóng với sả cho chú tắm luôn.
Nó ngỡ ngàng nhìn. Người đàn bà tiếp,
-
Hai ngày rồi, thấy chú đau nằm trong phòng, không ăn không uống chi hết. Tui tính nấu cháo cho chú, nhưng hỏi, chú cứ lắc đầu quầy quậy. Sáng nay đi chợ, tui ghé qua tiệm phở mua cho chú một tô xe lửa. Chú tắm xong, ăn phở nóng nhé!
Nó tiếp tục ngỡ ngàng, bà chủ không những đẹp người mà lại còn đẹp nết, nhìn giống như thiên thần.
Bước vào nhà bếp, nhìn thấy tô phở nóng bốc hơi quyến rũ chờ đợi trên bàn, nó ngồi xuống. Kéo ghế ngồi đối diện, người đàn bà gãi gãi trán,
-
Chú vẫn còn liên lạc với vợ chú hay không?
-
Dạ có.
-
Thấy chú ốm đau mấy ngày rồi, tui tính báo cho cô ấy biết. Nhưng tui đâu có số điện thoại của vợ chú.
Bà chủ nhà nhìn, ánh mắt dò hỏi,
- Nếu có dịp, tui sẽ cố gắng nói thêm mấy lời…
Nó cười nhẹ. Người đàn bà đẹp người tốt bụng đâu biết tại sao vợ nó bỏ đi hơn một tháng rồi. Dám bà ta tưởng vợ nó bỏ đi theo trai. Tầm bậy! Cũng tại vợ nó có thai. Nàng nói,
-
Anh à! Anh có hút thuốc hay không, em vẫn thương anh, em vẫn là vợ anh; nhưng, em nói rồi, nếu anh chết vì thuốc lá, em sẽ coi anh như là một dĩ vãng. Bây giờ thì hơi khác. Anh biết em có thai hơn một tháng. Em ngửi mùi thuốc của anh cũng không sao. Nhưng con trong bụng, nó không đi đâu được. Nằm trong bụng em, nó bị ép ngửi khói thuốc của anh. Trong thời gian em có thai, anh tạm ngưng hút thuốc đi. Mai mốt sanh con xong, anh muốn làm gì thì làm.
Nó không chịu. Hai vợ chồng nói qua nói lại mấy câu. Thế là vợ nó bỏ về nhà ở với bố mẹ. Vợ nó nói khi nào em sanh xong, con cứng cáp, em sẽ quay về.
Nó nhìn tô phở cạn nước không còn một sợi phở dưới đáy. Nó cảm thấy khỏe hẳn ra. Cảm cúm hình như biến mất. Nó nhìn bà chủ, cười, nói cám ơn chị, tô phở ngon quá!?


Tháng Mười Hai 2003
Epworth, Iowa


 


Copyright © 2004 VHNT Publications. All rights reserved.