
I. Sống lùi
thời đại.
Vào thập niên 1960, trong một cuộc họp bàn tròn trên tờ Sáng Tạo,
một thành viên trong nhóm đã phát biểu, nếu một độc giả của
ngày hôm nay đọc văn chương của ngày hôm qua (đọc Hồn Bướm Mơ
Tiên, hay Nửa Chừng Xuân chẳng hạn), như vậy là đã sống lùi
thời đại của mình.
Người viết lẩn quẩn mãi với chuyện sống lùi thời
đại nhân đọc Lạc Đạn, và 10 truyện ngắn của Trần Thị NgH
(nhà xuất bản Thời Mới, Canada, 2000). Tuy đầu tay, nhưng lại là tác
phẩm thứ nhì được xuất bản tại hải ngoại, sau tập truyện do nhà
Văn Nghệ, Cali, xuất bản 1999).
Lạc Đạn được viết cách đây 31 năm (1969-1973), nhưng vẫn nằm trong
ngăn kéo của nhà văn. Vì nhiều lý do, trong đó có thời cuộc
(biến cố 1975). Tên truyện như mang sẵn trong nó một định mệnh, và
từ đó, một ẩn dụ. Liệu những độc giả của ngày hôm nay đã
sống lùi thời đại, khi đọc Lạc Đạn?
Chẳng cần tới Lạc Đạn, Trần Thị NgH đã nổi tiếng. Trong bài viết
"Nhìn lại văn chương hải ngoại năm 1999" (đã đăng trên
tuần báo VHNT trên internet, do Phạm Chi Lan chủ trương), người viết
có đưa ra nhận xét, đây là một năm được mùa. Mùa gặt mới
trong đó có cả lúa chín muộn: sự góp mặt của một tác giả như
Trần Thị NgH. Một tác giả trước 1975 tại Miền Nam, vừa xuất hiện
đã gây chấn động giới viết lách ở Sài Gòn, với truyện ngắn
Nhà Có Cửa Khoá Trái. Theo tôi, truyện đầu tay của bà là về
một người đàn ông có vợ, nhân bữa chủ nhật được nghỉ, đi
thăm một người đàn bà không chồng nhưng có con; thằng nhỏ bữa
đó bị đau, anh chàng đi mua thuốc cho đứa nhỏ. Chuyện chỉ có vậy,
nhưng tôi vẫn còn nhớ cái cảnh cô đơn của người đàn ông gầy
còm ốm yếu, ngơ ngơ ngác ngác trước tiệm thuốc tây, trước cuộc
chiến, và trước cuộc tình vụng trộm. Truyện được viết bằng một
giọng văn rất trung tính (neutre), rất không độ
("Không độ của cách viết", Roland Barthes), không lạm dụng
những thủ pháp tu từ, không thảm kịch hóa hoàn cảnh, không có
chất ngổ ngáo, rất NgH như nguời ta thường nhận
định về bà.
Lý do nào, tác giả-độc giả bỏ qua truyện này, khi chọn truyện kia
(Nhà Có Cửa Khoá Trái), như là truyện đầu tay, và là truyện
ngắn tiêu biểu cho giọng văn của bà?
Giữa những truyện ngắn ngổ ngáo, gây chấn động một thời như
"Nhà có cửa khóa trái", và truyện dài Lạc Đạn, có gì
không ăn khớp với nhau, và liệu có phải đây là một trong những
duyên do Lạc Đạn cứ thế nằm trong ngăn kéo của nhà văn, theo
nghĩa: tác giả của nó đã say men chiến thắng, và cứ tiếp tục
cái giọng văn ngổ ngáo, cái con người (một người nữ gốc miền
nam) ngổ ngáo, giấu biệt đi một cái tôi khác (giấu biệt đi một
miền nam khác). Tại sao bây giờ tác giả quyết định in nó? Liệu
chính sự thành công của những truyện ngắn đã kết án Lạc Đạn
phải nằm trong ngăn kéo một thời gian dài 31 năm? Đã biến lạc
đạn thành lạc đạn hay lạc đàn, biến tác giả thành một nhà văn
khác, khác với tác giả Lạc Đạn? Liệu có hai nhà văn
ở đây, một tác giả những truyện ngắn ăn khách, và một tác
giả một truyện dài để trong ngăn kéo?
Lạc Đạn liệu mang bóng dáng định mệnh văn chương Việt Nam: trật
trìa, loạng quạng, chưa bao giờ tìm thấy chính nó, và sau cùng
là
lưu vong, hay phản kháng?
Khi nhìn lại văn học Miền Nam trước 1975, chúng ta không thể không
đặt nó trong bối cảnh lịch sử 1954. Văn chương Miền Nam trước 1975
tưởng như hiền hòa, nhưng ở bên dưới nó, là những đợt sóng
ngầm của những tranh chấp, khác biệt. Không phải tự nhiên mà
nhóm Sáng Tạo hô hào đổi mới khi nhắm thẳng vào nhóm Tự Lực
Văn Đoàn: họ muốn từ biệt một quá khứ văn chương cũng như
một quá khứ của một miền đất, trước khi bắt đầu một cuộc
hành trình đầy bất trắc, và cũng đầy cao ngạo: khởi từ ca dao qua
tự do, đối diện với lịch sử, đối diện với một cuộc chiến mà
họ tự nhủ: không thể trốn chạy. Sống lùi thời đại ở đây,
theo tôi, chỉ có nghĩa:
Không dám đối diện với thời cuộc, ở thời điểm thật nóng
bỏng của nó.
Không phải tự nhiên khi Võ Phiến có những nhận định tối
tăm, rắm rối, õng ẹo - hay mượn chữ của ông, khó bảo
là tuyệt đẹp, khi nhận xét về thái độ của nhóm Sáng Tạo
đối với Tự Lực Văn Đoàn - khi nhận định về nhóm Sáng Tạo mà
đa số là từ miền bắc di cư vào Sài Gòn.
Nên nhớ, khi VP khởi thảo Bộ Tổng Quan Văn Học Miền Nam, nghĩa là
khi viết những dòng đó, trừ Mai Thảo may mắn chạy thoát, nhóm
Sáng Tạo đều ở tù.
Vả chăng, tù thì tù, viết vẫn viết, nhưng phải có dẫn chứng:
chỗ nào õng ẹo, đoạn nào rối rắm.
Ngay cả cuộc tranh luận đôi khi vượt quá phạm vi văn học xẩy ra
ở hải ngoại, giữa một số cây viết, liên quan tới địa vị của
Võ Phiến, giá trị bộ sách viết về văn học Miền Nam trước 1975
của ông, cũng không phải tự nhiên phát sinh, mà có ngấm ngầm
từ trước.
Khi nhân vật lịch sử Nguyễn Huệ được hết ông nhà văn này tới
nhà văn khác cho đội mồ sống dậy
Khi Nguyễn Huy Thiệp có những dòng ưu ái dành cho ông vua (Gia Long) bị
nhà nước Cộng sản coi là cõng rắn cắn gà nhà: giấc mơ
Nguyễn Huệ ra Bắc, đại thắng quân Thanh, giấc mơ một người miền
Nam (Nguyễn Ánh) thống nhất đất nước là một giấc mơ nhằm đảo
ngược định mệnh lịch sử, căn cước quốc gia: bắt buộc, bị
kết án phải Nam tiến.
Khởi từ những ý tưởng trên, chúng ta có thể đọc những tác
giả miền nam như Thụy Vũ, Trần Thị NgH, bằng cách đặt kế bên
những tác phẩm của họ, với của một Võ Phiến, khi so sánh những
nhân vật dám sống hết mình, dám ngỗ ngáo
với những nhân
vật sống quay vào nội tâm, sống với những ý nghĩ cố định, và
thường chịu thua hoàn cảnh
hay một Thanh Tâm Tuyền: giọng văn
trong Lạc Đạn mang hơi hướng một Cát Lầy. Cô gái trong đó như
một em gái miền nam của nhân vật tên Trí (?) trong Cát Lầy.
Chúng ta cũng có thể so sánh với Miền Nam Sâu Thẳm của Faulkner,
nếu đặt tất cả trong bối cảnh lịch sử dẫn tới Cuộc Bỏ Chạy
Tán Loạn.
Bạn có thể đọc Lạc Đạn, khi so sánh với những nhà văn Miền Nam
thuộc những thế hệ trước.
Và mỗi cách đọc như thế, sẽ mở ra những vấn đề khác nhau.
Sau đây, người viết sẽ cố gắng đưa ra một vài cách
đọc Lạc Đạn, khi để nó kế bên những tác phẩm của
một số nhà văn tiêu biểu cho văn chương Miền Nam trước 1975, từ
đó, biết đâu, chúng ta có thể có được một cái nhìn tổng quát
về một thời đại văn học, tạm coi là tự do, cởi mở,
sau 1954 tại một miền đất nước, và, biết đâu, nhìn ra được
những thành công, và thất bại của nó.
Vả chăng, đọc lại những tác giả miền nam trước 1975, theo tôi,
là một cách bới rác - như một việc làm quen thuộc để kiếm sống
của một số người ở trong nước - ra khỏi những tác phẩm của
họ, và như thế, rác rưởi ở đây, còn quan trọng hơn cả những
món đồ đắt giá: tất cả đều đã làm xong nhiệm vụ lịch sử
của nó, hoặc đã bị thâu gom, tịch biên, biến thành tài sản riêng
của một chế độ (người ta chẳng vẫn thường băn khoăn về một
ảnh hưởng miền nam ở những cây viết miền bắc sau 1975?)
II. Quá
khứ không bao giờ chết.
The past is never dead. It's not even
past.
Faulkner, Requiem for a Nun.
Did you ever have a sister, did you?
Faulkner, The Sound and the Fury.
(Bạn đã từng có một người chị hoặc em gái, có không?)
[The] politicians, economic managers, and party officials need a fatherland to carry on
their enterprises. There is no motherland in sight, no more than before.
Christia Wolf
(Tạm dịch: Chính trị gia, giám đốc kinh tế, viên chức đảng cần một
quê cha để thực thi những công trình của họ. Chẳng thấy quê mẹ
đâu hết, so với trước đây, bây giờ lại càng chẳng thấy).
Lạc Đạn là nhật ký của một cô gái. Cha cô là một địa chủ,
thời còn người Pháp, và gia đình sau đó suy sụp do chiến tranh, và
có thể, còn do luật Người Cầy Có Ruộng của ông Diệm. Quê
cha bắt đầu cùng với thời mới lớn của cô gái qua hình
ảnh một ông bố suốt ngày say xỉn. Quê mẹ còn thê thảm
hơn, vì cùng với nó, là ám ảnh
lạc đạn.
Riêng về biến cố, hoặc giản dị hơn, sự cố lạc đạn,
có rất nhiều ấn bản (versions) khác nhau. Nhà Có Cửa Khoá Trái
mở ra bằng câu: Thử tưởng tượng một người đàn ông
đứng tuổi, đứng đắn, như vậy, phải coi đây là giả
tưởng. Võ Phiến có lẽ là người đầu tiên khám phá ra
một Trần Thị NgH, khi ca ngợi hết lời cái đoạn đối
thoại giữa hai người nam và nữ ở trong truyện (Chàng khen: Em can
đảm lắm. Tự nhiên tôi nói lớn, giọng hờn mát: Rồi sao nữa,
trời đất! Nằm yên!), và cái xen từ giã, chàng xin nàng món đồ
lót của nàng làm kỷ niệm cuộc tình. Nhưng trong Lạc Đạn, cảnh đó
diễn ra một cách chân thực hơn, cho thấy một NgH khác: Tôi
nằm ngửa ngó ngược lên trần căn phòng. Đêm ngoài tầm hiểu
biết. Dự nhỏ nhẹ, anh dậy cho em làm vợ chồng. Má ngủ chưa má.
Má biết con đang ở đâu với ai không. Đêm ở xa má lo lắng không
ai kéo chăn lên ngực con, má xót xa nghe con ho rúm ró vặn vẹo. Má
mặc áo túi vải cười nhăn, tóc má búi xổ bạc trắng. Má đi
lại dọn dẹp trong nhà
Con nằm đây làm gì với ai, con trinh bạch
không tội lỗi, con nguyên vẹn của má, con đau xé nổ tung đầm đìa,
con đỏ lòm oan uổng.
Lời khen, khám phá của Võ Phiến là một trong những lý do đưa
đến sự nổi đình nổi đám của Trần thị NgH.
Kundera có nói, những nhận định đầu tiên bám chặt lấy tác phẩm,
đừng mong chi rũ khỏi. Những nhận định đầu tiên của Max Brod, bạn
của Kafka, đã mở ra cả một trường phái 'Kafkology', ai muốn
hiểu Kafka là phải kinh qua trường phái này. Proust còn cay đắng hơn:
Dante sống sót là do có ít người đọc quá! Giả sử người đọc
có cùng một lúc hai ấn bản NgH, liệu họ sẽ chọn ấn bản nào?
******
Vào những thập niên cuối thế kỷ 20, văn chương thế giới, đúng
ra là văn chương Tây phương, giầu có hẳn lên, do đóng góp của
những nhà văn, trí thức đã từng sống dưới chế độ Cộng Sản,
như Czeslaw Milosz, Milan Kundera, Joseph Brodsky
Trường hợp văn học hải ngoại Việt Nam có hơi khác. Trước tiên
nó bắt đầu bằng một biến cố không thể ngờ: cuộc bỏ nước ra
đi sau khi đất nước được thống nhất. Và đây là một dòng văn
chương có khá nhiều bắt đầu, như thể nó cứ phải bắt buộc tiến
về phía trước.
Bắt đầu đầu tiên: Khi biến cố 30 tháng Tư 1975 xẩy ra, có một số
người Miền Nam không phải chứng kiến nó. Họ đã ở hải ngoại
từ trước, hoặc may mắn thoát ra được ngay giờ phút chót. Trong
đó có nhà văn. Thoạt đầu, họ có thể đã nghĩ rằng, dòng văn
chương Miền Nam chấm dứt, như một Miền Nam đã mất để chỉ còn
một Việt Nam.
Theo tôi, cuốn Văn Học Tổng Quan và Văn Học Miền Nam của Võ Phiến
đã được viết ra theo ý nghĩa đó: cố gắng bảo tồn một nền văn
chương đã bị bức tử. Thành công, và thất bại của nó ở do
thời điểm quyết định này, và quan điểm của người viết (về
thời điểm đó).
Nhưng cùng với sự bỏ nước ra đi, một nền văn chương hải ngoại
có một khởi đầu thứ nhì. Khởi đầu thứ nhì này là một khẳng
định: văn chương Miền Nam không thể bị bức tử, hay nói theo nhà
văn và triết gia Pháp, Jean-Paul Sartre: nó bắt đầu cùng với
'cuộc nhân sinh bắt đầu từ phía bên kia của tuyệt vọng' (La
vie humaine commence de l'autre côté du désespoir.). Nó bắt đầu từ
phút xuống cá bé, ra cá lớn, đối đầu với biển cả, bão tố,
hải tặc, và nếu may mắn, tới được trại tị nạn, và sau cùng
tại một đệ tam quốc gia, tức quê hương thứ nhì của người Việt
hải ngoại.
Khởi đầu thứ ba, và đây chính là khởi đầu thứ nhất, của
một nền văn chương thực sự của hai miền đất nước, tại hải
ngoại. Có thể nói đây mới thực sự được gọi là Văn Học
Việt Nam Hải Ngoại: sự gia nhập của những người viết ra đi từ
Miền Bắc.
Khởi đầu thứ tư: sự gia nhập của một nền văn học hải ngoại
trên không gian ảo, đa số là những người viết còn trẻ, cố gắng
vượt thoát để không còn bị vướng mắc vào những 'lỗi
lầm', hoặc những 'băn khoăn' không liên quan gì tới
văn chương, hoặc Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa, Miền Nam Cộng Hòa,
Cuộc Chiến Không Kẻ Thắng Người Bại
Hai tác phẩm của Trần thị NgH xuất bản ở hải ngoại là một ngoại
lệ.
Nghệ sĩ nào cũng muốn tóm bắt chuyển động, nghĩa là cuộc sống,
bằng những thủ thuật, và nắm cứng nó, sao cho hàng trăm năm sau,
khi một người lạ nhìn vô, nó lại chuyển động, lại là cuộc
sống
(Faulkner, Trả lời phỏng vấn do Jean Stein thực hiện, in trong 'Sư
tử ở trong vườn', trang 253.)
Hiểu theo cách đó, sống lùi thời đại, ở đây, có nghĩa là:
làm cho một miền nam đã bị nắm cứng bởi biến cố 1975, lại chuyển
động.
Between grief and nothing I will take grief.
Giữa khổ đau và vô thường, tôi sẽ chọn khổ đau.
(Faulkner, Những cây sồi dại).
Trên báo Partisan Review số Mùa Hạ 2000, Adam Michnik, khi viết về Jan Kott,
một nhà văn Ba lan đào thoát qua Tây phương, đã nhắc tới bài
'Về Nọc Độc' (On Venom, 1982), qua đó, Kott ghi nhận:
'Rắn cắn làm hư cái đầu. Bên trong cái vòng tròn huyền hoặc, cái đầu
luẩn quẩn trong một thế giới ảo. Cái đầu tin vào những lời dối trá, và
không thể phân biệt thực với ảo.'
(A snake bite disables the mind. Inside a magic circle, the mind moves in a fictitious
world, believes in lies, and cannot distinguish reality from illusion).
Ông cho rằng, những mắc míu của tầng lớp trí thức với chủ nghĩa
cộng sản, gia nhập rồi rời bỏ trong chán chường và vỡ
mộng: 'thời điểm vỡ mộng có lẽ là quan trọng nhất'
('the moment of disullusion is perhaps the most important').
Adam Michnik, tác giả bài viết đôi lúc nghĩ rằng, những người
'đòi cái đầu' của Jan Kott có lý của họ: Jan Kott là Không
nghi ngờ chi, ông là một người Cộng Sản. Và là một tay Cộng Sản
thông minh. Và cái nọc độc làm hư cái đầu của những người như
ông, là từ Hegel mà ra (Hegelian venom). Bài viết của Kott, là để
tưởng niệm Adam Wazyk, nhưng Wazyk không hề nhắc tới Hegel. Ông dùng
từ 'bệnh viện tâm thần' (a lunatic asylum). Trong Cầm Tưởng
(hay Cái Đầu Bị Tù, Bị Đeo Vòng Kim Cô, The Captive Mind ), nhà thơ Ba
lan, Nobel văn chương, Czelaw Milosz đã từng tự hỏi: liệu có thể
kiếm thấy sự thực, trong những tư tưởng về 'nọc độc Hegelian'?
Người viết tự hỏi, trong cuộc trốn chạy đất bắc vào năm 1954
của gần một triệu đồng bào, trong số đó, có những nhà văn nhà
thơ: liệu gần triệu con người, trong đó có một dúm nhà văn, là
do bị 'dị ứng' với chủ nghĩa Cộng sản? Dúm nhà văn sau
quây quần thành từng nhóm xoay quanh một tờ báo như là chủ
trương, tiếng nói của họ, như nhật báo Tự Do, tạp chí Sáng Tạo,
tạp chí Bách Khoa, nhóm Quan Điểm, 'lò' Nguyễn Đức
Quỳnh
họ đều dị ứng với chủ nghĩa Cộng Sản, hay là đã
nhận ra hiểm họa, về một nọc độc Hegelian, hay bóng ma của một bệnh
viện tâm thần?
Sở dĩ đặt vấn đề dị ứng, là nhân một bài viết của Đặng
Tiến, [đăng trên Việt Mercury] về bộ sách Tổng Quan Văn Học của
Võ Phiến, tác giả đã cho rằng một số nhà văn như Doãn Quốc
Sĩ
thuộc nhóm Sáng Tạo, chống cộng là do dị ứng. Cũng trong
bài viết, ông cho rằng Võ Phiến mới là nhà văn chống cộng, bởi
vì chính Cộng Sản cũng đã coi Võ Phiến như vậy.
Đặt vấn đề chống cộng hay không chống cộng, khi phải nhận định
một nhà văn, theo tôi, một cách nào đó, là 'miệt thị'
văn chương của chính người đó, và văn chương nói chung.
Theo tôi, phải nhìn những nhà văn Miền Nam trên một bình diện cao
hơn thế: họ đều đã chấp nhận cuộc chiến (dù miễn cưỡng hoặc
không), đã bị cuộc chiến làm cho điêu đứng trong cả hai cuộc
đời: sống và viết. Họ đều chống đối cuộc chiến đó, do đó (do
không tin tưởng ở 'phía bên kia'), người ta cho rằng họ
chống cộng.
Họ đã 'tiên tri' đúng: bên kia đã thắng trận, và đất
nước đã rơi vào thảm họa.
Thế giới đã đứng về phía miền bắc, trong cuộc chiến. Nhưng
những người như Jane Fonda đã ân hận, bây giờ. Tuy nhiên, người
ta chưa từng được nghe một lời ân hận, của chính những người
Việt ở miền nam, có may mắn tránh khỏi cuộc chiến đó, khi chạy ra
hải ngoại trong những năm chiến tranh.
NQT
III.
Ba Mươi Tháng Tư Đọc Thơ Thanh Tâm Tuyền
Đầu năm 78 ở Lào Kay lần đầu tiên nhận được thư nhà, biết tin
anh đi xa. (Vợ tôi viết: "Bố nuôi của Thái đã về quê ngoại
sống, không còn ở Sài Gòn nữa"), tôi như chợt tỉnh sau giấc
hôn thụy. Bài Nhớ Thi Sĩ viết vào lúc ấy đề tặng một thi sĩ
đã mất và gửi Anh, một thi sĩ lưu lạc khi chúng tôi nghĩ chắc
không còn ngày gặp lại. Trong những lời thơ vẳng trong tôi bấy
giờ có cả lời thơ anh.
Thanh Tâm Tuyền: Trong Đất Trời Nhau
Tưởng niệm Mai Thảo, tạp chí Thơ số Mùa Xuân 1998].
Bài nhớ thi sĩ
Nhớ Già Ung *
Gửi MT
Sáng nay thức giấc trong nhà giam
Anh nhớ những câu thơ viết thời trẻ
Bừng cháy trong lòng anh bấy lâu
u ám quạnh quẽ
Ánh lửa mênh mang buổi tình đầu
Mưa bụi rì rào
Gió náo nức mù tối
Trễ muộn mùa xuân trên miền cao
Đang lay thức rừng núi biên giới
Đã qua đã qua chuỗi ngày lạnh lẽo anh tự nhủ
Cũng qua cơn khô hạn khác thường
Tắt theo ngọn nắng chon von mê hoặc
đầu óc quái gở
Từng thiêu đốt anh trên đồi theo vào đêm
hành hạ anh đớn đau
Từ bao giờ anh đứng trân trối cô đơn
Hôn ám trời sơ khai nhìn qua song tù ngục
Hoang vu lời thơ ai reo hát cùng cỏ lá heo hút
Dẫn đưa anh về tận nẻo nguồn
chốn bình minh lẩn lút
(Bình minh bình minh anh kêu khẽ cảm động muốn khóc
Mai Mai xa Mai như hoa Mai về
tình thơ hôm nay)
Em, em có hay kẻ tội đồ biệt xứ
sớm nay về ngang cố quận
Xao xuyến ngây ngô hắn dọ hỏi bóng tối sâu thẳm
Đêm vây hãm lụn dần
Thủ thỉ mưa ru ngày khốn đốn
Em, soi bóng em hồn nhiên trên lối thời gian
Lặng lẽ anh gầy nhóm lửa tinh mơ đầm ấm.
Lào Kay 4/78
Vĩnh Phú 1/79
Thanh Tâm Tuyền, Thơ Ở Đâu Xa
Ghi chú của tác giả:
Già Ung: Giuseppe Ungaretti (1898-1970). Thi sĩ Ý.
Ghi chú của người sao lục:
Bài Nhớ Thi Sĩ của Thanh Tâm Tuyền, qua thi sĩ Nguyễn Hà Tuệ, còn
là sĩ quan cải tạo, đã được nhạc sĩ Hồ Đăng Tín phổ nhạc,
hát giữa bạn tù, tại trại Tân Lập K2.
Độc giả [Thính giả?] đầu tiên của bài thơ, là trại viên Nguyễn
Chí Kham, như tác giả Nắng Hồng Phương Nam cho biết.
Trong đất trời nhau, là từ thơ Mai Thảo: Trong đất trời nhau mình
vẫn gần. Biết tin anh đi xa, là để chỉ Mai Thảo đã vượt thoát.
Quê ngoại là hải ngoại.
Hôn thụy, ngủ mê, như Gấu tôi được biết, là chữ của Tô Thuỳ
Yên, khi chuyển từ "coma" [hôn mê] sang tiếng Việt. Trong một
lần hai anh em ngồi Quán Chùa, TTT tâm đắc với từ này, và gật
gù, 'luý' dịch từ này, hay thật!
IV.
Tiểu Thuyết Chưa Chết
Lại Một Lần Nữa, Ra Tay Nghĩa Hiệp, Bảo Vệ Tiểu Thuyết.
In Defense of the Novel, Yet Again.
Mới đây, tại Hội Những Nhà Xuất Bản Anh, Giáo sư Steiner xổ ra
một miệng chữ:
"Chúng ta ngày càng chán tiểu thuyết... Những thể loại văn học lên,
rồi xuống, nào hùng ca, nào sử thi, nào bi kịch. Những đỉnh cao một
thời, rồi sau đó, tàn lụi. Người ta vẫn còn viết tiểu thuyết, còn lâu
mới thôi viết nó, nhưng, ngày càng là một cuộc tìm kiếm những hình
thức lấp lửng, nửa đực nửa cái, điều mà chúng ta giản dị gọi là thực
tại/giả tưởng...Tiểu thuyết làm gì được, vào những ngày như thế này,
khi nó phải đọ sức với những thể loại mạnh khỏe hơn, thí dụ một bài
phóng sự hảo hạng, hay cả một dòng triều dâng cao là thứ viết trực
tiếp, nhảy xổ vào thực tại?...
'Pindar có lẽ là người đầu tiên trong lịch sử, nói, Bài thơ
này sẽ còn được cất lên khi mà thành phố mà nó ca ngợi đã
mất tăm mất tích, không còn hiện hữu.' 'Thách đố mới cao ngạo làm sao,
như nhổ thẳng vào mặt Thần Chết. Ngày nay, ngay cả một thi sĩ lớn lao
nhất cũng tỏ ra bối rối, khi đành phải đanh đá: Thơ của... tui không
dành cho bạn!'
Thì cũng chỉ là vô thường mà thôi, nhưng cái vô thường cổ
điển kia mới cao ngạo làm sao: " Ta còn mạnh hơn cả cái chết. Ta
có thể xoa đầu nó, ở trong thơ của ta, bi kịch của ta, tiểu thuyết
của ta, bởi vì ta đã chiến thắng nó, bởi vì ta, ít nhiều chi, thì
cũng thường hằng, permanent".
"Nào đâu, những cao ngạo như thế, vào giờ này?"
Thế là một lần nữa, bằng một giọng rổn rảng nhất, lời ai điếu
lại đuợc cất lên. Thì cũng vẫn bản kẽm cũ, lời ca... xưa rồi
Diễm ơi, về một Cái Chết Của Tiểu Thuyết. Cộng thêm vào cái
chết của tiểu thuyết, Giáo sư Steiner kèm thêm cái chết [nếu không
phải cái chết, thì là sự biển đổi triệt để] của Người Đọc,
biến thành đứa con hoang đàng của máy điện toán, một thứ khùng
điên, vô dụng; và cái chết, [hay ít ra, sự biến đổi triệt để
thành một dạng điện tử] của Cuốn Sách, chính nó.
Cái chết của Tác Giả được thông báo cách đây nhiều năm, tại
Pháp - và Cái chết của Bi Kịch thì được chính Giáo sư Steiner thông
báo trước đó, bằng một lời ai điếu hết sức thê lương, để
lại trên sàn diễn xác chết, nhiều hơn cả màn vãn tuồng Hamlet.
Sừng sững, uy nghi, và cũng trơ cu lơ, ở trên sàn diễn, giữa một
đống tử thi, là me-sừ Fortinbras (1), chính luỷ, và trước lủy, tất
cả chúng ta, những người viết của những bản văn không có tác
giả, những người đọc của thời kỳ hậu-văn chương, Căn Nhà
Usher tức kỹ nghệ in ấn, xuất bản - vương quốc Đan Mạch với một
cái gì hư ruỗng ở trong nó - và luôn cả những cuốn sách, tất
cả đều ngả đầu, trước... Nhà Phê Bình, chính luỷ!
Chú thích: (1). Fortinbras: nhân vật trong Hamlet, kịch Shakespeare, cháu gọi
vua Na Uy bằng chú, trong khi Hamlet là con trai vua Đan Mạch. Fortinbras
được coi là con người của hành động, còn Hamlet, của suy tư. Sau
khi H. chết, F. tin rằng, H. mới xứng đáng là vua, nhưng điều này
đâu có ngăn cản chuyện F. đoạt lấy ngai vàng Đan Mạch.
Một nhà văn thế giá cũng vừa mới tuyên bố về sự từ biệt
cõi đời của một thể loại văn học mà ông ta là một trong những
kẻ thực tập nổi tiếng. Ông V.S. Naipaul không những ngưng viết tiểu
thuyết, mà còn bị dị ứng bởi chính cái từ tiểu thuyết: bây
giờ, cứ mỗi lần nghe ai nhắc đến nó là ông cảm thấy bịnh. Cũng
như Giáo sư Steiner, tác giả Một Căn Nhà Cho Ông Biswas cảm thấy
rằng, tiểu thuyết đã sống quá dai, vượt quá hoàn cảnh, thời
điểm lịch sử của nó, không còn có ích, và cũng chẳng còn nhiệm
vụ nào dành cho nó nữa: Mi nên chết đi là vừa. Để cho kẻ khác
thế chỗ mi, đó là cách viết sự kiện [factual writing]. Sẽ chẳng có
ai ngạc nhiên, rằng, ông Naipaul như vậy là đang ở đúng bước
ngoặt của lịch sử, và là người tiên phong, mở ra một thể loại
tân kỳ: Trường phái văn học tân hình thức thời kỳ hậu giả
tưởng *
Chú thích * Ông Naipaul, và bây giờ là Ngài Vidia, mới cho xuất bản
một cuốn tiểu thuyết, Nửa Đời Người, Half a Life, năm năm sau
lời tuyên bố kể trên. Chúng ta phải cám ơn Ngài là đã mang cái
thây ma trở lại với đời sống.
Một nhà văn lớn lao khác, cũng người Anh, đã từng phán:
"Rõ ràng là vào lúc này, thế giá của tiểu thuyết xuống quá
thấp. Thấp đến nỗi câu "Tớ đếch thèm đọc tiểu thuyết",
trước đây người ta còn nói nho nhỏ, và có tí ti ra vẻ xin lỗi,
cảm phiền ở trong đó, bi giờ người ta la vỡ làng vỡ xóm, và
rất ư hãnh diện. Nếu không có những đầu óc kha khá sấn tay vô,
sợ rằng tiểu thuyết sẽ trở nên nhạt phèo, chẳng bõ đọc, trở
thành một thứ dị dạng, giống mấy tấm bia mộ hiện đại."
Geoge Orwell đã viết những dòng trên, vào năm 1936. Người ta nói -
và như Giáo sư Steiner xác nhận - tiểu thuyết chẳng hề có tương lai.
Ngay cả những tác phẩm như Iliad và Odyssey, khi vừa mới ra lò đã
bị mấy ông điểm sách chê lên chê xuống. Những thứ viết tốt
luôn luôn bị tấn công, luôn luôn là bởi những nhà văn tốt.
Cứ nhìn lại lịch sử văn học là thấy rõ, không có đại tác
phẩm nào mà không bị tấn công khi vừa mới xuất hiện. Và [lẽ dĩ
nhiên], chẳng có nhà văn nào mà yên thân với những đồng
nghiệp của mình, một khi tiếng tăm của anh ta /chị ta có vẻ lên giá.
[Gấu tôi lại nhớ tới lời mắng mỏ NHT, về tí tỉ tì ti danh tiếng
quốc tế của ông: mới nho nhoe một tí mà đã...].
Aristophanes đã từng gọi Euripides 'tuyển tập gia những bản kẽm cũ
mèm"; Samuel Pepys coi Giấc Mộng Đêm Hè [của Shakespeare] là 'nhạt
thếch và ngu xuẩn'; Charlotte Bronte ném tác phẩm của Jane Austen vào
thùng rác; Zola coi Ác Hoa của Baudelaire là đồ bỏ; Henry James coi rác
rưởi, những tác phẩm Middlemarch, Đỉnh Gió Hú, Người Bạn Chung
Của Chúng Ta. Và tất cả mọi người đều nhếch mép khinh khi Săn
Cá Voi Trắng [Moby Dick ]. Tờ Le Figaro thông báo, khi Bà Bovary vừa
được xuất bản, tác giả của nó, "Ông Gustave Flaubert không
phải là một nhà văn". Virginia Woolf gọi Ulysses là "thứ đồ
tầm bậy, vô học"; tờ Thư Tín Odessa viết về cuốn Anna Karenina,
"một Marie Sến. [sentimental rubbish].... (1). Hãy chỉ cho tôi một trang
có một mẩu tư duy ở trong đó."
Bây giờ, khi giới phê bình Đức tấn công Gunter Grass, khi, như tiểu
thuyết gia người Pháp, và phê bình gia Guy Scarpetta cho chúng ta biết,
giới văn học Ý "ngạc nhiên" về chuyện thế giới đánh
giá cao hai nhà văn Italio Calvino và Leonardo Scascia , khi, những khẩu cà
nông đều chĩa họng vào Saul Bellow, bắn ra những viên đại bác có
tên là chính trị phải đạo, khi Anthony Burgess "coi nhẹ" Graham
Greene, liền tức thì sau khi ông này mất, khi, Giáo sư Steiner, vẫn
luôn luôn đầy tham vọng như là ngài vẫn là, bắt giò bắt gân,
không chỉ vài nhà văn, mà trọn gói văn học Âu Châu sau khi thoát
ra khỏi cuộc chiến, chúng ta hiểu rằng họ đều đau, nỗi đau hoài
nhớ một thời đại hoàng kim văn hóa, trong đó có tiểu thuyết,
rằng đây là một hoài nhớ lập đi lập lại, giống như chu kỳ của
một thứ bịnh hoàng đởm, về một quá khứ văn học, mà vào lúc
đỉnh cao của nó, chưa chắc đã tới mắt cá chân, hay đầu gối của
nền văn học bi giờ.
[Chú thích: (1) Xin lỗi, đùa nhả một tí. NQT]
Giáo sư Steiner nói, "Gần như là một định đề, rằng bi giờ,
thứ tiểu thuyết loại gộc đến từ vùng biên cương xa vời, từ
Ấn Độ, từ vùng biển Caribbean, từ Mỹ Châu La Tinh,", và một
vài người sẽ cho rằng, tôi là một thằng khùng khi phản đối một
tầm nhìn xa trông rộng, về một trung tâm tiểu thuyết đã cạn kiệt
và một miền ven biên tràn trề sức sống. Nhưng nếu tôi có tỏ ra
khùng khùng man man, một phần là do tiếng than van tiếc nuối cho một
"Trung Nguyên" Âu Châu, của một dòng giống Hán tộc nào
đó, nói rõ hơn, chỉ một tay trí thức Tây Âu mới thốt lên một
lời ai điếu thê lương như vậy, cho cả một nền nghệ thuật, dựa
trên căn bản, rằng, những nền văn chương, thí dụ như của Anh,
Pháp, Đức, Tây Ban Nha không còn là những nền nhất đẳng văn
chương ở trên trái đất này, [người ta không hiểu, Giáo sư Steiner
coi Mỹ Châu là trung tâm, hay là ven biên, thành thử, một tầm nhìn
xa trông rộng theo kiểu bằng bằng, chim bay là là, ở trên mặt trái
đất, như của Giáo sư, thì thật khó mà theo cho nổi. Nhìn từ chỗ
mà tôi đang ngồi, nền văn học Mẽo có vẻ đẹp dáng ra phết].
Vả chăng, mắc mớ gì tiểu thuyết loại gộc đến từ đâu, một khi
mà chúng vưỡn tới? Và trái đất phèn phẹt nào vậy, nơi vị
giáo sư tốt [the good professor] sống, với những người La Mã chán
chường ở "Trung Nguyên" [ở trung tâm], và những người
Hottentots [một giống dân Nam Phi], và những giống dân ăn thịt
người, có tài một cách đáng sợ, ở mãi tít ven biên? Cái bản
đồ mà Giáo sư Steiner có ở trong đầu, là một bản đồ hoàng gia,
và những đế quốc Âu Châu, thì đã tuyệt chủng từ đời tám
hoánh nào rồi. Cả một nửa thế kỷ, mà những sản phẩm văn học
của nó đã chứng tỏ, cho hai vị Steiner và Naipaul, sự suy thoái của
tiểu thuyết cũng là nửa đầu thế kỷ thời kỳ hậu-thuộc địa.
Đâu có chi là khó hiểu, sự kiện, một trường phái tân tiểu
thuyết đang nở rộ, một thứ tiểu thuyết hậu-thuộc địa, "đếch
cần" một thánh địa "Trung Nguyên", [không qui tâm,
de-centered], xuyên-quốc gia, transnational, liên-ngôn ngữ, inter-lingual,
"giao lưu hòa hợp hòa giải" văn hóa, cross-cultural; và trong
trật tự mới này, hay hỗn loạn, hổ lốn thì cũng được, chúng ta
tìm thấy một lời giải thích tuyệt hơn, thú vị hơn, về một vóc
dáng mạnh khoẻ, đỏ da thắm thịt của tiểu thuyết hiện đại, hơn là
quan niệm thoát thai từ Hegel, và ra cái điều bố già, [không có Âu
Châu thì lấy đâu ra tiểu thuyết], của Giáo sư Steiner, rằng, sáng
tạo có ở miền "ven biên", là do, đây là những khu vực
"ở vào giai đoạn sớm sủa của văn hóa trưởng giả, thuộc
một thể loại hoang sơ hơn, thô lỗ hơn, và cũng nhiêu khê hơn".
Nói cho cùng, từ thập niên này tới thập niên kia, chính quyền
Franco đã thành công trong việc bóp nghẹt dòng văn chương [viết
bằng tiếng] Tây Ban Nha, chính vì vậy mà mọi cặp mắt đều nhắm về
những nhà văn tuyệt vời vùng Mỹ Châu La Tinh. Cái gọi là trăm
hoa đua nở ở khu vực này, là hậu quả sự ung thúi thế giới
trưởng giả cũ, cũng như sự sáng tạo hoang sơ cái mới. Và, thật
kỳ cục, khi miêu tả văn hóa cổ xưa, phức tạp và tế nhị
[sophisticated] của Ấn Độ, là như sống trong một thời "xa xưa hơn,
hoang dại hơn", so với Tây Phương. Với những giai cấp thương
mại lớn lao, hệ thống thư lại tỏa rộng ra mãi, sự bùng nổ kinh
tế, Ấn Độ sở hữu một trong những nền trưởng giả rộng lớn
nhất, đầy tiềm năng nhất trên thế giới, và nó là như vậy, bền
lâu, vững chãi, chẳng thua gì Âu Châu. Một nền văn học lớn lao,
khổng lồ, một giai cấp độc giả có học, là chẳng có chi là mới
lạ đối với đất nước này. Cái mới, cái lạ, là, sự trồi
lên, ló đầu, nở rộ, của một thế hệ tài năng những nhà văn
Ấn Độ, viết bằng tiếng Anh (working in English). Cái mới, cái lạ, là
'Trung Nguyên' đã phải để ý tới một "miền ven biên"; miền
ven biên này bắt đầu nói, trong hằng hà sa số những ấn bản, một
thứ ngôn ngữ mà Tây Phương ngày càng dễ hiểu.
Còn cái chân dung mà Giáo sư Steiner vẽ ra, về một Âu Châu cạn
kiệt, theo như suy nghĩ của tôi, là nhảm, thật nhảm. Và cũng thật
dễ dàng chứng minh, rằng nó nhảm, thật nhảm. Năm chục năm chót
của nó đã cho chúng ta, chỉ kể một vài trong muôn vàn, những tác
phẩm của Albert Camus, Graham Greene, Doris Lessing, Samuel Beckett, Italo Calvino,
Elsa Morante, Vladimir Nabokov, Gunter Grass, Aleksandr Solzhenitsyn, Milan Kundera,
Danilo Kis, Thomas Bernhard, Marguerite Yourcenar. Bạn có thể làm một danh
sách của riêng bạn. Nếu tiện tay, bạn thêm vào đó những nhà
văn vượt quá biên giới Âu Châu, thế là bạn có cả một mùa
gặt giầu có như chưa từng giầu có như vậy, những nhà văn lớn
đang sống và đang làm việc cùng một lúc - rằng cái sự bi quan dễ
dãi của Steiner-Naipaul không chỉ làm cho chúng ta chán ngán, mà còn
thật khó tin. Nếu Ngài Naipaul chẳng còn ao ước, và không thể viết
tiểu thuyết nữa, chắc chắn đây là một tổn thất lớn lao cho
chúng ta. Thôi đành vậy, chúng ta bèn tự nhủ thầm, nhưng nghệ
thuật tiểu thuyết, không nghi ngờ chi, [sẽ bĩu dài cái môi, rằng
vắng em thì chợ vưỡn cứ đông, rằng đường ta cứ đi, ruộng ta
cứ cầy, tiểu thuyết ta cứ viết], vẫn sống nhăn răng, đếch cần
tới ông ta.
Theo tôi, chẳng có khủng hoảng ở nghệ thuật tiểu thuyết. Tiểu
thuyết, chính là dị dạng chân trong chân ngoài, nửa đực nửa cái
[hybrid] mà Giáo sư Steiner than thở đó. Trong nó, có phần tra hỏi xã
hội, có tính truyền kỳ mạn lục, hồn ma bóng quế, liêu trai chí dị,
và có luôn cả cái phần thú tội theo kiểu kể trong đêm khuya, hồi
ký viết dưới hầm, lời thú tội của một tên sát nhân... Như
thế, tiểu thuyết luôn luôn vượt đường ranh, về tri thức cũng
như về phong thổ. Tuy nhiên, ngài giáo sư đúng, khi cho rằng, rất
nhiều nhà văn tốt đã làm mù mờ những đường ranh giữa sự
kiện và giả tưởng. Cuốn tiểu thuyết tuyệt vời về Haile Selassie,
The Emperor, của Ryszard Kapuscinski, là một thí dụ đầy tính sáng tạo,
làm sao mù mù ảo ảo giữa hai miền thực và mộng. Cái gọi là
thể Tân Báo Chí được phát triển ở Mỹ, bởi Tom Wolfe và những
người khác, đúng là một toan tính thẳng thừng trấn lột quần áo
của cô tiểu thư có tên là tiểu thuyết. Và trong trường hợp
cuốn Radical Chic & Mau-Mauing the Flak Catchers, hay The Right Stuff, của chính
Wolfe, toan tính trấn lột này đã thành công một cách thật là
thuyết phục. Kiểu vừa đi đường vừa kể chuyện [xin lỗi đã chôm
từ này của "Cụ Hồ"], "travel writing", đã bung ra và
ôm luôn những tác phẩm nặng tính suy tư văn hóa, Danube của Claudio
Magris, thí dụ vậy, hay Biển Đen của Neal Ascherson. (1)
(1): Rushdie quên không kể, cuốn vừa đi đường vừa kể chuyện của
Claude Lévi-Strauss: Tristes Tropiques, Nhiệt Đới Buồn Hiu. Nhan đề này
cũng gây nhiều tranh luận, khi cuốn sách được dịch qua tiếng Anh, do
chẳng có một từ tiếng Anh nào dịch nổi "Buồn Thiu", hay
"Buồn Hiu", như trong ghi chú của người dịch, John and Doreen
Weightman, nhà xb Penguin, 1992.
Kể từ khi cuốn này lần đầu tiên được dịch qua tiếng Anh vào
năm 1955, nó đã nổi tiếng toàn thế giới qua cái tên bằng tiếng
Tây của nó - và do yêu cầu của M. Lévi-Strauss- chúng tôi đã giữ
nguyên tên tiếng Tây cho lần in này. Những cái tít có thể có
bằng tiếng Anh, như "Sad Tropics", hay "The Sadness of the
Tropics", hay, "Tragic Tropics"... không hoàn toàn chuyển hết
nghĩa, hoặc hàm ý của "Nhiệt Đới Buồn Hiu", vì từ này
ôm trong nó tính hài, tính thơ... và còn vì lời than, "Than ôi,
thời oanh liệt nay còn đâu", của một con hổ nhớ rừng!
["Alas for the Tropics"].
Và trước một "tour de force" [một tác phẩm người viết phải
đánh vật với nó], thông minh, sáng chói, như Cuộc hôn nhân của
Cadmus và Harmony, của Roberto Calasso, trong đó việc tái thẩm định
những huyền thoại Hy lạp đã đẩy độc giả tới đỉnh cao của sự
căng thẳng và niềm hoan lạc, mà chỉ những cuốn tiểu thuyết bảnh
nhất mới có thể làm nổi, và người đó, hoặc vỗ đùi bành
bạch, hoặc nghiêng đầu chào đón sự ra đời của một thể loại
mới, một cách viết, tuy "hình thức" thì có vẻ như một
thứ tiểu luận, nhưng "nội dung" thì tràn trề tưởng tượng
[a new kind of imaginative essay writing], hay đúng hơn, sự trở về của lối
viết vui nhộn mà lại mang tính bách khoa của Diderot, hay của Montaigne.
Tiểu thuyết có thể chào mừng những phát triển như vậy, mà chẳng
hề lo sợ, bị đe dọa, hoặc lấn đất giành dân, hoặc đành phải
chấp nhận một cuộc ngưng chiến da beo! Có chỗ cho tất cả chúng ta,
nào chống cộng cực đoan, nào hận thù nam bắc, nào giao lưu hòa
giải, hoà hợp dân tộc!
Cách đây ít năm, tiểu thuyết gia người Anh, Will Self cho ra lò một
cái truyện ngắn tếu "Lý Thuyết Lượng Tử Về Khùng
Điên", trong đó giả dụ, con số khỏe mạnh của nhân loại đã
được ấn định, hoặc có thể là một hằng số; nếu như vậy, toan
tính chữa bịnh khùng cho loài người là vô ích, bởi vì một anh
này ở Việt Nam, thí dụ vậy, được chữa khỏi, thì một ả kia ở
Mẽo chẳng hạn, dính trấu. Cứ thử tưởng tượng tất cả chúng ta
cùng ngủ chung một giường, chỉ có một cái mền, và cái mền này -
tức sự khỏe mạnh - nhỏ quá, không đủ che cho tất cả. Một
người kéo chiếc mền, lập tức mấy ngón chân một người khác
ló ra. Đúng là quá tức cười, nhưng lạ lùng thay, nó làm chúng
ta liên tưởng tới lập luận "cà chớn" [zaniest] của Giáo
sư Steiner, nhưng thay vì cà chớn thì giáo sư trình bầy bằng một
giọng rất ư là nghiêm túc: rằng, tại bất cứ một thời điểm
nào đã cho, đều hiện hữu một tổng số xác định những tài năng
sáng tạo, và vào lúc này, mấy thằng chả kia , tôi muốn nói, ba
cái trò điện ảnh, truyền hình, và ngay cả quảng cáo, kéo cái mền
về phiá chúng nó, thế là cô tiểu thư tiểu thuyết bị hở banh ra,
nằm co ro run rẩy trong cái lạnh khủng khiếp của mùa đông văn hóa
của chúng ta [our cultural winter].
Khổ một nỗi, lý thuyết trên đây "nhảm" ở chỗ, nó giả
dụ mọi tài năng sáng tạo thì giống nhau y chang, nghĩa là cùng một
loại. Áp dụng ý niệm trên vào môn điền kinh là thấy ngay sự phi
lý tổ bố của nó. Con số những cao thủ marathon không hề giảm đi,
một khi môn thể thao này phổ thông mãi ra. Phẩm chất vận động
viên nhảy cao không mắc mớ gì tới con số cao thủ nhảy sào.
Có vẻ như sự xuất hiện những thể loại, những hình thức mới
mẻ của nghệ thuật đã cho phép nhiều nhóm người mới mẻ nhập
vào cuộc chơi sáng tạo. Tôi biết rất ít, những đạo diễn bậc
thầy kiêm luôn tiểu thuyết gia bậc thầy: Satyajit Ray, Ingmar Bergman, Woody
Allen, Jean Renoir, và chỉ có thế. Nụ hôn tuyệt vời mà ông tài tử
lừng danh
gốc Hy Lạp dành cho nàng Lara ở trong phim Vĩnh Biệt Tình Em, theo bạn,
liệu thay thể nổi [và đích xác là] mấy trang, Bác sĩ Zhivago? (1).
Những cao thủ viết kịch bản phim, họ là những cao thủ, chắc chắn
rồi, nhưng họ không suy nghĩ theo kiểu văn chương mà theo kiểu điện
ảnh.
Nói ngắn gọn, sự đe dọa của những môn chơi đòi hỏi kỹ thuật
cao không làm tôi lo âu nhiều, so với Giáo sư Steiner. Có lẽ chính
sự kiện quá đơn giản, nếu nói về kỹ thuật viết [chỉ cần cây
viết mẩu giấy], chính cái đó, đã làm cho văn chương sống sót,
và cứ sống sót hoài. Những phương tiện biểu tỏ nghệ thuật đòi
hỏi con số lớn lao nguồn tài chánh, kỹ thuật tân kỳ, rắc rối,
tinh vi - tôi muốn nói, những trò chơi như điện ảnh, kịch, diã -
chính vì chúng như thế, nên bị tuỳ thuộc, và do đó, bị kiềm chế,
kiểm duyệt, trong khi, làm sao nhà nước toàn trị có thể huỷ diệt
đuợc điều mà nhà văn lặng lẽ làm, trong cô đơn của một gian
phòng?
(1) Nguyên văn: Bạn có thể đọc bao nhiêu trang sách đầy những
chất liệu nóng bỏng của Quentin Tarenrino, bao nhiêu lần những tên
găng tơ của ông ta nói chuyện đợp Big Macs tại Paris, hay là thay vì
đọc, hãy nhờ mấy tay tài tử Samuel Jackson hay John Travolta nói giùm
cho những trang sách đó?
Tôi "chịu" Giáo sư Steiner, khi ông ca ngợi khoa học hiện đại,
'nơi nào có vui chơi hưởng thụ, ăn nhậu đớp hít, là nơi đó có
hy vọng, có nhiệt tình, có ý nghĩa lớn lao về một thế giới cứ
thế mà nối vòng tay lớn mí nhau', nhưng sự bùng nổ sáng tạo mang
tính khoa học này, tức cười thay, là một cú đá giò lái cho
"lượng thuyết sáng tạo" [quantity theory of creativity] của ông.
Ý tưởng những nhà văn lớn đầy tiềm năng sáng tạo bị mất đi,
nhường chỗ cho sự nghiên cứu khoa học tiềm-nguyên tử [sub-atomic],
cho lỗ đen, là một chuyện khó tin, và nếu bạn có nghĩ ngược lại,
thì cũng khó tin chẳng kém. Chẳng lẽ những tác giả nổi tiếng, thí
dụ như Jane Austen, James Joyce, thay vì viết văn, lại chọn một
"thiên hướng" khác, thế là có một Newton, hay một Einstein,
của thời họ?
Trong khi tra hỏi luợng tính sáng tạo trong tiểu thuyết hiện đại,
Giáo sư Steiner đã chỉ lộn hướng cho chúng ta. Nếu có cái gọi là
khủng hoảng tiểu thuyết ở trong văn chương những ngày như thế
này, thì nó thuộc vào một dạng khác, không như giáo sư la hoảng.
Tiểu thuyết gia Paul Auster mới đây có nói với tôi, tất cả những
nhà văn Mẽo đều nghĩ rằng, cái việc viết lách của họ đó chẳng
qua là nhảm nhí, chẳng đi đến đâu, ở cái đất nước Mẽo của
họ, nó giống như đá banh, người Mẽo không thích môn chơi thể thao
đại chúng, ít tốn tiền, dành cho nhà nghèo này. Nhận xét này
giống như một hồi âm cho nhận xét của Milan Kundera, trong tác phẩm
tiểu luận mới nhất của ông, Những Di Chúc Bị Phản Bội, trong đó,
ông phàn nàn, "Âu Châu đã bất lực trong việc chống đỡ và
giải thích [giải thích một cách kiên trì cho chính nó và cho những
người khác], rằng đệ nhất đẳng nghệ thuật của Âu Châu, là
nghệ thuật tiểu thuyết; nói một cách khác, Âu Châu đã bất lực
trong việc bảo vệ và giải thích, văn hóa của chính nó. "Những
đứa con của tiểu thuyết đã bỏ mặc nghệ thuật tạo nên hình dáng
của họ. Âu Châu, xã hội của tiểu thuyết, đã bỏ rơi cái tôi
của chính nó".
Auster đang nói tới cái chết, nghĩa là sự hững hờ của người
Mẽo, đối với việc đọc tiểu thuyết; còn Kundera, cảm quan về một
cái chết , nghĩa là sự cắt đứt liên hệ văn hóa giữa người
đọc Âu Châu, với sản phẩm văn hóa - ở đây, là tiểu thuyết.
Cộng thêm vào đây, đứa trẻ ngày mai của ngài Steiner, một đứa
trẻ mù chữ, mê máy điện toán đến phát khùng, thế là chúng ta
có thể có được cái chết của việc đọc, chính nó.
Mà có lẽ, không phải như vậy. Bởi vì văn chương, nhất là thứ
bảnh, thứ hảo hạng, không phải là món hàng ai ai cũng quan tâm, ai
ai cũng vồ vập. Quan trọng văn hóa của nó không phải ở chuyện
đánh đấm xếp hạng, mà là, nó bảo cho chúng ta biết, về chính
chúng ta, và chúng ta không thể kiếm thấy những lời chỉ bảo đó,
ở những môn nghệ thuật khác. Và thiểu số - thiểu số những con
người được sửa soạn và sẵn sàng bỏ tiền ra mua sách tốt để
đọc - thiểu số này lạ lùng sao, chưa từng nhiều như vậy, so với
trước đây. Vấn đề phải quan tâm, là vấn đề này. Đừng lo
lắng đến cái chết của độc giả, mà hãy để ý đến sự hoang
mang, sững sờ của họ.
Tại Mẽo, trong năm 1999, hơn năm ngàn tiểu thuyết mới đã được
xuất bản. Năm ngàn! Chỉ cần năm trăm cuốn tiểu thuyết có thể
xuất bản được, và được viết ra trong một năm, như vậy đã là
một phép lạ! Phép lạ biến thành "phép lạ của phép lạ",
nếu trong số năm trăm cuốn có thể xuất bản được đó, có năm
chục cuốn thuộc loại tốt. Và cả nhân loại chúng ta sẽ mừng rú
lên, nếu trong số năm chục cuốn tốt đó, có một cuốn, một và
chỉ một mà thôi, là "một" đại tác phẩm!
Đám xuất bản, nhà nào nhà nấy, in sách ào ào, là bởi vì
những biên tập viên tốt bị cho về vườn và không cần người thay
thế, và ám ảnh về con số doanh thu khiến không còn phân biệt nổi
tác phẩm xấu và tốt. Hãy để cho thị trường sách vở quyết
định, hình như đa số các nhà xuất bản đều nghĩ như vậy. Cứ tống
hàng ra, thế nào cũng có cuốn dính! Thế là năm ngàn cuốn bầy ê
hề trên quầy, và sau đó, từ trên quầy rớt xuống "lò
thiêu", bao thứ lửa quảng cáo cũng chẳng làm sao cứu nổi.
Đúng là một cuộc hành trình tự huỷ. Như Orwell đã nói từ năm
1936 - Bạn thấy đấy, làm có gì mới ở dưới ánh mặt trời -
'quảng cáo giết tiểu thuyết'. Độc giả, thất lạc giữa khu rừng
nhiệt đới, gồm toàn là những tiểu thuyết rác rưởi, và thấy
mình trở thành thô bỉ, vì thứ ngôn ngữ quảng cáo ngoa dụ chẳng
còn có chút giá trị mà cuốn nào cuốn nấy tự khoác cho nó, bèn
dơ cả hai tay lên trời than, tớ chịu thua, tớ bỏ cuộc! Mỗi năm,
tớ mua chừng vài cuốn được giải này giải nọ, có thể, một hai
cuốn của những tác giả mà tớ biết tên, và sau đó, tớ bỏ
chạy! In ào ào, và ngoa dụ quảng cáo khiến người đọc đếch thèm
đọc sách nữa! Vấn đề không phải là, quá nhiều những cuốn
tiểu thuyết câu một số quá ít độc giả, mà là, quá nhiều cuốn
tiểu thuyết xua đuổi một số quá ít đọc giả chạy vãi linh hồn [1]
ra quần!
Nếu in một cuốn tiểu thuyết đầu tay là "đánh bạc chống lại
thực tại", như Giáo sư Steiner đề nghị, thì vấn đề này phần
lớn là do in ào ào, cứ nhắm mắt in cầu may, mà ra. Vào những
ngày này, người ta nói tới một tinh thần làm
ăn mới, tàn nhẫn về tiền bạc trong xuất bản. Nhưng cái mà
người ta cần, là một sự tàn nhẫn trong biên tập, thứ tuyệt
hảo. Chúng ta cần một cái nhìn khác, một cái nhìn trở lại, trong
nhận định, đánh giá.
Và còn một thứ nguy hiểm khác nữa mà vị Giáo sư Steiner này quên
không nhắc tới, đó là, sự tấn công vào tự do trí thức, chính
nó; tự do trí thức, không có nó, không có văn chương. Vả chăng,
đây đâu phải là nguy hiểm mới. Một lần nữa,George Orwell, vào
năm 1945, đã dâng tặng cho chúng ta một lời khuyên thật khôn ngoan,
rất ư là có giá trị đương thời, và xin bạn tha lỗi cho tôi, về
câu trích dẫn hơi dài dòng, sau đây:
"Vào thời đại của chúng ta, tư tưởng tự do trí thức bị tấn
công ở cả hai phiá. Một phiá, là những kẻ thù lý thuyết, nhũng
tên ca tụng chế độ toàn trị, [hay, những tên cuồng tín, nói như
vậy hợp thời hơn, vào những ngày như thế này],; và ở phiá kia,
những kẻ thù sờ sờ, đó là quốc doanh, độc quyền và thư lại.
Trong quá khứ [.....], những ý niệm về nổi loạn và sự vẹn toàn
về trí thức, chúng trùng khớp với nhau, có thể nói, là một.
Một tay dị giáo, theo tà thuyết - về chính trị, đạo đức, tôn giáo,
hay về cái đẹp - là một con người nào đó, người này từ chối
hiếp đáp, chính luơng tâm của mình, từ chối vứt lương tâm của
mình vào thùng rác.
[Vào những ngày như thế này], có một đề nghị rất ư là nguy hiểm
[đó là], tự do là thứ đếch xài được, chẳng ai thèm
[undesirable] , rằng, lương thiện trí thức là một hình thức ích kỷ
chống lại xã hội, anti-social selfishness.
Những kẻ thù của tự do trí thức luôn luôn cố làm cho người ta
tin rằng, nếu chúng chống tự do trí thức, vì đây là một điều
rất cần làm, một thứ kỷ luật đề ra, vì đám đông, vì tập thể,
một cá nhân là cái thống chế gì, so với nhân dân! Nhà văn nào
mà từ chối bán ngòi bút của mình, chúng bèn gán cho họ là
những tên vị kỷ, thứ đồ chỉ biết có mình nó, đâu cần biết
đến người khác. Nhà văn như thế, bị buộc tội, hoặc là, tự
nhốt mình vào trong tháp ngà, hoặc, coi mình như là một nơi trình
diễn, của chính cá nhân mình, hoặc một kẻ đi ngược lại trào lưu
của đất nước, ngược lại ba ngọn trào cách mạng, chỉ để nhằm
bấu víu, bảo vệ những đặc quyền không làm sao biện minh được
nữa của giới viết lách. [Nhưng], muốn viết không cần luồn lách,
là phải suy nghĩ không sợ hãi, và nếu người nào suy nghĩ không
sợ hãi, thì người đó không thể nào chấp nhận một đường lối
chính trị chính thống."
Sức ép của quốc doanh độc quyền và của chế độ thư lại, chủ
nghĩa tổ hợp cá lớn nuốt cá bé, bảo thủ, hạn chế và thu hẹp
phạm vi và phẩm chất của xuất bản, những chuyện đó, bất cứ
một nhà văn hiện đang viết, đều biết. Về sức ép của điều
không thể chấp nhận được, và của kiểm duyệt , bản thân tôi,
mấy năm gần đây, được biết khá nhiều, phải nói là bội thu
hiểu biết. Có rất nhiều những cuộc chiến đấu như thế đang xẩy ra
trên thế giới: Tại Trung Quốc, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Nigeria,
những nhà văn bị kiểm duyệt, phiền nhiễu, làm khó dễ, bỏ tù,
và bị giết nữa. Ngay cả ở Âu Châu, ở Hoa Kỳ, những "đội
quân dông bão" [ám chỉ những những tên Nazi], những tên
"biệt kích" [commandos] , của đủ thứ máu nóng, lạnh, đủ
thứ "cảm tính", chúng tìm cách hạn chế tự do ăn nói của
chúng ta. Chưa bao giờ quan trọng bằng lúc này, tiếp tục bảo vệ
những giá trị nhờ chúng mà có nghệ thuật tiểu thuyết . Cái chết
của tiểu thuyết thì có thể còn xa, nhưng cái chết dữ dội của
nhiều tiểu thuyết gia đương thời, than ôi, là một sự kiện không
làm sao tránh được. Mặc dù vậy, tôi không tin rằng những nhà
văn lại từ bỏ giấc đại mộng, tác phẩm của ta sẽ trường tồn
cùng với hậu thế, sau khi ta đã ngỏm củ tỏi rồi. Điều mà George
Steiner gọi một cách thật đáng yêu "vô thường thôi, nhưng
thật là cao ngạo", của văn chương, vẫn luôn luôn nóng bỏng ở
trong chúng ta, cho dù, như ngài giáo sư nói, chúng ta tỏ ra bối rối,
khi phải nói ra công khai. [Trong mỗi chúng ta đều có một Sài Gòn
âm ỉ cháy. Tôi đốt lên ngọn nến của tôi, để cho Sài Gòn của
bạn sáng ngời. NQT: Lần Cuối Sài Gòn]. Nhà thơ Ovide đã đánh dấu
chấm hết cho tác phẩm Metamorphoses của ông bằng những vần thơ đầy
tin tưởng:
Nhưng, với tất cả tinh hoa ở trong tôi
Tôi sẽ chiếm được địa vị cao vời vợi, tuyệt vời hơn cả muôn
sao
Tên của tôi sẽ không thể xóa nhòa và sẽ còn mãi mãi.
Tôi chắc chắn, ở trong trái tim của từng nhà văn, đều có cùng
một tham vọng như vầy: người đời còn nhắc nhở đến tôi, trong
những ngày sẽ tới, cùng cái điều mà nhà thơ Rilke nghĩ về
Orpheus:
Orpheus sẽ đời đời là thiên sứ
Đi qua địa ngục
Mang cho đời hoa trái ngời ngời.
Tháng Năm 2000
Salman Rushdie
Jennifer Tran dịch
[Nguyên bản tiếng Anh được in trong Step Across This Line, [Hãy bước qua
đường ranh này] tuyển tập những bài viết phi-giả tưởng 1992-2002,
ấn bản bìa mỏng của nhà xb Modern Library, 2003, website:
http:// www.modernlibrary.com
Chú thích:
[1] Chữ "vãi linh hồn" này, mượn của nữ văn sĩ Phạm Hải
Anh
V. Đọc Nguyễn Ngọc Tư.
Lần đầu đọc, trên một tờ báo địa phương, Một Mối Tình, với
cái tên Nguyễn Thị Ngọc Tư, mê quá, Gấu tôi bèn lóc cóc type, post
ngay lên Tin Văn.
Hỏi, có phải một tác giả trong nước. Trả lời, không.
Cho tới bi giờ, Gấu tôi vẫn chưa thể biết, Nguyễn Thị Ngọc Tư của
Một Mối Tình, và Nguyễn Ngọc Tư , là một?
Nếu bạn nghĩ văn chương Việt Nam bi giờ ẹ lắm, và nhà văn Việt
Nam bi giờ dốt quá, Gấu tôi khuyên, nên tìm đọc Nguyễn Ngọc Tư.
Nhân vật nam trong truyện của bà, đa số thường bội bạc, và
thường bỏ đi, theo một hình bóng khác.
Hình bóng khác này, phải chăng là một... lý tưởng?
Nhà văn gốc Ấn độ, tác giả những vần thơ của quỉ, Rushdie, trong
cuốn Nụ Cười Của Con Báo, viết:
Khi chính quyền Reagan khởi động cuộc chiến chống Nicaragua, ông thấy
mình đứng về xứ sở nhỏ bé của một lục địa [Trung Mỹ] mà ông
chưa từng đặt chân tới. Và ông ngày càng quan tâm, "bởi vì,
nói cho cùng, bản thân tôi là một đứa con của một cuộc nổi dậy
thành công, chống lại một quyền lực lớn, ý thức của tôi, là
sản phẩm của cuộc chiến thắng của cuộc cách mạng Ấn Độ."
"Nhưng có lẽ, điều trên còn thực, ở chỗ này, rằng những
người như chúng tôi, vốn không hề có nguồn gốc ông bà ông
vải, từ những xứ sở Tây Phương, hay Phương Bắc, chúng tôi cùng
có chung một điều gì đó - chắc chắn không phải là một điều chi
thật là giản đơn, thí dụ như, những con người thuộc thế giới
thứ ba - nhưng ít ra, cái cảm nhận chung của chúng tôi, là một cảm
nhận thế nào là yếu đuối, thế nào là một cái nhìn từ dưới,
ngước lên trên....".
Và khi có cơ hội tới Nicaragua, ông thú nhận, không tới, với ý
nghĩ, mình giản dị chỉ là một quan sát viên không đứng về phe nào.
Tôi nghĩ, những người nhận xét văn học Việt Nam bi giờ ẹ quá,
là do, họ chưa hề cảm nhận, có một nền văn học khác hẳn nền
văn học của miền bắc. Nền văn học của miền bắc, theo tôi, là
một nền văn học chưa hề biết đến cái cảm thức, thế nào là
yếu đuối. Thế nào là từ dưới ngó lên. Sự thất bại của Tự
Lực Văn Đoàn cho thấy cái nhìn kẻ cả ở trên cao ngó xuống
người dân quê mở đường cho nền văn chương 'hiện thực xã hội
chủ nghĩa", cho chính sách "tam cùng", của Cộng Sản.
Liệu những nhà văn miền nam theo miền bắc, khi viết Hòn Đất,
Những Bức Thư Từ Tuyến Đầu Tổ Quốc, họ cảm nhận ra sự yếu
đuối của miền nam, và cầu cứu người anh em ruột thịt miền bắc?
(1)
Chiến thắng miền nam càng làm cho nó - nền văn học cách mạng,
chuyên chính vô sản, cái nhìn sử thi... - một thêm kiêu hãnh. Lẫm
liệt một thời, Nguyễn Khải đã từng tự hào.
Phải nhìn như thế, mới thấy tầm mức, ảnh hưởng, sự quan trọng,
và cần thiết, của những nhà văn như là DTH, hay NHT.
Và, lẽ tất nhiên,
Nguyễn Ngọc Tư.
Nói NNT là thuộc truyền thống những nhà văn miền nam như Hồ Biểu
Chánh chẳng hạn, thực ra cũng chỉ đúng có phân nửa. Thời HBC,
chưa có cái vụ bỏ vợ bỏ con chạy theo... lý tưởng, ở mãi miền
bắc!
Chú thích: Mấy ông này, nói theo Võ Phiến, thoắt ở trong nam với
một bút hiệu, thoắt lại ra bắc với bút hiệu khác
VI.
Tởm
Người ta đã nói nhiều về những tội ác của chế độ cộng sản.
Ít ai cho biết, tôi đã tởm chế độ đó đến mức như thế nào.
Câu chuyện sau đây là của nhà văn, nhà thơ lưu vong người Balan,
Czeslaw Milosz, Nobel văn chương 1980, trong tác phẩm Milosz's ABC's.
Disgust
Józef Czapski là người kể cho tôi [Milosz] câu chuyện sau đây, xẩy ra
trong thời kỳ Cách Mạng Nga.
Tại một tiệm ăn ở một ga xe lửa, có một thực khách, qua cách
ăn mặc, dáng điệu cho thấy đây là người thuộc tàn dư chế độ,
tức tầng lớp trí thức thời tiền chiến. Ông ta đang ngồi ăn
tối. Sự hiện diện, cách ăn mặc, ăn nói theo kiểu tàn dư chế
độ như thế của ông khiến một đám vệ binh đỏ [chữ của Milosz:
đám du đãng] trong tiệm ăn để ý. Chúng kéo tới bàn ông, và
bắt đầu diễu cợt, xỉ vả, bầy đủ trò khốn kiếp. Ông tàn dư
chế độ cố coi như không, vẫn thản nhiên từ tốn ngồi ăn. Tới
mức chúng nhổ nước miếng vào dĩa xúp. Ông tàn dư không tìm
cách chống cự, hay là tự bảo vệ lấy thân, và cũng chẳng có ý
định xua đuổi đám khốn kiếp. Chuyện cứ thế xẩy ra trong một
khoảng thời gian.... Bất thình lình, ông tàn dư bèn đứng dậy, rút
khẩu súng lục từ trong túi ra, và đưa ngay mõm súng vào trong mõm
mình, và đoàng một phát.
Hiển nhiên là, mức tởm lợm tràn quá ly. Chẳng nghi ngờ chi, ông
ta là một thứ người mảnh mai, được giáo dục, dậy dỗ, và
trưởng thành trong một môi trường mà một con người như thế dư
sức sống, và sống thật là đầy đủ cái phần đời của mình mà
Thượng Đế cho phép, nghĩa là được bảo vệ để tránh xa khỏi
thực tại tàn bạo được tầng lớp hạ lưu chấp nhận như là lẽ
đương nhiên ở đời. Nếu không, Thượng Đế đâu có đẩy ông ta
vào thế gian này?
Nhưng cuộc Cách Mạng Nga đã làm lộn tùng phèo hết tất cả, chính
những cái độc ác tàn nhẫn của giai cấp hạ lưu lại trở thành
khuôn mẫu của cuộc sống hàng ngày.
Tatyana Tolstaya, trong một bài người viết tình cờ đọc đã lâu, khi
còn ở Trại Cấm [trại Sikiew, Thái Lan], và chỉ được đọc qua bản
dịch, Những Thời Ăn Thịt Người (đăng trên tờ Thế Kỷ 21), cho
rằng, chủ nghĩa Cộng-sản không phải từ trên trời rớt xuống,
cái tư duy chuyên chế không phải do Xô-viết bịa đặt ra, mà đã
nhô lên từ những tầng sâu hoang vắng của lịch sử Nga. Người
dân Nga, dưới thời Ivan Bạo Chúa, đã từng bảo nhau, người Nga
không ăn, mà ăn thịt lẫn nhau. Chính cái phần Á-châu man rợ đó
đã được đưa lên làm giai cấp nồng cốt xây dựng xã hội chủ
nghĩa. Bà khẳng định, nếu không có sự yểm trợ của nhân dân Nga,
chế độ Stalin không thể sống dai như thế. Puskhin đã từng van vái:
Lạy Trời đừng bao giờ phải chứng kiến một cuộc cách mạng Nga!
Bây giờ đọc lại Phan Khôi, liệu chúng ta có thể hiểu ông nhiều
hơn, khi không giản lược câu chuyện ông kể, về Cỏ Cụ Hồ, chỉ
là một cách xả xú báp của một vị thâm nho, trước chế độ độc
tài, theo suy nghĩ châm biếm, hài hước là khí giới của kẻ yếu
thế. Trong Nhân Văn Giai Phẩm, ông kể chuyện Điện Biên, và sự
xuất hiện một thứ cỏ tại vùng này. Cỏ nở hoa, "không thể
ngửi được". Người Miền Bắc gọi là hoa cứt lợn (heo). Nhưng
người dân Điện Biên vì thấy cỏ xuất hiện cùng lúc với quân
đội Cộng Sản, nên gọi là Cỏ Cụ Hồ.
Milosz, trong bài viết trên viết, chính sự tàn bạo, thiển cận, tầm
thường, hạ cấp kia ăn ở dài dài với Cách Mạng Nga, trở thành
mặt nổi, một tính chất của cuộc sống Xô viết. Vào năm 1939 dân
chúng tại Wilno và Lwow đột nhiên khám phá ra cái vẻ xám xịt và
xấu xí của cuộc sống này. Nhân đó, tôi bèn đưa ra một giả
thuyết để cắt nghĩa sự tự huỷ mình của nhà văn Stanislaw Ignacy
Witkiewicz. Ông tự tử, không phải vì bị khủng bố, nhưng mà là do
quá ghê tởm về những gì mà ông biết rằng chúng sẽ xẩy ra y
chang như thế, và đã được ông miêu tả nơi chương chót của cuốn
tiểu thuyết Vĩnh Biệt Mùa Thu.
Nhà văn Anh, George Orwell, chắc chắn là chưa đọc Witkiewicz, nhưng miêu
tả cuộc sống thường nhật dưới sự kiểm tra của Luật Lệ
Mới, y chang như của Witkiewicz, trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng
1984.
Cái không khí xám xịt, bẩn thỉu, chán chường, cái mùi vị toát ra
từ những quán cà phê rẻ tiền
Gọi đó là cảm tính mỹ
học chẳng làm cho chúng ta rũ sạch nó. Tốt hơn, nên tự hỏi,
tại sao thảm như thế, cái cuộc đời không làm sao mà chịu đựng
nổi, và dưới những điều kiện như thế, con người rồi sẽ ra sao.
Từ đó, dẫn tới kết luận, điều cần thiết, là phải bảo vệ con
người, và nếu quá ư khẩn thiết, đành phải cuộn cho nó vài ba
cái vỏ, là những ảo tưởng.
Câu chuyện tởm mà Milosz kể trên cũng đã từng xẩy ra cho nhà thơ
Vũ Hoàng Chương.
Nghe kể lại, Cộng Sản bắt ông, biết ông nghiền, không cho tiếp tế
thuốc, tới lúc ông vật vã, không chịu nổi, chúng chìa thuốc ra
nhử, nói, viết tự kiểm đi, là có liền. Ông tởm quá, cầm
thuốc ném ra bên ngoài, rồi sau đó, lịm đi luôn.
Sau đây là một vài câu thơ của thi sĩ, sáng tác sau 1975.
Đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ
Mũ tai bèo che khuất tương lai.
Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.
Nhân đây cũng xin gióng tiếng chuông báo nguy, về tình trạng bịnh
nặng của phu nhân nhà thơ, qua lời cầu cứu Tởm
Người ta đã nói nhiều về những tội ác của chế độ cộng sản.
Ít ai cho biết, tôi đã tởm chế độ đó đến mức như thế nào.
Câu chuyện sau đây là của nhà văn, nhà thơ lưu vong người Balan,
Czeslaw Milosz, Nobel văn chương 1980, trong tác phẩm Milosz's ABC's.
Disgust
Józef Czapski là người kể cho tôi [Milosz] câu chuyện sau đây, xẩy ra
trong thời kỳ Cách Mạng Nga.
Tại một tiệm ăn ở một ga xe lửa, có một thực khách, qua cách
ăn mặc, dáng điệu cho thấy đây là người thuộc tàn dư chế độ,
tức tầng lớp trí thức thời tiền chiến. Ông ta đang ngồi ăn
tối. Sự hiện diện, cách ăn mặc, ăn nói theo kiểu tàn dư chế
độ như thế của ông khiến một đám vệ binh đỏ [chữ của Milosz:
đám du đãng] trong tiệm ăn để ý. Chúng kéo tới bàn ông, và
bắt đầu diễu cợt, xỉ vả, bầy đủ trò khốn kiếp. Ông tàn dư
chế độ cố coi như không, vẫn thản nhiên từ tốn ngồi ăn. Tới
mức chúng nhổ nước miếng vào dĩa xúp. Ông tàn dư không tìm
cách chống cự, hay là tự bảo vệ lấy thân, và cũng chẳng có ý
định xua đuổi đám khốn kiếp. Chuyện cứ thế xẩy ra trong một
khoảng thời gian.... Bất thình lình, ông tàn dư bèn đứng dậy, rút
khẩu súng lục từ trong túi ra, và đưa ngay mõm súng vào trong mõm
mình, và đoàng một phát.
Hiển nhiên là, mức tởm lợm tràn quá ly. Chẳng nghi ngờ chi, ông
ta là một thứ người mảnh mai, được giáo dục, dậy dỗ, và
trưởng thành trong một môi trường mà một con người như thế dư
sức sống, và sống thật là đầy đủ cái phần đời của mình mà
Thượng Đế cho phép, nghĩa là được bảo vệ để tránh xa khỏi
thực tại tàn bạo được tầng lớp hạ lưu chấp nhận như là lẽ
đương nhiên ở đời. Nếu không, Thượng Đế đâu có đẩy ông ta
vào thế gian này?
Nhưng cuộc Cách Mạng Nga đã làm lộn tùng phèo hết tất cả, chính
những cái độc ác tàn nhẫn của giai cấp hạ lưu lại trở thành
khuôn mẫu của cuộc sống hàng ngày.
Tatyana Tolstaya, trong một bài người viết tình cờ đọc đã lâu, khi
còn ở Trại Cấm [trại Sikiew, Thái Lan], và chỉ được đọc qua bản
dịch, Những Thời Ăn Thịt Người (đăng trên tờ Thế Kỷ 21), cho
rằng, chủ nghĩa Cộng-sản không phải từ trên trời rớt xuống,
cái tư duy chuyên chế không phải do Xô-viết bịa đặt ra, mà đã
nhô lên từ những tầng sâu hoang vắng của lịch sử Nga. Người
dân Nga, dưới thời Ivan Bạo Chúa, đã từng bảo nhau, người Nga
không ăn, mà ăn thịt lẫn nhau. Chính cái phần Á-châu man rợ đó
đã được đưa lên làm giai cấp nồng cốt xây dựng xã hội chủ
nghĩa. Bà khẳng định, nếu không có sự yểm trợ của nhân dân Nga,
chế độ Stalin không thể sống dai như thế. Puskhin đã từng van vái:
Lạy Trời đừng bao giờ phải chứng kiến một cuộc cách mạng Nga!
Bây giờ đọc lại Phan Khôi, liệu chúng ta có thể hiểu ông nhiều
hơn, khi không giản lược câu chuyện ông kể, về Cỏ Cụ Hồ, chỉ
là một cách xả xú báp của một vị thâm nho, trước chế độ độc
tài, theo suy nghĩ châm biếm, hài hước là khí giới của kẻ yếu
thế. Trong Nhân Văn Giai Phẩm, ông kể chuyện Điện Biên, và sự
xuất hiện một thứ cỏ tại vùng này. Cỏ nở hoa, "không thể
ngửi được". Người Miền Bắc gọi là hoa cứt lợn (heo). Nhưng
người dân Điện Biên vì thấy cỏ xuất hiện cùng lúc với quân
đội Cộng Sản, nên gọi là Cỏ Cụ Hồ.
Milosz, trong bài viết trên viết, chính sự tàn bạo, thiển cận, tầm
thường, hạ cấp kia ăn ở dài dài với Cách Mạng Nga, trở thành
mặt nổi, một tính chất của cuộc sống Xô viết. Vào năm 1939 dân
chúng tại Wilno và Lwow đột nhiên khám phá ra cái vẻ xám xịt và
xấu xí của cuộc sống này. Nhân đó, tôi bèn đưa ra một giả
thuyết để cắt nghĩa sự tự huỷ mình của nhà văn Stanislaw Ignacy
Witkiewicz. Ông tự tử, không phải vì bị khủng bố, nhưng mà là do
quá ghê tởm về những gì mà ông biết rằng chúng sẽ xẩy ra y
chang như thế, và đã được ông miêu tả nơi chương chót của cuốn
tiểu thuyết Vĩnh Biệt Mùa Thu.
Nhà văn Anh, George Orwell, chắc chắn là chưa đọc Witkiewicz, nhưng miêu
tả cuộc sống thường nhật dưới sự kiểm tra của 'Luật Lệ
Mới', y chang như của Witkiewicz, trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng
1984.
Cái không khí xám xịt, bẩn thỉu, chán chường, cái mùi vị toát ra
từ những quán cà phê rẻ tiền
Gọi đó là cảm tính 'mỹ
học' chẳng làm cho chúng ta rũ sạch nó. Tốt hơn, nên tự hỏi,
tại sao thảm như thế, cái cuộc đời không làm sao mà chịu đựng
nổi, và dưới những điều kiện như thế, con người rồi sẽ ra sao.
Từ đó, dẫn tới kết luận, điều cần thiết, là phải bảo vệ con
người, và nếu quá ư khẩn thiết, đành phải cuộn cho nó vài ba
cái vỏ, là những ảo tưởng.
Câu chuyện tởm mà Milosz kể trên cũng đã từng xẩy ra cho nhà thơ
Vũ Hoàng Chương.
Nghe kể lại, Cộng Sản bắt ông, biết ông nghiền, không cho tiếp tế
thuốc, tới lúc ông vật vã, không chịu nổi, chúng chìa thuốc ra
nhử, nói, viết tự kiểm đi, là có liền. Ông tởm quá, cầm
thuốc ném ra bên ngoài, rồi sau đó, lịm đi luôn.
Sau đây là một vài câu thơ của thi sĩ, sáng tác sau 1975.
Đôi dép râu dẫm nát đời son trẻ
Mũ tai bèo che khuất tương lai.
Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do.
Nhân đây cũng xin gióng tiếng chuông báo nguy, về tình trạng bịnh
nặng của phu nhân nhà thơ, qua học trò của nhà thơ lên tiếng kêu
gọi cứu trợ.
Ông Vũ Hoàng Tuân, con trai thi sĩ Vũ Hoàng Chương, làm nghề thầy
giáo, hiện phải nghỉ dậy học để lo cho mẹ, bà cụ bị ung thư nặng.
Địa chỉ:
Vũ Hoàng Tuân ngụ tại số 92/7H đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường
21, Quận Bình Thạnh, TPHCM.
NQT
[Nguyên bản tiếng Anh được in trong Step Across This Line, [Hãy bước qua
đường ranh này] tuyển tập những bài viết phi-giả tưởng 1992-2002,
ấn bản bìa mỏng của nhà xb Modern Library, 2003, website:
http:// www.modernlibrary.com

VƯƠNG TRÍ NHÀN
Cây bút, đời người
[Tập chân dung văn học]
Nhà xuất bản Trẻ 2002
Lời dẫn.
Với tư cách một người chuyên viết phê bình văn học có thể nói
tôi có nhiều may mắn, bởi trong suốt cuộc đời làm nghề, tôi
luôn có dịp được sống gần gũi với các nhà văn nhà thơ, ở
cùng cơ quan, hàng ngày trò chuyện với họ, cùng họ bàn bạc về
công việc văn chương cũng như việc đời. Nhiều người từng gặp
nhau ở nhận xét: bên cạnh các bài thơ cuốn truyện thì các nhà
văn còn thường xuyên sáng tác ra một tác phẩm độc đáo, đấy
là con người của chính ông ta tính cách của ông ta. ở đây tôi
đã gặp những mẫu người khác nhau. Có người may mắn được
trời phú cho khả năng đặt bút là thành văn, người hàng ngày
ngồi trước bàn kỳ khu dập dập xoá xoá mãi mới ra được mấy
dòng tầm thường. Có những người lúc nào cũng như trong cơn say
tưởng đời không còn ý nghĩa gì khác hơn là được viết,
được thiên hạ kêu là văn sĩ thi sĩ. Lại rất nhiều người hiểu
rằng tài năng của mình cũng vừa phải, nên bên cạnh lao động
trên trang giấy biết lo liệu hết sức cho những việc chẳng văn
chương chút nào song nhờ thế cũng có một đời sống khá giả.
Một thời gian dài, trong suốt những năm tháng ta quen gọi là thời
bao cấp, nhiều nhà văn ở ta làm việc như một tín đồ chỉ mải
viết mà không hề bận tâm tới cuộc sống của gia đình vợ con.
Trái lại thời gian gần đây lại có loại người chỉ đá gà vào
văn chương một chốc một nhát đủ tạo ra được một sự công
nhận là có viết văn rồi lấy danh hiệu nhà văn dùng vào những
việc kiếm sống khác.
Tóm lại bên cạnh kẻ ảo tưởng có người biết điều, cạnh kẻ
khôn có người dại, mà cái sự khôn dại này không dễ gì nhận
biết ngay được.
Nhìn vào cách sống của các đồng nghiệp, tôi như luôn luôn nghe
được những cuộc đối đáp nó không được cất lên thành lời
song là những cuộc đối thoại ngầm, đối thoại giữa những cuộc
đời:
- Sao anh trăn trở hoài về nghề như vậy? Tôi nghĩ sáng tác chẳng
qua như con chim ngứa cổ hát chơi.
- Phải nghĩ chứ, nghĩ và đọc nữa để xem đồng nghiệp trong nước
ngoài nước đã viết gì và còn chỗ nào họ chưa kịp viết thì mình
mới viết tiếp.
- Lam lũ viết thật nhiều in thật lắm mà làm gì, muốn làm giàu thì
đi làm nghề khác ở nghề này giàu sao nổi. Chi bằng tôi cứ chơi
dài, nhỡ xuất thần lại có bài thơ để cho đời sau không biết
chừng.
- Không anh bạn ơi, trời bắt tôi phải động bút hàng ngày, viết
cho tương lai là chuyện tôi không dám mơ mà chỉ lo viết cho người
hôm nay đọc. Nhưng mà nói thật nhé, tôi không thích cái cách sống
gặp đâu hay đấy, không chịu làm việc. Cứ cầu may vậy thì làm gì
có văn hay?
- Văn chương là một trò chơi.
- Đúng, nhưng đó là một trò chơi nghiêm túc, tức luôn luôn là
một cuộc phấn đấu.
...
Người đời đôi khi thành kiến rằng đám người viết văn chẳng
qua là một bọn dông dài. Trong khi ấy một số đồng nghiệp viết phê
bình của tôi (nhất là các nhà giáo) có xu thế lý tưởng hoá
những người viết văn xem cây bút nào cũng tâm huyết đầy mình.
Về phần tôi, tôi muốn nghĩ ngoài đời có bao nhiêu kiểu người
thì trong văn chương có bấy nhiêu kiểu người cầm bút, ở đây
cũng có thánh thần và có ma quỷ, và trừ một số tài năng sáng
chói, thì phần lớn người cầm bút cũng có cả những chỗ tầm
thường lẫn chỗ cao quý. Và điều quan trọng hơn: mỗi con người ở
đây là một tư cách một số phận. Không phải chỉ những tài năng
lớn tên tuổi được lưu lại trong lịch sử mới có một cuộc
đời thú vị. Mà ngay những nhà văn tạm gọi là bình thường
thực ra nhìn kỹ cũng có cách phấn đấu riêng những bi kịch riêng.
Có thể bảo những cuộc làm người của họ trong văn chương cũng
đáng được ghi chép lại.
Đây đó trong một vài tập sách mỏng đã in ra trước đây như
Cánh bướm và đoá hướng dương tôi đã thử tìm cách vẽ phác
ra gương mặt một vài nhà văn mà tôi có nghiên cứu.
Lần này, xin phép dược kính trình bạn đọc và các đồng nghiệp
một tập chân dung đầy đặn hơn. Có những người tôi đã thử
viết một hai lần, lần này xin tiếp tục đưa ra những cách giải
thích mới. Tôi biết các hoạ sĩ vẽ chân dung có thói quen trở đi
trở lại với những khuôn mặt đã quen, mỗi lần đưa ra một phác
thảo khác. Tôi mong những bài viết này của tôi cũng được đối
xử như vậy. Và trên hết cả tôi hy vọng không chỉ những người
được tôi nói tới mà các bạn văn khác và nói chung tất cả
những ai quan tâm đến đời sống văn học đương đại có thể tìm
thấy ở những trang sách sau đây những điều bổ ích.
21- 12- 2001
V. T. N
Mục lục
*Lời dẫn
1. Xuân Quỳnh, cuộc đời để lại trong thơ
2. Lưu Quang Vũ và một mảng đời một mảng thơ thường bị quên
lãng
3. Nghiêm Đa Văn và rất nhiều dang dở
4. Nguyễn Khải và nỗi hào hứng viết để chinh phục bạn đọc
5. Nguyễn Minh Châu, người viết văn và thời đại
6. Nguyễn Thành Long và một cuộc sống khác
7. Nhị Ca và một triết lý sống hợp lý
8. Thanh Tịnh, cuộc đời ngậm ngải tìm trầm
9. Tế Hanh, lời con đường quê
10. Nguyễn Tuân, người nhập vai
11. Tô Hoài và những nghiêm chỉnh của kiếp phù du
12. Xuân Diệu, sống để mài sắt nên kim
Lê Minh Hà giới thiệu
Đọc Cây bút, đời người
của Vương Trí Nhàn
Dương Tường phán, nhà văn chúng ta dốt quá. Nguyên Ngọc, lịch
sự, chi tiết, và cũng thực tế hơn, nói, nhà văn Việt Nam cần
kiến thức triết học. Ngay cả Mác Xít "của chúng ta", cũng
dởm, như là triết học, nhưng thực, như là vũ khí, để đi xâm
lược, không khác chi cây súng, trong sứ mệnh khai khóa của Tây
Phương trước đây.
Thơ phải có thép, nhà thơ phải biết xung phong, là vậy.
Nhưng, giả sử như nhà văn Việt Nam cần một kiến thức triết học,
những nhà phê bình Việt Nam còn cần hơn nhiều. Thất bại của Cây
Bút Đời Người, của Vương Trí Nhàn, nằm ngay ở lời dẫn, và
là cái điều mà ông gọi là may mắn:
Với tư cách một người chuyên viết phê bình văn học có thể nói
tôi có nhiều may mắn, bởi trong suốt cuộc đời làm nghề, tôi
luôn có dịp được sống gần gũi với các nhà văn nhà thơ, ở
cùng cơ quan, hàng ngày trò chuyện với họ, cùng họ bàn bạc về
công việc văn chương cũng như việc đời.
"Ru mãi ngàn năm", Benjamin đã từng nói tới những cuốn
sách ngủ những giấc ngủ dài ngàn năm, chẳng khi nào tỏ ra hối
hả, hoặc bực bội, vì chưa có độc giả nào ngó tới chúng. Như
thế nghĩa là gì?
Một trong ý nghĩa của nó, là cái may mắn tuyệt vời của độc giả
- tức nhà phê bình - không hề quen biết tác giả.
Cái may mắn quen biết ăn ngủ chung chạ với những nhà văn chỉ đẻ
ra những tác phẩm thuộc loại giai thoại, tiểu sử, trà dư tửu
hậu, bù khú, điếu đóm văn học, không phải phê bình văn học.
Những bàn bạc về công việc văn chương cũng như việc đời, cao
lắm cũng chỉ đẻ ra một thứ tiểu sử tác giả, dùng cái đó để
phê bình tác phẩm lại càng chết nữa, điều này Naipaul trong bài
diễn văn Nobel văn chương, đã nói rõ, khi viện Chống Sainte-Beuve của
Proust. Kundera thì ngang ngược hơn, khi cho rằng [trong Những Di Chúc Bị
Phản Bội], nhà văn phá căn nhà của mình [hiểu như tiểu sử, cuộc
sống riêng tư] để xây một căn nhà khác, là tác phẩm. Lục lọi
ba chuyện lẩm cẩm linh tinh..., may lắm tìm đuợc, chỉ một viên gạch!
Và một khi người đọc chú ý đến ba chuyện lẩm cẩm, thay vì Joseph
K, như vậy là Kafka lại chết thêm một lần chết nữa, một cái chết
sau cái chết.
Một trong những 'chân lý' về phê bình, là: nhà phê bình phải chủ
quan, chứ không khách quan!
Cái gọi là chủ quan với một nhà phê bình, chính là khung triết
học mà người đó dựa vào đó, để khám phá, khai thác, thám
hiểm tác phẩm. Thí dụ, Barthes, Genette của cơ cấu luận; Sartre, của
hiện sinh; Lukacs, Goldmann của Mác Xít; những nhà phê bình Nga của
trường phái hình thức luận.
Trên tất cả, nhà phê bình phải là một nhà văn. Đã qua rồi, cái
thời nhà phê bình ngự sử văn đàn, ngồi trên cao gật gù cái
đầu của mình, hoặc xoa đầu những nhà văn, "Được, được,
toa viết cái đó, moa chịu lắm", và sau đó, kéo nhau tới tiệm
ăn mừng, không phải tác phẩm, mà là lời phán, của nhà phê
bình!
Để nói lên sự vô thường bật ra từ một cõi văn chương
Shakespeare, Steiner, nhà phê bình-nhà văn [trong Nhân Văn], chú ý tới
"vết gỉ sét của một giọt sương trên lưỡi dao sáng ngời".
Nhưng một thi sĩ, hay một nhạc sĩ [Phạm Duy], thì lại nhận ra trong
vườn của mình, bông hồng nở thơm ngát vào buổi sáng nghe tin một
người thân quen tử trận.
Tác phẩm phê bình là một tác phẩm của tác phẩm, một bản văn
choàng lên một bản văn, là vậy.
Giống như phần thuận, và phần đảo của cùng một định lý, nếu
nhà phê bình phải là nhà văn, thì, nhà văn phải là một nhà phê
bình. Có thể, "văn" và "phê" đang ở vào tình trạng
giống như văn và thơ, theo nghĩa này: Cái gì không phải văn, là
thơ, và cái gì không phải thơ, là văn, như ông giáo sư triết học
của Molière trong Le Bourgois Gentilhomme tuyên bố [Tout ce qui n'est point prose
est vers, et tout ce qui n'est point vers est prose. Susan Sontag trích dẫn, trong
bài viết A Poet's Prose, Văn của Thi Sĩ, [trong tuyển tập essays Where The
Stress Falls, nhà xb Farrar, Strauss and Giroux, New York, 2002]
Thử nhìn lại Nobel mấy năm gần đây, là thấy rõ: Cao Hành Kiện,
Naipaul, Kertesz, Coetzee.. đều là những phê bình gia, tiểu luận gia bậc
thầy. Người kể lại kinh nghiệm, làm thế nào sống sót lịch sử
của đám đông Đông Phương, người xoáy mãi vào Lò Thiêu, hay
một góc bị bỏ quên của thiên đàng hạ giới [... that Africa could
never, in the European imagination, be the home of the earthly paradise, because Africa
was not a new world: Rằng Phi Châu chẳng bao giờ, trong trí tưởng tượng
của người Âu Châu, là nhà nơi thiên đàng hạ giới, vì nó
không phải là một thế giới mới. Coetzee: White Writing].
Nếu Việt Nam sẽ có một Nobel văn học, thì một ông nhà văn Mít như
thế đó phải là cái lương tâm mà đám Mít có thể tin cậy [The
writer - that conscience in which his fellow man can believe." Normal Manea].
Đã có một thời, NHT là cái lương tâm đó.
Như Kundera, Milosz, and Kis, Manea tượng trưng cho tinh thần Trung Âu, không
chỉ vì ông sinh ra tại đây như họ, mà còn vì tầm nhìn của ông về
mặt tâm linh và văn hóa, hay nói như Danilo Kis, mà ông đã từng
viện dẫn:
"Ý thức rằng mình thuộc về Trung Âu, là ý thức rằng sau
chót, tự thân của nó, ý thức này là một ý thức về sự ly
khai."
Solzhenitsyn cũng đã từng phán như vậy, khi dậy bảo Hội Nhà Văn
của những nhà văn nhà thơ nhà nước CS: Nhà văn phải làm sao
sử sự như một nhà nước trong một nhà nước.
Liệu một nhà văn, một tinh thần, một ý thức như thế, sẽ có, ở
trong nước?
Chủ
biên:
Phạm Chi Lan
lanpham4@comcast.net
Phụ biên tập:
Nguyễn Phước Nguyên
Nguyễn Tiến Dũng * Sung Nguyễn
Đinh Yên Thảo * Trịnh Thanh Thủy
Homepage:
http://vanhocnghethuat.org
E-mail: vhnt@vanhocnghethuat.org

Copyright © 2004
VHNT Publications. All rights reserved.
 
|